Chính sách tiền tệ với mục tiêu kiểm soát lạm phát của Việt Nam giai đoạn 2015 – 2019
tháng 10 11, 2023A. MỞ ĐẦU
Kinh tế luôn là nhân tố quan trọng đối với sự phát triển của mỗi quốc gia. Không một quốc gia nào có thể tồn tại và phát triển mà không đề cao vai trò của kinh tế. Theo lý thuyết kinh tế của Keynes, thị trường cần có sự tham gia của chính phủ với những chính sách phù hợp để điều tiết nền kinh tế. Thực tế cũng cho thấy, mọi quốc gia trên thế giới dù theo thể chế chính trị nào thì vẫn phải thực hiện những chính sách điều tiết thị trường phù hợp. Một trong những chính sách quan trọng nhất là CSTT.
Ở Việt Nam những năm gần đây, nền kinh tế đang dần khởi sắc. Ngược thời gian trở lại những năm đất nước rơi vào khủng hoảng với lạm phát phi mã ba chữ số mới thấy được hết tầm quan trọng của chính phủ trong điều hành CSTT. Lạm phát cao gây ra hàng loạt tác động tiêu cực cho xã hội, làm biến dạng cơ cấu sản xuất và việc làm...
Chính vì vậy, kiểm soát lạm phát là nhiệm vụ tất yếu. Và CSTT là công cụ quan trọng để thực hiện mục tiêu này. Sau đây, nhóm chúng em xin trình bày về vấn đề: “Chính sách tiền tệ với mục tiêu kiểm soát lạm phát của Việt Nam giai đoạn 2015 – 2019” để có được cái nhìn xác đáng nhất.
B. NỘI DUNG
I. Cơ sở lý thuyết
1. Chính sách tiền tệ
a) Khái niệm
Chính sách tiền tệ là một chính sách kinh tế vĩ mô do NHTW xây dựng và tổ chức thực hiện. Mục tiêu của CSTT là: Kiểm soát lạm phát, ổn định thị trường ngoại hối, tăng trưởng kinh tế và giảm tỉ lệ thất nghiệp.
b) Các công cụ của chính sách tiền tệ
Ta có: MS=mM.H
Trong đó:
MS: Mức cung tiền
mM: Số nhân tiền trong nền kinh tế
H: Tiền cơ sở
NHTW thực hiện chính sách tiền tệ thông qua các công cụ:
* Nghiệp vụ thị trường mở: Là những nghiệp vụ mà NHTW sử dụng để thay đổi lượng tiền cơ sở thông qua việc mua bán các chứng khoán có giá trên thị trường mở.
- Cơ chế tác động:
+ NHTW mua chứng khoán => H tăng => MS tăng
+ NHTW bán chứng khoán => H giảm => MS giảm
* Tỷ lệ dự trữ bắt buộc: Là tỷ lệ tiền dự trữ tối thiểu do NHTW quy định
- rb giảm => rr giảm => Cho vay tăng => D tăng => MS tăng
* Lãi suất chiết khấu: Là lãi suất mà NHTW áp dụng khi cho các NHTM vay tiền
- Lãi suất chiết khấu càng cao thì NHTM ít vay tiền của NHTW => NHTM tăng dự trữ để đáp ứng nhu cầu rút tiền của khách hàng => rr tăng => mM giảm và do đó MS giảm
- Lãi suất chiết khấu càng thấp thì khuyến khích các NHTM vay tiền từ NHTW => NHTM giảm dự trữ => rr giảm, mH tăng và do đó cung tiền tăng.
* Các công cụ điều tiết khác: Quy định trần lãi suất; quy định về dư nợ tín dụng, quy định về tỷ lệ cơ cấu tín dụng…
c) Các dạng của chính sách tiền tệ
* Chính sách tiền tệ mở rộng: NHTW mở rộng mức cung tiền trong nền kinh tế, làm i giảm xuống, qua đó làm tăng AD dẫn tới quy mô nền kinh tế được mở rộng, thu nhập tăng và tỉ lệ thất nghiệp giảm. Các biện pháp làm tăng mức cung tiền là:
- Mua vào trên thị trường chứng khoán
- Hạ thấp tỷ lệ dự trữ bắt buộc
- Hạ thấp mức lãi suất chiết khấu
- Các biện pháp hành chính làm tăng trưởng tín dụng tăng lên
* Chính sách tiền tệ thắt chặt: NHTW tác động nhằm giảm bớt mức cung tiền trong nền kinh tế làm cho lãi suất thị trường tăng lên. Thông qua đó giúp thu hẹp tổng cầu làm mức giá chung giảm xuống. Các biện pháp làm giảm mức cung tiền là:
- Bán ra trên thị trường chứng khoán
- Tăng mức dự trữ bắt buộc
- Tăng lãi suất chiết khấu
- Các biện pháp hành chính làm giảm tăng trưởng tín dụng
* Mô hình về chính sách tiền tệ (Phụ lục 1)
2. Lạm phát
a) Khái niệm
Lạm phát là sự tăng lên của mức giá chung trong nền kinh tế trong một khoảng thời gian nhất định.
b) Các nguyên nhân gây ra lạm phát
Thứ nhất, lạm phát do cầu kéo. Lạm phát do cầu kéo xảy ra khi tổng cầu tăng lên mạnh mẽ tại mức sản lượng hoặc vượt quá sản lượng tiềm năng. Bản chất của cầu kéo là chi tiêu quá nhiều tiền để mua một lượng cung hạn chế về hàng hóa có thể sản xuất được trong điều kiện thị trường lao động đã đạt cân bằng. Những đồng tiền của cầu đó sẽ cạnh tranh với nhau trước cung hàng hóa có hạn và đẩy giá chúng lên. Đồng thời, khi thị trường lao động đã đạt cân bằng, tỷ lệ thất nghiệp giảm, nhân công trở nên khan hiếm, lương cũng bị đẩy lên và quá trình lạm phát gia tăng.
Thứ hai, lạm phát do chi phí đẩy. Lạm phát do chi phí đẩy xảy ra khi chi phí sản xuất tăng đột ngột. Chi phí đẩy của các doanh nghiệp bao gồm tiền lương, giá cả nguyên liệu đầu vào, máy móc, thuế… Khi giá cả của một hoặc vài yếu tố này tăng lên thì tổng chi phí sản xuất của các xí nghiệp cũng tăng lên, vì thế mà giá thành sản phẩm cũng sẽ tăng lên nhằm bảo toàn lợi nhuận.
Thứ ba, lạm phát do cơ cấu. Với ngành kinh doanh có hiệu quả, doanh nghiệp tăng tiền công “danh nghĩa” cho người lao động. Nhưng cũng có những nhóm ngành kinh doanh không hiệu quả, doanh nghiệp cũng theo xu thế, buộc phải tăng tiền công cho người lao động. Nhưng vì những doanh nghiệp này kinh doanh kém hiệu quả, nên khi phải tăng tiền công, các doanh nghiệp này buộc phải tăng giá sản phẩm để đảm bảo mức lợi nhuận và làm phát sinh lạm phát.
Thứ tư, lạm phát do cầu thay đổi. Khi thị trường giảm cầu một mặt hàng nào đó, trong khi lượng cầu về mặt hàng khác lại tăng lên. Nếu thị trường có người cung cấp độc quyền và giá cả có tính chất cứng nhắc phía dưới (chỉ có thể tăng mà không thể giảm, như giá điện ở Việt Nam), thì mặt hàng mà lượng cầu giảm vẫn không giảm giá. Trong khi đó mặt hàng có lượng cầu tăng thì lại tăng giá. Kết quả là mức giá chung tăng lên, dẫn đến lạm phát.
Thứ năm, lạm phát do xuất khẩu. Khi xuất khẩu tăng, tổng cầu tăng cao hơn tổng cung, khi đó sản phẩm được thu gom cho xuất khẩu khiến lượng hàng cung cho thị trường trong nước giảm, khiến tổng cung trong nước thấp hơn tổng cầu. Khi tổng cung và tổng cầu mất cân bằng sẽ nảy sinh lạm phát.
Thứ sáu, lạm phát do nhập khẩu. Khi giá hàng hóa nhập khẩu tăng thì giá bán sản phẩm trong nước sẽ tăng lên. Khi mức giá chung bị giá nhập khẩu đội lên sẽ hình thành lạm phát.
Thứ bảy, lạm phát tiền tệ. Khi cung tiền trong nước tăng, chẳng hạn do NHTW mua ngoại tệ để giữ cho đồng tiền trong nước khỏi mất giá so với ngoại tệ; hay do NHTW mua công trái làm cho lượng tiền trong lưu thông tăng lên cũng là nguyên nhân gây ra lạm phát.
c) Ảnh hưởng của lạm phát đến kinh tế
Lạm phát tác động đến nền kinh tế của một đất nước theo nhiều mặt gồm cả tích cực và tiêu cực.
Lạm phát không phải bao giờ cũng gây hại cho nền kinh tế. Khi tốc độ lạm phát vừa phải (2-5%) ở các nước phát triển và dưới 10% ở các nước đang phát triển sẽ mang lại một số lợi ích cho nền kinh tế như: Kích thích tiêu dùng, vay nợ, đầu tư, giảm thất nghiệp; cho phép chính phủ có thêm khả năng lựa chọn các công cụ kích thích đầu tư vào những lĩnh vực kém ưu tiên thông qua mở rộng tín dụng, giúp phân phối lại thu nhập và các nguồn lực trong xã hội.
Tuy nhiên, lạm phát cũng gây ra nhiều tác động tiêu cực.
Khi tỷ lệ lạm phát tăng cao, muốn cho lãi suất ổn định và dương thì lãi suất danh nghĩa phải tăng lên theo tỷ lệ lạm phát. Việc tăng lãi suất danh nghĩa sẽ dẫn đến hậu quả là suy thoái kinh tế và thất nghiệp gia tăng.
Khi lạm phát tăng lên mà thu nhập danh nghĩa không thay đổi thì làm cho thu nhập thực tế giảm xuống. Lạm phát không chỉ làm giảm giá trị thật của những tài sản không có lãi mà nó còn làm hao mòn giá trị của những tài sản có lãi. Từ đó, thu nhập ròng của của người cho vay bị giảm xuống, ảnh hưởng rất lớn đến kinh tế xã hội: suy thoái kinh tế, thất nghiệp gia tăng, đời sống của người lao động trở nên khó khăn hơn, làm giảm lòng tin của dân chúng đối với Chính phủ...
Khi lạm phát tăng lên, giá trị của đồng tiền giảm xuống, người đi vay sẽ có lợi trong việc vay vốn trả góp để đầu cơ kiếm lợi. Do vậy càng tăng thêm nhu cầu tiền vay trong nền kinh tế, đẩy lãi suất lên cao. Lạm phát tăng cao còn khiến những người giàu có dùng tiền vơ vét hàng hoá, tài sản, nạn đầu cơ xuất hiện, giá hàng hoá càng đẩy lên cao hơn. Cuối cùng, những người dân nghèo vốn đã nghèo càng trở nên khốn khó hơn. Tình trạng lạm phát như vậy có thể gây rối loạn trong nền kinh tế và tạo ra khoảng cách lớn về thu nhập, về mức sống giữa người giàu và người nghèo.
Lạm phát cao làm cho Chính phủ được lợi do thuế thu nhập đánh vào người dân, nhưng những khoản nợ nước ngoài sẽ trở nên trầm trọng hơn.
3. Mối quan hệ giữa tiền tệ và lạm phát
Khi thị trường tiền tệ cân bằng thì:
Xét trong dài hạn lãi suất thực tế (i) và sản lượng thực tế (Y) đạt mức cân bằng, cầu tiền thực tế (MDr) không đổi, do vậy cũng sẽ không thay đổi. Nếu lượng cung tiền danh nghĩa (MSn) tăng lên thì giá cả (P) cũng sẽ tăng lên với tỉ lệ tương ứng, tức là có lạm phát và tỷ lệ lạm phát bằng tỷ lệ tăng tiền danh nghĩa. Như vậy, lạm phát là một hiện tượng tiền tệ. Điều này xảy ra trong thực tế khi nền kinh tế gặp phải cơn sốc như giá của các yếu tố đầu vào tăng lên làm cho lượng cung tiền thực tế (MSr) nhất thời giảm xuống.
4. Kiểm sát lạm phát bằng chính sách tiền tệ
Công cụ chủ yếu để kiềm chế lạm phát là thực thi một CSTT hợp lí: tăng lượng cung tiền hàng năm với mức thích hợp, xây dựng và sử dụng ngày càng có hiệu quả hơn các công cụ CSTT (NVTTM, tái chiết khấu...), kiên quyết không bù đắp thâm hụt ngân sách bằng biện pháp phát hành tiền.
Dự trữ bắt buộc
Khi lạm phát cao, NHTW nâng tỷ lệ dự trữ bắt buộc, khả năng cho vay và khả năng thanh toán của các ngân hàng bị thu hẹp (do số nhân tiền tệ giảm), khối lượng tín dụng trong nền kinh tế giảm (cung tiền giảm) dẫn tới lãi suất tăng, đầu tư giảm do đó tổng cầu giảm và làm cho giá giảm (tỷ lệ lạm phát giảm).
Ngược lại, nếu NHTW hạ tỷ lệ dự trữ bắt buộc, thì cung về tín dụng của các NHTM tăng lên, khối lượng tín dụng và khối lượng thanh toán có xu hướng tăng, đồng thời tăng xu hướng mở rộng khối lượng tiền. Việc tăng cung tiền dẫn tới tăng giá (tỷ lệ lạm phát tăng).
Công cụ dự trữ bắt buộc mang tính hành chính áp đặt trực tiếp, đầy quyền lực và cực kỳ quan trọng để cắt cơn sốt lạm phát, khôi phục hoạt động kinh tế trong trường hợp nền kinh tế phát triển chưa ổn định và khi các công cụ thị trường mở, tái chiết khấu chưa đủ mạnh để có thể đảm trách điều hoà mức cung tiền tệ cho nền kinh tế.
Lãi suất chiết khấu
Lãi suất chiết khấu đặt ra trong từng thời kỳ có tác dụng hướng dẫn, chỉ đạo lãi suất tín dụng trong nền kinh tế giai đoạn đó. Khi NHTW nâng lãi suất chiết khấu buộc các NHTM cũng phải nâng lãi suất tín dụng của mình lên để không bị lỗ vốn. Do lãi suất tín dụng tăng lên, cầu về tín dụng giảm và kéo theo giảm cầu về tiền tệ (nhu cầu về giữ tiền của người dân giảm đi). Do đó, đầu tư giảm đi dẫn tới tổng cầu giảm và làm cho giá giảm (tỷ lệ lạm phát giảm).
Ngược lại, NHTW kích thích tăng cầu tiền tệ và làm cho giá tăng (tỷ lệ lạm phát tăng).
Nghiệp vụ thị trường mở
Qua nghiệp vụ thị trường mở, NHTW chủ động phát hành tiền vào lưu thông hoặc rút bớt tiền khỏi lưu thông bằng cách mua bán các loại trái phiếu ngân hàng quốc gia nhằm tác động đến khối lượng tiền dự trữ trong quỹ dự trữ của các NHTM và các tổ chức tài chính, hạn chế tiềm năng tín dụng và thanh toán của các ngân hàng này, qua đó điều khiển khối lượng tiền trong thị trường tiền tệ. Khối lượng tiền tệ ảnh hưởng trực tiếp tới tỷ lệ lạm phát, việc thay đổi cung tiền tệ sẽ làm thay đổi tỷ lệ lạm phát.
Đây là công cụ cực kỳ quan trọng của nhiều NHTW, và được coi là vũ khí sắc bén nhất đem lại sự ổn định kinh tế nói chung, ổn định lạm phát nói riêng.
Lãi suất
Khi có lạm phát, NHTW tăng lãi suất tiền gửi. Vì thế người dân và các công ty sẽ thấy gửi tiền vào ngân hàng có lợi hơn là đầu tư vào sản xuất kinh doanh. Từ đó giảm cầu tiền, dẫn đến giảm lạm phát.
Hạn mức tín dụng
Hạn mức tín dụng là khối lượng tín dụng tối đa mà NHTW có thể cung ứng cho tất cả các NHTM trong thời kỳ nhất định phù hợp với mức tăng trưởng kinh tế của thời kỳ.
Khi hạn mức tín dụng giảm, cung tiền giảm, do đó tổng đầu tư giảm làm cho tổng cầu giảm và cuối cùng là giá giảm.
II. Thực tiễn chính sách tiền tệ với mục tiêu kiểm soát lạm phát của Việt Nam trong giai đoạn 2015 – 2019
1. Mục tiêu kiểm soát lạm phát của Việt Nam giai đoạn 2015 – 2019
Kiểm soát lạm phát luôn là một mục tiêu quan trọng của Quốc hội và Chính phủ Việt Nam trong những năm qua. Lạm phát đứng thứ hai trong “tứ giác mục tiêu” kinh tế: tăng trưởng nhanh, lạm phát thấp, cán cân thanh toán có số dư, thất nghiệp ít. Kiểm soát được lạm phát giúp ổn định nền kinh tế vĩ mô, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và sản xuất phát triển. Thực tế đã chứng minh, mỗi lần lạm phát tăng cao, đều xảy ra bất ổn về kinh tế, kéo theo những bất ổn về xã hội.
Trước Đổi mới 1986, nền kinh tế nước ta đã trải qua một cuộc khủng hoảng nghiêm trọng. Lạm phát phi mã kéo dài. Bội chi ngân sách dẫn đến phải in thêm tiền và những sai lầm trong cải cách “giá-lương-tiền” năm 1985 đã làm cho siêu lạm phát xuất hiện, lên tới 774,7% (1986) và kéo dài với mức 3, rồi 2 chữ số cho đến đầu thập niên 90.
Năm 2007, do chi phí sản xuất và giá lương thực, thực phẩm tăng cao, cộng thêm CSTK và CSTT liên tục mở rộng trong những năm 2001 – 2006 khiến cho lạm phát tăng lên mức 12,63%. Lạm phát cao kỉ lục vào năm 2008 với mức tăng 22,97%.
Do tác động của khủng hoảng kinh tế toàn cầu 2008 – 2009, lạm phát năm 2009 giảm xuống 6,88%. Tuy nhiên, thời gian sau đó đã tăng mạnh trở lại, đạt khoảng 11,75% năm 2010 và 18,52% năm 2011, sau khi Việt Nam và nhiều nước trên thế giới tung ra gói kích cầu nhằm phục hồi kinh tế sau khủng hoảng, đẩy giá trong nước tăng cao.
Từ năm 2012 đến nay, lạm phát đã giảm mạnh, sau khi Chính phủ thực hiện quyết liệt chính sách kiềm chế lạm phát, ổn định nền kinh tế vĩ mô, trong đó chủ chốt là CSTT thắt chặt và CSTK thu hẹp.
Trong giai đoạn 2015 – 2019, với tư duy “kiểm soát lạm phát theo mục tiêu” (trên cơ sở mục tiêu được xác định một cách hợp lý như thấp hơn tốc độ tăng trưởng kinh tế, thấp hơn lãi suất tiết kiệm…), Chính phủ đã bám sát mục tiêu cả năm, theo dõi chặt chẽ diễn biến, tốc độ tăng giảm CPI theo thời gian trong năm để chủ động, linh hoạt điều hành các giải pháp từ tăng trưởng tín dụng, điều hành tỉ giá, mua ngoại tệ, tăng dự trữ ngoại hối, điều hành giá dịch vụ…
Theo Hiến pháp nước CHXHCNVN 2013, thẩm quyền quyết định mục tiêu, chỉ tiêu, chính sách, nhiệm vụ cơ bản phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, quyết định chính sách cơ bản về tài chính, tiền tệ quốc gia thuộc về Quốc hội.
Khoản 4 điều 3 Luật NHNN Việt Nam 2010 quy định: “Chính phủ trình Quốc hội quyết định chỉ tiêu lạm phát hằng năm. Thủ tướng Chính phủ, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước quyết định việc sử dụng các công cụ và biện pháp điều hành để thực hiện mục tiêu chính sách tiền tệ quốc gia theo quy định của Chính phủ.”
Theo kiến nghị của Chính phủ, hằng năm, tại kỳ họp Quốc hội cuối năm, Quốc hội thông qua Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của năm kế tiếp, trong đó có quy định mức chỉ tiêu tốc độ tăng giá tiêu dùng bình quân của cả năm.
Trong nghị quyết số 77/2014/QH13 về kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 2015, Quốc hội đã đề ra chỉ tiêu “Tốc độ tăng giá tiêu dùng (CPI) khoảng 5%” trong năm 2015.
Tại kỳ họp thứ X, Quốc hội khóa XIII tháng 4/2016, Quốc hội đã thông qua nghị quyết số 142/2016/QH13 về kế hoạch phát triển kinh tế xã hội 5 năm 2016 – 2020. Một trong số những nhiệm vụ được đề ra là: “Phối hợp hiệu quả giữa chính sách tiền tệ, chính sách tài khóa và các chính sách khác để bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô và các cân đối lớn của nền kinh tế. Thực hiện chính sách tiền tệ linh hoạt, đảm bảo giá trị đồng tiền Việt Nam, phấn đấu kiểm soát lạm phát dưới 4% các năm đầu kỳ kế hoạch và 3% vào năm 2020, điều hành lãi suất linh hoạt theo diễn biến lạm phát, điều hành tỷ giá theo tín hiệu thị trường.”
Trong các năm 2016, 2017, 2018, 2019, mỗi năm Quốc hội đều đề ra mức chỉ tiêu tốc độ tăng giá tiêu dùng bình quân, lần lượt là: dưới 5% (năm 2016) , khoảng 4% (năm 2017) , khoảng 4% (năm 2018) , khoảng 4% (năm 2019)
2. Chính sách tiền tệ của Việt Nam giai đoạn 2015 – 2019
a) Công cụ nghiệp vụ thị trường mở
Năm 2015, việc ban hành Thông tư 42/2015/TT-NHNN quy định về NVTTM và các văn bản pháp luật có liên quan trước đó đã góp phần hoàn thiện khung pháp lý cho các giao dịch trên NVTTM, đảm bảo phù hợp với quy định tại Luật NHNN 2010 và thông lệ chung quốc tế.
Việc không giới hạn thời hạn giao dịch trên NVTTM (có thể giao dịch với kỳ hạn ngắn hạn, trung và dài hạn), tùy thuộc theo mục tiêu điều hành CSTT đã làm tăng tính chủ động và hiệu lực của công cụ NVTTM trong việc điều tiết thanh khoản trên thị trường tiền tệ, qua đó tăng khả năng điều tiết và định hướng thị trường của NHNN.
Hạ tầng công nghệ trên NVTTM được NHNN đầu tư đổi mới và cải tiến nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động, đảm bảo phù hợp với xu hướng công nghệ hóa toàn cầu. Từ chỗ thu thập thông tin để đánh giá, dự báo vốn khả dụng và tổ chức đấu thầu bằng thủ công mất nhiều thời gian, NHNN đã chuyển sang ứng dụng công nghệ thông tin, cho phép giao dịch kết nối trực tuyến giữa NHNN và các thành viên thị trường. Phần mềm hệ thống giao dịch FSMIMS được đưa vào vận hành từ tháng 6/2016 đã tạo điều kiện cho các thành viên tham gia giao dịch nhanh chóng, thuận tiện, các giao dịch chuyển quyền sở hữu GTCG, chuyển tiền mua - bán được xử lý ngay sau khi giao dịch với khối lượng lớn.
Hàng hóa giao dịch rất đa dạng và phong phú, gồm các GTCG có tính thanh khoản cao, phù hợp với thông lệ chung của thế giới, chủ yếu là Trái phiếu Kho bạc, Tín phiếu Kho bạc, Tín phiếu NHNN, Trái phiếu Chính phủ bảo lãnh (do Ngân hàng Phát triển Việt Nam và Ngân hàng Chính sách xã hội phát hành); Trái phiếu Chính quyền địa phương của một số tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và các GTCG khác được phép giao dịch theo quy định của NHNN.
NVTTM phát triển đã thu hút nhiều TCTD tham gia, giúp tăng khả năng lan tỏa tác động của CSTT đến thị trường tiền tệ và hệ thống TCTD.
b) Công cụ tỉ lệ dự trữ bắt buộc
Năm 2015, tỷ lệ DTBB được quy định tại Quyết định số 379/QĐ-NHNN ngày 24/02/2009 về tỷ lệ DTBB của các TCTD và Quyết định số 1925/QĐ-NHNN ngày 26/08/2011 về điều chỉnh tỷ lệ DTBB bằng ngoại tệ đối với các TCTD. (Phụ lục 2)
Cuối năm 2015, NHNN đã ban hành Thông tư số 23/2015/TT-NHNN về điều chỉnh tỷ lệ DTBB đối với các TCTD có hiệu lực từ ngày 28/1/2016. Theo thông tư này, bắt đầu từ quý I/2016, các nhóm TCTD thuộc diện kiểm soát đặc biệt, tỷ lệ DTBB sẽ được xem xét giảm về mức tối thiểu 0%. Các TCTD đang thực hiện phương án cơ cấu lại đã được phê duyệt, TCTD tham gia cơ cấu lại TCTD yếu kém được chỉ định, NHNN sẽ xem xét giảm tỷ lệ DTBB theo từng TCTD cụ thể.
Ngày 29/05/2018, NHNN đã ban hành quyết định 1158/QĐ-NHNN về tỷ lệ DTBB đối với TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, áp dụng từ ngày 01/06/2018. (Phụ lục 3)
Cuối năm 2019, NHNN ban hành Thông tư 30/2019/TT-NHNN, quy định về thực hiện DTBB của các TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài. Thông tư này quy định cụ thể cơ chế cho phép những trường hợp TCTD không phải thực hiện DTBB, hoặc được giảm tỷ lệ thực hiện. Điều 3 Thông tư 30 quy định rõ ba nhóm TCTD không thực hiện DTBB: các TCTD được kiểm soát đặc biệt, TCTD chưa khai trương hoạt động và TCTD được chấp thuận giải thể hoặc có quyết định mở thủ tục phá sản hoặc có quyết định thu hồi Giấy phép của cơ quan có thẩm quyền. TCTD hỗ trợ tham gia hỗ trợ tái cơ cấu hệ thống được giảm 50% tỷ lệ DTBB.
c) Công cụ lãi suất chiết khấu
Năm 2015, các mức lãi suất điều hành được giữ nguyên theo Quyết định số 496/QĐ-NHNN ngày 14/03/2014 về lãi suất tái cấp vốn, lãi suất tái chiết khấu, lãi suất cho vay qua đêm trong thanh toán điện tử liên ngân hàng và cho vay bù đắp thiếu hụt vốn trong thanh toán bù trừ của NHNN Việt Nam đối với các ngân hàng. Theo đó, mức lãi suất chiết khấu là 4,5%/năm.
Năm 2016, mức lãi suất chiết khấu vẫn giữ nguyên 4,5%/năm nhưng lại cao hơn nhiều so với lãi suất trên thị trường liên ngân hàng. Một số TCTD yếu kém gặp khó khăn trong việc vay vốn trên thị trường liên ngân hàng (TT2) do thiếu tín nhiệm và không đủ tài sản đảm bảo để thực hiện vay đối ứng. Do đó, các ngân hàng này phải huy động trên thị trường tín dụng (TT1) với lãi suất cao hơn các NHTM lớn từ 1,5% đến 2%.
Sang năm 2017, Thống đốc NHNN đã ra quyết định giảm lãi suất điều hành từ ngày 10/7/2017. Cụ thể, theo Quyết định số 1424/QĐ-NHNN ngày 7/7/2017, lãi suất chiết khấu giảm còn 4,25%/năm. Ngay sau chỉ đạo của Thống đốc, lãi suất cho vay của các TCTD đã đồng loạt giảm. Mặt bằng lãi suất cho vay đối với các lĩnh vực ưu tiên ở mức 6-6,5%/năm với ngắn hạn, lãi suất cho vay trung và dài hạn phổ biến với các lĩnh vực ưu tiên ở mức 9-10%/năm. Lãi suất cho vay các lĩnh vực sản xuất kinh doanh thông thường ở mức 6,8-9%/năm đối với ngắn hạn; 9,3-11%/năm đối với trung và dài hạn.
Năm 2018, lãi suất chiết khấu vẫn giữ nguyên ở mức 4,25%/năm như nửa cuối 2017.
Giai đoạn cuối 2018 - đầu 2019, kinh tế thế giới diễn biến kém thuận lợi, nhiều NHTW các nước, trong đó có Cục dự trữ liên bang Mỹ, NHTW Châu Âu đã giảm lãi suất điều hành. Từ ngày 16/9/2019, NHNN Việt Nam quyết định điều chỉnh giảm lãi suất theo Quyết định 1870/QĐ-NHNN ngày 12/9/2019, cụ thể lãi suất tái chiết khấu giảm từ 4,25% xuống 4%/năm. Việc giảm lãi suất của NHNN là thông điệp chính sách quan trọng theo hướng nới lỏng tiền tệ. Tuy nhiên, mức giảm lãi suất khá nhỏ, chỉ 0,25% cho thấy NHNN khá thận trọng trong việc nới lỏng. Điều này là phù hợp với tình hình thế giới khi nhiều nước nới lỏng tiền tệ để kích thích kinh tế khi thương chiến Mỹ - Trung chưa có dấu hiệu chấm dứt và nhiều diễn biến kinh tế phức tạp trên toàn cầu.
3. Một số kết quả đạt được
Thứ nhất, điều hành đồng bộ, linh hoạt các công cụ CSTT để ổn định thị trường tiền tệ, ngoại hối và góp phần kiểm soát lạm phát.
NHNN đã điều hành đồng bộ, linh hoạt các công cụ CSTT để kiểm soát tổng phương tiện thanh toán và tín dụng ở mức hợp lý, đảm bảo duy trì lạm phát cơ bản ổn định. Kết quả, lạm phát bình quân ở mức thấp (năm 2015: 0,63%; năm 2016: 2,66%; năm 2017: 3,53%; năm 2018: 3,54%; năm 2019: 2,79%). Kỳ vọng kiểm soát lạm phát theo chỉ tiêu của Quốc hội đặt ra; lòng tin của thị trường vào cam kết của Chính phủ, NHNN trong việc kiểm soát lạm phát được củng cố.
Thứ hai, điều hành tín dụng theo hướng mở rộng tín dụng an toàn, hiệu quả, tập trung vào lĩnh vực sản xuất kinh doanh, kiểm soát chặt chẽ tín dụng đối với các lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro, vừa hỗ trợ kiểm soát lạm phát, vừa hỗ trợ tăng trưởng kinh tế ở mức hợp lý.
Giai đoạn này, căn cứ mục tiêu tăng trưởng và lạm phát, NHNN xây dựng chỉ tiêu tín dụng định hướng, có điều chỉnh phù hợp với tình hình thực tế. Kết quả, tín dụng được kiểm soát theo chỉ tiêu định hướng, một mặt giúp kiểm soát lạm phát, một mặt hỗ trợ tăng trưởng kinh tế. Tăng trưởng kinh tế ngày càng được cải thiện (năm 2015: 6,89%; năm 2016: 6,21%, năm 2017: 6,81%, năm 2018: 7,08%; năm 2019: 7,02%).
Cơ cấu tín dụng tập trung vào các lĩnh vực sản xuất, kinh doanh là chủ yếu, tín dụng đối với lĩnh vực rủi ro được kiểm soát hợp lý (tỷ trọng tín dụng đối với lĩnh vực kinh doanh bất động sản năm 2016 chiếm 6,61%, năm 2017 chiếm 6,69%, 2018 chiếm 13,25% và 2019 chiếm 19,14%; tín dụng đối với lĩnh vực kinh doanh chứng khoán năm 2017 chiếm 0,38%, năm 2018 chiếm 0,4%).
Đóng góp của tín dụng đối với tăng trưởng kinh tế được cải thiện qua từng năm, thể hiện qua chỉ số phần trăm tăng trưởng tín dụng cần thiết để có được 1% tăng trưởng GDP, chỉ số này đang trong xu hướng giảm (2016: 2,94%; 2017: 2,68%; 2018: 1,96%).
Thứ ba, điều hành lãi suất phù hợp với diễn biến kinh tế vĩ mô, tiền tệ và diễn biến lạm phát, tạo điều kiện cho các TCTD duy trì ổn định mặt bằng lãi suất trong điều kiện lãi suất các nước trên thế giới đang tăng lên.
Thanh khoản của hệ thống TCTD được đảm bảo, dư thừa ở mức hợp lý, lãi suất liên ngân hàng về cơ bản được duy trì ổn định ở mức thấp, vừa hỗ trợ ổn định mặt bằng lãi suất huy động và cho vay, vừa hỗ trợ Bộ Tài chính phát hành thành công trái phiếu chính phủ với khối lượng lớn cho các kỳ hạn dài lên đến 15 - 30 năm, lãi suất trái phiếu chính phủ các kỳ hạn giảm mạnh từ 1 - 2,5%/năm so với cuối năm 2016.
Thứ tư, tỷ giá, thị trường tiền tệ, ngoại hối về cơ bản ổn định, thông suốt.
Nhờ các biện pháp chủ động, linh hoạt, cũng như các yếu tố tương đối thuận lợi trong và ngoài nước, thị trường ngoại tệ những năm vừa qua nhìn chung ổn định, thanh khoản ngoại tệ toàn hệ thống tốt, nhu cầu ngoại tệ hợp pháp của doanh nghiệp và người dân được đáp ứng đầy đủ kịp thời; NHNN mua được lượng lớn ngoại tệ để tăng dự trữ ngoại hối nhà nước, qua đó góp phần giữ ổn định thị trường ngoại tệ, tỷ giá theo mục tiêu đề ra.
4. Định hướng phát triển trong tương lai
Thứ nhất, điều hành CSTT chủ động, linh hoạt, phối hợp chặt chẽ với CSTK và các chính sách kinh tế vĩ mô khác để thực hiện mục tiêu kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, hỗ trợ tăng trưởng kinh tế bền vững.
Thứ hai, rà soát, đánh giá tác động và hiệu quả, từ đó sửa đổi, bổ sung, ban hành các quy định ổn định tiền tệ theo hướng bảo đảm thực hiện CSTT theo mục tiêu kiểm soát lạm phát, phối hợp có hiệu quả giữa CSTT, CSTK và các chính sách khác để thực hiện thành công các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội hàng năm và 5 năm; tăng sự độc lập của NHNN trong điều hành CSTT.
Thứ ba, cần bảo đảm sự phối hợp giữa NHNN và Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Công thương nhằm tạo sự đồng bộ, nhất quán giữa CSTT với CSTK và các chính sách vĩ mô khác.
Thứ tư, điều hành chính sách tín dụng theo hướng nâng cao chất lượng tín dụng; tạo điều kiện thuận lợi trong việc tiếp cận vốn tín dụng của doanh nghiệp và người dân; hạn chế cho vay bằng ngoại tệ; giảm dần tỷ lệ tín dụng ngoại tệ, tiến tới ngừng cho vay ngoại tệ để chậm nhất đến năm 2030 cơ bản khắc phục tình trạng đô la hóa trong nền kinh tế.
Thứ năm, hoàn thiện thể chế chính sách, tạo điều kiện thuận lợi để các TCTD cung ứng đầy đủ, đa dạng các sản phẩm dịch vụ tài chính, nhất là sản phẩm dịch vụ ngân hàng phi tín dụng và các sản phẩm dịch vụ hiện đại dựa trên ứng dụng công nghệ số.
Thứ sáu, điều hành lãi suất phù hợp với diễn biến kinh tế vĩ mô; điều hành CSTT chuyển dần từ điều hành theo khối lượng tiền sang chủ yếu điều hành theo giá; dỡ bỏ dần các biện pháp hành chính về lãi suất khi điều kiện cho phép.
Thứ bảy, điều hành NVTTM theo hướng là công cụ chủ yếu điều tiết vốn khả dụng của các TCTD, nhằm đạt được mục tiêu CSTT trong từng thời kỳ;
Thứ tám, điều hành tỷ giá linh hoạt, phù hợp với diễn biến thị trường; tiếp tục thực hiện chế độ tỷ giá thả nổi có quản lý.
Cuối cùng, NHNN cần tiếp tục hoàn thiện khuôn khổ pháp lý, hoạt động ngân hàng trên cơ sở tuân thủ các quy luật của kinh tế thị trường, phù hợp thông lệ quốc tế, hạn chế sử dụng, tiến tới ngừng hẳn các biện pháp hành chính; từng bước đổi mới khuôn khổ CSTT.
C. KẾT LUẬN
Trên đây là quan điểm của nhóm em về CSTT với mục tiêu kiểm soát lạm phát ở Việt Nam giai đoạn 2015 – 2019. Qua đây, chúng em xin khẳng định rằng vai trò của CSTT trong kiểm soát lạm phát là vô cùng quan trọng. CSTT ảnh hưởng rất lớn đến việc điều tiết kinh tế của Chính phủ. Tuy nhiên, để kiểm soát lạm phát – một vấn đề khó khăn và phức tạp thì không chỉ cần sử dụng CSTT mà còn phải kết hợp những chính sách khác như CSTK, điều chỉnh tí giá hối đoái... Hơn nữa, lạm phát không phải luôn luôn là tiêu cực. Việc kiểm soát mức lạm phát hợp lí sẽ giúp nền kinh tế tăng trưởng và ổn định.
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Bộ Giáo dục và Đào tạo, Giáo trình Kinh tế học vĩ mô, NXB Giáo dục Việt Nam, 2011
2. Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013
3. Nghị quyết số 98/2015/QH13 về Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 2016
4. Nghị quyết số 23/2016/QH14 về Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 2017
5. Nghị quyết số 47/2017/QH14 về Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 2018
6. Nghị quyết số 69/2018/QH14 về Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 2019
7. Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam 2010
8. Thông tư 30/2019/TT-NHNN quy định về thực hiện dự trữ bắt buộc của các tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài
9. Thông tư 42/2015/TT-NHNN quy định về NVTTM
10. Quyết định 379/QĐ-NHNN về tỷ lệ DTBB của các TCTD
11. Quyết định 1925/QĐ-NHNN về điều chỉnh tỷ lệ DTBB bằng ngoại tệ đối với các TCTD
12. Thông tư 23/2015/TT-NHNN về điều chỉnh tỷ lệ DTBB đối với các TCTD
13. Quyết định 1158/QĐ-NHNN về tỷ lệ DTBB đối với TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài
14. Quyết định 496/QĐ-NHNN về lãi suất tái cấp vốn, lãi suất tái chiết khấu, lãi suất cho vay qua đêm trong thanh toán điện tử liên ngân hàng và cho vay bù đắp thiếu hụt vốn trong thanh toán bù trừ của NHNN Việt Nam đối với các ngân hàng.
15. Quyết định 1870/QĐ-NHNN về lãi suất tái cấp vốn, lãi suất tái chiết khấu, lãi suất cho vay qua đêm trong thanh toán điện tử liên ngân hàng và cho vay bù đắp thiếu hụt vốn trong thanh toán bù trừ của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đối với các ngân hàng.
16. TS. Lê Quốc Phong, Thuận lợi và thách thức trong kiểm soát lạm phát, 2017
http://tapchitaichinh.vn/nghien-cuu-trao-doi/thuan-loi-va-thach-thuc-trong-kiem-soat-lam-phat-118875.html
17. Nguyễn An Lương, Một số nhìn nhận về nguyên nhân lạm phát Việt Nam, 2008
https://www.sbv.gov.vn/webcenter/portal/vi/menu/fm/ddnhnn/nctd/nctd_chitiet?leftWidth=20%25&showFooter=false&showHeader=false&dDocName=CNTHWEBAP01162524876&rightWidth=0%25¢erWidth=80%25&_afrLoop=6902668576171211#%40%3F_afrLoop%3D6902668576171211%26centerWidth%3D80%2525%26dDocName%3DCNTHWEBAP01162524876%26leftWidth%3D20%2525%26rightWidth%3D0%2525%26showFooter%3Dfalse%26showHeader%3Dfalse%26_adf.ctrl-state%3D17ac5y3lzj_9
18. Dương Ngọc, 3 lần khủng hoảng và 3 lần chuyển vị thế của Việt Nam, 2010
http://vneconomy.vn/thoi-su/3-lan-khung-hoang-va-3-lan-chuyen-vi-the-cua-viet-nam-20105194034740.htm
19. Hiệu quả của các giải pháp điều hành chính sách tiền tệ, 2015
http://tapchitaichinh.vn/kinh-te-vi-mo/hieu-qua-cua-cac-giai-phap-dieu-hanh-chinh-sach-tien-te-103057.html
20. ThS. Chu Nga Thanh, Hoàn thiện nghiệp vụ thị trường mở trong quá trình đổi mới chính sách tiền tệ ở Việt Nam, 2017
http://tapchitaichinh.vn/nghien-cuu--trao-doi/trao-doi-binh-luan/hoan-thien-nghiep-vu-thi-truong-mo-trong-qua-trinh-doi-moi-chinh-sach-tien-te-o-viet-nam-125575.html
21. Mai Ngọc, 8 thành tựu nổi bật của chính sách tiền tệ ngân hàng năm 2015, 2015
https://cafef.vn/tai-chinh-ngan-hang/8-thanh-tuu-noi-bat-cua-chinh-sach-tien-te-ngan-hang-nam-2015-2015122414480197.chn
22. Phó thống đốc NHNN Nguyễn Thị Hồng, Thành công trong điều hành chính sách tiền tệ năm 2016, 2016
http://tapchinganhang.gov.vn/thanh-cong-trong-dieu-hanh-chinh-sach-tien-te-nam-2015-trien-vong-va-dinh-huong-giai-phap-nam-2016.htm
23. TS. Hà Thị Sáu, ThS. Vũ Mai Chi, Sử dụng công cụ nghiệp vụ thị trường mở trong phát triển thị trường tiền tệ Việt Nam, 2016
https://www.sbv.gov.vn/webcenter/portal/vi/menu/rm/apph/tcnh/tcnh_chitiet?dDocName=SBV244674&p=2&_afrLoop=7014387654166412#%40%3F_afrLoop%3D7014387654166412%26centerWidth%3D80%2525%26dDocName%3DSBV244674%26leftWidth%3D20%2525%26p%3D2%26rightWidth%3D0%2525%26showFooter%3Dfalse%26showHeader%3Dfalse%26_adf.ctrl-state%3D14of9osqg6_4
24. Kình Dương, 4 năm chính sách tiền tệ và những ‘lát cắt’ (Kỳ 3): Lãi suất, 2017
https://vietnamfinance.vn/4-nam-chinh-sach-tien-te-va-nhung-lat-cat-ky-3-lai-suat-20171127171303592.htm
25. Nhuệ Mẫn, Ngân hàng nhà nước chính thức giảm lãi suất điều hành thông điệp tiền tệ nới lỏng, 2019
https://tinnhanhchungkhoan.vn/tien-te/ngan-hang-nha-nuoc-chinh-thuc-giam-lai-suat-dieu-hanh-thong-diep-tien-te-noi-long-278569.html
26. Phạm Thanh Hà, Từng bước đổi mới điều hành CSTT, Đặc san toàn cảnh Ngân hàng Việt Nam 2019
PHỤ LỤC
Phụ lục 1: Mô hình chính sách tiền tệ
Phụ lục 2: Tỷ lệ dự trữ bắt buộc 2015
Phụ lục 3: Bảng dự trữ bắt buộc của Ngân hàng nhà nước theo văn bản số 1158/QĐ-NHNN ngày 29/05/2018 áp dụng từ ngày 01/06/2018
|
Loại TCTD |
Tiền gửi VND |
Tiền gửi ngoại tệ |
|||
|
Không kỳ hạn và có kỳ hạn dưới 12 tháng |
Kỳ hạn từ 12 tháng trở lên |
Tiền gửi của tổ chức tín dụng ở nước ngoài |
Tiền gửi khác không kỳ hạn và có kỳ hạn dưới
12 tháng |
Tiền gửi khác có kỳ hạn từ 12 tháng
trở lên |
|
|
1. Quỹ tín dụng nhân dân, tổ chức tài chính vi
mô |
0% |
0% |
0% |
0% |
0% |
|
2. Ngân hàng chính sách |
Theo quy định của Chính phủ |
Theo quy định của Chính phủ |
Theo quy định của Chính phủ |
Theo quy định của Chính phủ |
Theo quy định của Chính phủ |
|
3. Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông
thôn Việt Nam, ngân hàng hợp tác xã |
3% |
1% |
1% |
7% |
5% |
|
4. Tổ chức tín dụng khác |
3% |
1% |
1% |
8% |
6% |
Xem thêm: TỔNG HỢP BÀI TẬP NHÓM - BÀI TẬP LỚN - BÀI TẬP CÁ NHÂN - TIỂU LUẬN CÁC MÔN HLU
Nếu bạn thấy những chia sẻ của mình hữu ích thì có thể donate ủng hộ mình 01 ly trà sữa nha: BIDV 4603463395

0 nhận xét