Được tạo bởi Blogger.
facebook youtube

Rey & Law

    • Home
    • HỌC LUẬT Ở HLU
    • HỌC LUẬT SƯ
    • HỌC THẠC SĨ
    • CHUYỆN ĐI LÀM
    • TỰ HỌC LUẬT



     Thời gian làm bài: 90 phút

    (Được sử dụng văn bản pháp luật)

    Ngày 01/11/2012, Công ty X (đóng tại quận 4 thành phố HCM) có tuyển dụng bà T làm việc với chức danh Nhân viên Bộ phận Hành Chánh - Nhân Sự và bà T được giao nhiệm vụ làm văn thư của Công ty, mức lượng chính là 7 triệu đồng/tháng. Ngày 26/4/2020 bà có gửi mail cho người bạn của mình thông báo về kế hoạch sản xuất và ra mắt sản phẩm mới của công ty. Tuy nhiên trong quá trình gửi thư điện tử, bà T lại gửi nhầm sang địa chỉ mail có Phó Giám Đốc bộ phận Hành chính nhân sự. Khoản 1 Điều 22 Nội quy lao động công ty X quy định: "Tất cả cán bố, nhân viên có trách nhiệm giữ gìn bí mật về hoạt động kinh doanh của Công ty, không được cung cấp tài liệu, số liệu tư liệu cho bất kỳ cá nhân nào (kể cả người lao động khác trong đơn vị) nếu chưa được sự đồng ý của Ban lãnh đạo công ty" và theo quy định tại Điều 34 Nội quy lao động, người lao động có hành vi vi phạm này sẽ bị sa thải. Công ty X đã tiến hành thủ tục xử lý kỷ luật lao động theo đúng quy định của pháp luật.

    Hỏi:

    1. Hãy xác định loại kiện của vụ án trên?

    2. Tòa án nào có thẩm quyền giải quyết vụ án?

    3. Hãy xác định những vấn đề cần làm rõ khi nghiên cứu hồ sơ vụ án (về mặt nội dung)?

    4. Theo anh (chị), việc sa thải của công ty đối với bà T là đúng hay sai? Tại sao?

    Xem thêm: Tổng hợp đề thi hết môn HLU

    Nếu bạn thấy những chia sẻ của mình hữu ích thì có thể donate ủng hộ mình 01 ly trà sữa nha: BIDV 4603463395

    Continue Reading

     


    Thời gian làm bài: 90 phút 

    Sinh viên được sử dụng Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 và Nghị định số 34/2016/NĐ-CP

    LÝ THYẾT (4 điểm)

    Khẳng định sau đây đúng hay sai? Giải thích tại sao?

    1. Nghị quyết của Chính phủ luôn có tính chất pháp lý là văn bản quy phạm pháp luật.

    2. Thời điểm có hiệu lực của toàn bộ hoặc một phần của văn bản quy phạm pháp luật do Bộ, cơ quan ngang Bộ ban hành được quy định tại văn bản đó nhưng không sớm hơn 45 ngày kể từ ngày thông qua hoặc ký ban hành.

    3. Cơ quan, tổ chức đề nghị xây dựng luật chỉ có trách nhiệm lấy ý kiện Bộ Tài chính.

    4. Bãi bỏ là biện pháp làm mất hiệu lực pháp lý của văn bản bị xử lý.

    BÀI TẬP (6 điểm)

    Câu 2. Hãy soạn thảo văn bản pháp luật của chủ thể có thẩm quyền để bổ nhiệm Phó cục trưởng Cục Quản lý đấu thầu của Bộ Kế hoạch và Đầu tư.

    Xem thêm: Tổng hợp đề thi hết môn HLU

    Nếu bạn thấy những chia sẻ của mình hữu ích thì có thể donate ủng hộ mình 01 ly trà sữa nha: BIDV 4603463395

    Continue Reading



    (Học viên được sử dụng các văn bản pháp luật, Quy tắc đạo đức và ứng xử nghề nghiệp luật sư, giáo trình do Học viện Tư pháp phát hành)

    ĐỀ 1

    I. TỰ LUẬN (6 điểm)

    Trong thực tiễn, từ quan hệ giao dịch cung cấp và sử dụng dịch vụ pháp lý giữa luật sư và khách hàng có thể phát triển thành quan hệ bạn bè, đối tác, hợp tác hoặc giao lưu trong cuộc sống. Đây chính là một dạng quan hệ mà luật sư cần có sự phân biệt một cách rạch ròi, làm sao giữ hình ảnh, uy tín của luật sư, đồng thời thể hiện sự hiểu biết, tạo sự tin cậy của khách hàng trong hoạt động hành nghề.

    Câu 1 (4 điểm): Căn cứ vào một số quy tắc về quan hệ luật sư – khách hàng trong Bộ Quy tắc đạo đức và ứng xử nghề nghiệp luật sư, ban hành kèm theo Quyết định số 201/2019 của Hội đồng luật sư toàn quốc – Liên đoàn luật sư Việt Nam, hãy chứng minh cho nhận xét trên.

    Câu 2 (2 điểm): Bài học kinh nghiệm cần rút ra đối với việc thực hiện Quy tắc 9 – Bộ Quy tắc đạo đức và ứng xử nghề nghiệp luật sư, ban hành kèm theo Quyết định số 201/2019 của Hội đồng luật sư toàn quốc – Liên đoàn luật sư Việt Nam.

    II. TÌNH HUỐNG (4 điểm)

    1. Luật sư Hòa và gia đình hiện đang sinh sống tại một chung cư cao cấp trên địa bàn thành phố Hà Nội. Cùng trong tòa nhà có một số hộ gia đình thuộc diện chính sách. Kỷ niệm ngày 27 tháng 7 năm 2022, Ban quản trị tòa nhà có đề xuất luật sư Hòa có thể bố trí thời gian để tham gia hoạt động tuyên truyền, phổ biến pháp luật về người có công cho những gia đình chính sách nêu trên. Luật sư Hòa nhận lời với Ban quản trị tòa nhà nhưng đúng ngày tổ chức sự kiện thì luật sư lại báo do điều kiện công tác đột xuất, không tham dự được. Vì không thể lùi lịch do luật dư báo gấp quá nên sự kiện vẫn được tổ chức với sự tham gia của luật sư Huy cũng là cư dân của tòa nhà.

    Sau ngày tổ chức hoạt động nói trên, luật sư Hòa biết Ban quản trị tòa nhà đã kịp mời luật sư khác thay thế thì tỏ ra không hài lòng, và đã đăng một vài ý kiến không tích cực về luật sư Huy, như là luật sư mới vừa có thẻ hành nghề, kinh nghiệm về trợ giúp pháp lý còn thiếu nhiều, chỉ được cái nhiệt tình ai nhờ gì cũng làm…

    Câu 3 (2 điểm): Anh/chị có đồng tình với cách ứng xử của cả hai luật sư trong tình huống trên không, tại sao?

    2. Luật sư Vân và luật sư Việt là hai bạn học cùng khóa đào tạo luật sư tại Học viện Tư pháp. Năm 2010, cả hai cùng thi đỗ kỳ thi hết tập sư hành nghề luật sư và thành lập tổ chức hành nghề riêng của mình được 10 năm. Nhân kỷ niệm ngày thành lập Đoàn luật sư của tỉnh, hai luật sư gặp lại nhau. Trong câu chuyện giữa hai luật sư, luật sư Vân chia sẻ những khó khăn, vất vả đã vượt qua để có được sự phát triển văn phòng như hiện nay. Qua trao đổi, họ đều thống nhất, thực tế thì Đoàn luật sư tỉnh nhà hầu như không có nhiều vai trò trong hoạt động hành nghề của luật sư. Vì vậy, luật sư Vân nói rất không muốn đóng tiền phí thành viên cho đoàn và thực tế, cả năm 2022 vẫn chưa đóng phí thành viên. Luật sư Việt tuy có cùng quan điểm về vai trò của Đoàn luật sư những lại cho rằng, việc đóng phí thành viên không liên quan nhiều đến việc Đoàn luật sư có giúp được gì hay không cho luật sư và tổ chức hành nghề luật sư.

    Câu 4 (2 điểm): Anh/chị có đồng tình với quan điểm và cách ứng xử của luật sư Vân và luật sư Việt trong tình huống nêu trên không, tại sao?

    ----------------------------------------

    ĐỀ 2

    I. TỰ LUẬN (6 điểm)

    Pháp luật về luật sư cũng như Quy tắc đạo đức và ứng xử nghề nghiệp luật sư Việt Nam không cho phép người luật sư được tạo ra hoặc lợi dụng các tình huống xấu, những thông tin sai sự thật, không đầy đủ, gây bất lợi cho khách hàng để gây áp lực nhằm ký được hợp đồng dịch vụ pháp lý, tăng mức thù lao hoặc có được lợi ích khác từ khách hàng.

    Câu 1 (4 điểm): Căn cứ quy định của pháp luật luật sư hiện hành, Quy tắc đạo đức và ứng xử nghề nghiệp luật sư, hãy làm sáng tỏ nhận xét trên?

    Câu 2 (2 điểm): Theo anh/chị, có những bài học kinh nghiệm nào liên quan đến yêu cầu tuân thủ những điều cấm đối với luật sư trong Bộ quy tắc đạo đức và ứng xử nghề nghiệp luật sư năm 2019?

    II. TÌNH HUỐNG (4 điểm)

    1. Luật sư Anh là anh ruột của Luật sư Bình. Luật sư Anh là trưởng Văn phòng luật sư tại Hà Nội, còn luật sư Bình là trưởng Văn phòng luật sư tại thành phố Hồ Chí Minh. Luật sư Bình đang cung cấp dịch vụ pháp lý cho khách hàng Cường, là bị đơn trong một vụ kiện tranh chấp về hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Cùng thời gian với hợp đồng dịch vụ pháp lý mà luật sư Bình ký với khách hàng Cường, khách hàng Dũng là nguyên đơn trong vụ kiện với khách hàng Cường đã đến đề nghị luật sư Anh ký hợp đồng cung cấp dịch vụ pháp lý. Một tháng sau ngày Hợp đồng dịch vụ pháp lý giữa luật sư Anh và khách hàng Dũng đã ký, luật sư Anh mới biết luật sư của bị đơn trong vụ việc mà mình đang giải quyết cho khách hàng Dũng chính là luật sư Bình.

    Câu 3 (2 điểm): Theo anh/chị, hai luật sư sẽ ứng xử như thế nào trong tình huống trên, tại sao?

    2. Nguyễn Mai Phương đã tốt nghiệp khóa đào tạo nghề luật sư tại Học viện tư pháp và đang tham gia tập sự hành nghề tại Văn phòng luật sư H, thuộc đoàn luật sư thành phố V. Trong thời gian tập sự tại tổ chức hành nghề, Phương luôn hoàn thành mọi công việc chuyên môn mà luật sư hướng dẫn tập sự giao, nhưng trong giao tiếp với đồng nghiệp và khách hàng, Phương lại không chiếm được cảm tình của mọi người. Cụ thể, khi Văn phòng tổ chức đi trợ giúp pháp lý ở địa phương hai đợt thì Phương đều không tham gia với lý do bận việc gia đình. Khi được giao làm việc nhóm với đồng nghiệp, Phương thường chỉ làm việc độc lập, không muốn hợp tác với thành viên nhóm. Còn khi được luật sư hướng dẫn tập sự cho tham gia một số buổi tiếp khách thì Phương hay tìm cách hỏi số điện thoại để giao dịch với khách hàng sau buổi làm việc chính thức với luật sư.

    Với những biểu hiện đó, kết thúc thời gian tập sự tại Văn phòng, trong buổi chia tay do Văn phòng tổ chức, khi một số đồng nghiệp lớn tuổi chân thành góp ý cho Phương thì Phương lại tỏ thái độ khó chịu. Đặc biệt, khi đọc nhận xét của luật sư hướng dẫn tập sự về những ưu, nhược điểm của Phương trong thời gian tập sự thì Phương không đồng tình, cho rằng nhận xét thiếu khách hàng, gây bất lợi cho người tập sự và sẽ kiến nghị lên Đoàn luật sư.

    Câu hỏi 4 (2 điểm): Anh/chị hãy bình luận về cách ứng xử của Phương trong tình huống nêu trên?

    ----------------------------------------

    ĐỀ 3

    I. TỰ LUẬN (6 điểm)

    Quan hệ cung cấp dịch vụ pháp lý của Luật sư cho khách hàng là quan hệ dân sự đặc thù, vừa chịu điều chỉnh của pháp luật luật sư, pháp luật liên quan, vừa phải tuân thủ nghiêm Quy tắc đạo đức và ứng xử nghề nghiệp luật sư trong quan hệ với khách hàng.

    Bằng những hiểu biết của bản thân, anh (chị) hãy:

    Câu hỏi 1 (4 điểm): Nêu và phân tích các quy tắc đạo đức và ứng xử nghề nghiệp của luật sư trong nhận, thực hiện và kết thúc vụ việc của khách hàng?

    Câu hỏi 2 (2 điểm): Rút ra bài học kinh nghiệm cho bản thân?

    II. TÌNH HUỐNG (4 điểm)

    1. Luật sư Lê Đức Anh (thuộc Văn phòng luật sư An Tâm, Đoàn luật sư thành phố H) tham gia bào chữa cho khách hàng Y trong vụ án hình sự ở giai đoạn xét xử sơ thẩm. Sau giai đoạn xét xử sơ thẩm, người thân của bị cáo Y tiếp tục ký hợp đồng để luật sư Đức Anh bào chữa cho bị cáo ở giai đoạn xét xử phúc thẩm.

    Sau phiên tòa nói trên, dư luận xã hội và nhiều đồng nghiệp khác trong giới luật sư đã thể hiện sự quan tâm đến kết quả xét xử vụ án. Khoảng 1 tháng sau phiên tòa, người thân của bị cáo Y nhận được thư ngỏ từ Văn phòng Luật sư X với nội dung thể hiện sự quan tâm và chia sẻ của tổ chức hành nghề về vụ án và mức án mà HĐXX cấp sơ thẩm đã tuyên với bị cáo Y. Trong Thư ngỏ, Văn phòng Luật sư cho rằng, khách hàng của luật sư Đức Anh có thể được hưởng mức án thấp hơn nhiều nếu có Luật sư giỏi tham gia bào chữa, đồng thời có đề cập nếu gia đình bị cáo và bản thân bị cáo Y có yêu cầu thì Văn phòng Luật sư X sẵn sàng cử Luật sư giỏi nhất của mình để bào chữa cho khách hàng tại giai đoạn xét xử phúc thẩm.

    Người thân của bị cáo Y đã đưa bức Thư ngỏ ngày cho Luật sư Đức Anh và chưa thể hiện rõ quan điểm của mình đối với những nội dung trong thư ngỏ đã nhận được từ văn phòng luật sư X.

    Câu hỏi 3 (2 điểm): Đánh giá của anh/chị về hành vi gửi thư ngỏ của Văn phòng Luật sư X? Đặt vào vị trí của Luật sư Đức Anh, anh/chị sẽ ứng xử như thế nào để phù hợp với Quy tắc đạo đức và ứng xử như thế nào để phù hợp với Quy tắc đạo đức và ứng xử nghề nghiệp luật sư?

    2. Luật sư A thuộc Đoàn luật sư tỉnh Đ đã hoàn thành khóa đào tạo thạc sĩ luật, đang chờ cấp bằng. Trong thời gian đó, luật sư A đã làm biển quảng cáo về tổ chức hành nghề với danh xừng thạc sĩ, luật sư. Khi biển quảng cáo được treo lên, đã có luật sư khác phản ánh luật sư A chưa phải là thạc sĩ. Khi có ý kiến phản ánh đó, luật sư A đã hạ biển quảng cáo xuống. Đoàn luật sư tỉnh Đ xử lý kỷ luật luật sư A.

    Câu hỏi 4 (2 điểm): Anh (chị) có đồng tình với cách xử lý của Đoàn luật sư tỉnh Đ hay không? Giải thích tại sao?

    ----------------------------------------

    ĐỀ 4

    I. TỰ LUẬN (6 điểm)

    Quan điểm giữa Luật sư với đồng nghiệp vốn là quan hệ tồn tại khách quan trong hoạt động hành nghề của luật sư. Đó là quan hệ được xây dựng và phát triển dựa trên cơ sở của sự đồng cảm, chân thành, hợp tác, thấu hiểu và chia sẻ giữa những đồng nghiệp cùng môi trường và công việc nghề nghiệp. Quan hệ đồng nghiệp giữa các Luật sư được điều chỉnh và đảm bảo bởi chuẩn mực đạo đức và ứng xử nghề nghiệp luật sư.

    Câu hỏi 1 (6 điểm): Anh (chị) hãy nêu và phân tích Quy tắc đạo đức và ứng xử nghề nghiệp của luật sư trong quan hệ với đồng nghiệp?

    Câu hỏi 2 (2 điểm): Từ mối quan hệ giữa luật sư và đồng nghiệp, anh (chị) hãy rút ra bài học kinh nghiệm cho bản thân.

    II. TÌNH HUỐNG (4 điểm)

    1. Đoàn Luật sư tỉnh H nhận được phản ánh về việc một tổ chức hành nghề luật sư ở tỉnh này đã tặng hiện vật là các ghế đá, có số điện thoại, logo của tổ chức hành nghề ghi trên các ghế đá đó, đặt tại khuôn viên của Tòa án nhân dân tỉnh H. Theo quan điểm phản ánh thì đó là việc làm không phù hợp với chuẩn mực đạo đức và ứng xử nghề nghiệp của luật sư, hay nói chính xác hơn là sự cạnh tranh không lành mạnh giữa các tổ chức hành nghề luật sư hiện có trên địa bàn của tỉnh H.

    Câu hỏi 3 (2 điểm): Anh (chị) có quan điểm như thế nào về tình huống nêu trên?

    2. Thời gian qua, một số Đoàn luật sư đã xử lý kỷ luật bằng hình thức xóa tên khỏi danh sách luật sư của Đoàn đối với một số luật sư vì lý do không đóng phí thành viên nhiều năm. Nhiều luật sư bị áp dụng hình thức kỷ luật này đã có quan điểm cho rằng, đóng phí luật sư nhưng chẳng nhận được sự giúp đỡ gì từ phía Tổ chức xã hội – nghề nghiệp đối với hoạt động nghề nghiệp của bản thân cũng như tổ chức hành nghề của mình nên đã không thực hiện nghĩa vụ này.

    Câu hỏi 4 (2 điểm): Anh (chị) có đồng tính với quan điểm của những luật sư bị xử lý kỷ luật nêu trên không? Giải thích tại sao?

    Xem thêm: Tổng hợp đề thi hết môn tại Học viện Tư pháp

    Nếu bạn thấy những chia sẻ của mình hữu ích thì có thể donate ủng hộ mình 01 ly trà sữa nha: BIDV 4603463395

    Continue Reading



    Thời gian làm bài: 120 phút

    (Được sử dụng văn bản pháp luật)

     

    Câu 1 (4 điểm): Nhận xét về các nhận định sau đây:

    1. Bên vi phạm phải bồi thường mọi thiệt hại thực tế phát sinh do có hành vi vi phạm hợp đồng.

    2. Chỉ được áp dụng đồng thười chế tài phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại trong trường hợp có sự thỏa thuận trong hợp đồng.

    3. Trong quan hệ đấu giá hàng hóa, nếu chỉ có một chủ thể tham gia đấu giá thì phiên đấu giá không thành.

    4. Thương nhân chỉ sử dụng mọi hàng hóa thuộc phạm vi kinh doanh hợp pháp của mình để thực hiện khuyến mại.

    Câu 2 (3 điểm): Trình bày các trường hợp tranh chấp thương mại được giải quyết bởi Tòa án mặc dù các bên trong hợp đồng có thỏa thuận trọng tài có hiệu lực.

    Câu 3 (4 điểm): Bài tập

    Công ty TNHH Thanh Huyền ký hợp đồng bán cho Công ty cổ phần Đức Anh 500kg hạt dẻ. Hợp đồng có những thỏa thuận như sau: (i) Giá trị lô hàng: 5 tỷ; (ii) Địa điểm giao hàng: kho của bên Đức Anh; (iii) Thời gian giao hàng: từ 15/05/2020 đến ngày 30/05/2020.

    Ngày 28/05/2020, Công ty Thanh Huyền vận chuyển hàng đến kho của Công ty Đức Anh đề nghị đối tác nhận hàng. Công ty Đức Anh lấy lý do kho đang bị đầy, chưa kịp sắp xếp để nhận hàng nên từ chối nhận hàng. Công ty Thanh Huyền đã thuê một kho khác gần đó để tập kết hàng tạm trong lúc chờ đợi. Sáng 29/05/2020, kho hàng tạm bị lũ quét làm ướt 100 kg hạt dẻ. Ngày 30/05/2020, Công ty Đức Anh tiến hành nhận hàng nhưng từ chối nhận 100kg hạt dẻ bị ướt do không đảm bảo chất lượng. Công ty Thanh Huyền không đồng ý, cho rằng Đức Anh vi phạm nghĩa vụ nhận hàng do đó, yêu cầu Công ty Đức Anh phải nhận cả số hàng bị ướt và bồi thường chỉ phí thuê kho tạm là 20 triệu đồng. Công ty Đức Anh vẫn từ chối nhận hàng và đòi phạt vi phạm hợp đồng vi giao hàng không đủ, không đúng chất lượng là 400 triệu đồng. Hỏi:

    1. Rủi ro đối với hàng hóa thuộc về bên nào?

    2. Nhận xét về yêu cầu áp dụng chế tài thương mại của các bên?

    Xem thêm: Tổng hợp đề thi hết môn HLU

    Nếu bạn thấy những chia sẻ của mình hữu ích thì có thể donate ủng hộ mình 01 ly trà sữa nha: BIDV 4603463395

    Continue Reading



    Thời gian làm bài: 120 phút

    (Sinh viên chỉ được sử dụng Bộ luật Hình sự khi làm bài)

     

    Câu 1 (2 điểm):

    Phân biệt tội giết người hoàn thành với trường hợp phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác làm chết người. Cho ví dụ.

    Câu 2 (4 điểm): Trong các khẳng định dưới đây, khẳng định nào đúng, khẳng định nào sai? Giải thích rõ tại sao?

    1. Đối tượng của tội sản xuất, buôn bán hàng cấm là tất cả các loại hàng hóa Nhà nước cấm kinh doanh.

    2. Tội cướp tài sản và tội cướp giật tài sản đều là các tội mà dấu hiệu mục đích chiếm đoạt tài sản được quy định là dấu hiệu bắt buộc.

    3. Hành vi vận chuyển trái phép chất ma túy có thể bị xét xử về tội mua bán trái phép chất ma túy.

    4. Hành vi đua trái phép ô tô, xe máy có thể bị coi là tội phạm ngay cả khi chưa gây hậu quả thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, tài sản của người khác.

    Câu 3 (4 điểm):

    Sau khi ly hôn người vợ cũ A được quyền nuôi con trai C (8 tuổi). A kết hôn với B. Do thù ghét người vợ cũ nên vợ chồng A, B đối xử rất tồi tệ với cháu C như không cho cháu đi học, đi chơi, thường xuyên bắt cháu nhịn đói, đánh đập tàn bạo mỗi khi A, B không vừa ý những người cháu làm… Một lần do nghi ngờ cháu C trộm tiền, A và B đã thay nhau đánh đập làm cháu C bị gãy xương sườn và nhiều thương tích khác với tỷ lệ tổn thương cơ thể cho cháu C là 25%.

    Anh (chị) hãy:

    1. Xác định tội danh đối với hành vi phạm tội của A và B.

    2. Xác định khung hình phạt đối với hành vi phạm tội của A và B.

    Xem thêm: Tổng hợp đề thi hết môn HLU

    Nếu bạn thấy những chia sẻ của mình hữu ích thì có thể donate ủng hộ mình 01 ly trà sữa nha: BIDV 4603463395

    Continue Reading



    Thời gian làm bài: 120 phút

    (Sinh viên chỉ được sử dụng Bộ luật Dân sự năm 2015 bản in khi làm bài)

    ĐỀ 1 

    Câu 1 (3 điểm):

    Từng khẳng định sau đây đúng hay sai? Giải thích tại sao?

    a) Các biện pháp bảo đảm có thể được xác lập không dựa trên cơ sở thỏa thuận của các bên.

    b) Đối tượng của nghĩa vụ dân sự không phân chia được theo phần phải là tài sản không chia được.

    c) Bên gây thiệt hại được giảm mức bồi thường nếu họ là người có nhược điểm về thể chất, tinh thần hoặc mất năng lực hành vi dân sự.

    Câu 2 (3 điểm):

    Hãy xác định rõ chủ thể chịu trách nhiệm bồi thường và trách nhiệm bồi thường tương ứng trong trường hợp nguồn nguy hiểm cao độ gây thiệt hại? Cho các ví dụ minh họa?

    Câu 3 (4 điểm):

    A và B thỏa thuận vay tiền, theo đó, A cho B số tiền 500 triệu đồng, thời hạn 01 năm, lãi suất 1,5%/tháng, lãi lấy cuối kì hạn. Hãy xác định số tiền B phải thanh tóa cho A độc lập trong các trường hợp sau đây:

    1. Đến hạn, B thanh toán đầy đủ cả gốc và lãi.

    2. Đến hạn, B thanh toán lãi được 6 tháng và xin gia hạn gốc 6 tháng, A đồng ý.

    3. Đến hạn, B trả được lãi cả kì và trả gốc 200 triệu. Còn lại quá hạn 1 năm.

    4. Đến hạn, cả gốc và lãi, B đều không trả được. B xin gia hạn được A đồng ý gia hạn thêm 3 tháng. Nhưng hết 3 tháng, B vẫn không thanh toán được. Một năm sau đó, B thanh toán được cho A.

    ----------------------------------------------------------------

    ĐỀ 2 

    Câu 1 (3 điểm): Những khẳng định dưới đây đúng hay sai? Giải thích tại sao?

    1. Quyền của chủ thể trong quan hệ nghĩa vụ là quyền đối vật nếu đối tượng của nghĩa vụ là vật.

    2. Nghĩa vụ nhiều người là loại nghĩa vụ mà nhiều người cùng có nghĩa vụ.

    3. Khi hợp đồng chấm dứt thì các nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng cũng chấm dứt theo.

    4. Biện pháp bảo đảm có thể chấm dứt ngay cả khi nghĩa vụ được bảo đảm chưa được thực hiện xong.

    5. Đối tượng của hợp đồng gửi giữ tài sản không phải là tài sản.

    6. Lãi suất nợ quá hạn của nợ gốc chưa trả do các bên thỏa thuận và không được vượt quá 30%/năm.

    Câu 2 (3 điểm): Phân tích các điều kiện của tài sản là đối tượng của hợp đồng mua bán tài sản. Cho ví dụ minh họa đối với từng điều kiện.

    Câu 3 (4 điểm): Bài tập tình huống

    Vào hồi 8h00 ngày 01/9/2020, lái xe A được Công ty B phân công nhiệm vụ chở hàng giao cho Công ty C. Theo quy định, giờ làm việc của Công ty bắt đầu từ 8h00 sáng và kết thúc lúc 17h00. Tuy nhiên, do có việc gia định đột xuất nên A đã lái xe của Công ty về quê mà không xin phép lãnh đạo Công ty. Khi giải quyết xong việc gia đình thì đã quá 19h00 tối nên A không kịp giao hàng cho Công ty C. 7h00 sáng ngày 02/9/2020, trước khi đến Công ty, A đã tranh thủ đi giao hàng cho Công ty C. Do vội giao hàng để kịp giờ làm nên A đã không làm chủ được tốc độ, gây tai nạn nghiêm trọng. Hậu quả là chị D tử vong tại chỗ, xe máy của chị D bị hư hại hoàn toàn. Anh E bị gẫy cả hai chân, xe máy của anh E bị hư hỏng nặng.

    Anh/chị hãy cho biết:

    1. Chủ thể chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại là A hay Công ty B? Tại sao?

    2. Ai là người được bồi thường? Tại sao?

    3. Các loại thiệt hại mà từng chủ thể có thể được bồi thường.

    4. Cơ sở pháp lý được áp dụng để giải quyết vụ việc.

    ---------------------------------------------------------------- 

    ĐỀ 3

    Câu 1 (3 điểm): Những khẳng định dưới đây đúng hay sai? Giải thích tại sao?

    1. Nghĩa vụ liên đới là nghĩa vụ nhiều người mà khi đến thời hạn thực hiện nghĩa vụ, mỗi người có nghĩa vụ đều phải thực hiện phần nghĩa vụ của mình với người có quyền.

    2. Khi đối tượng của nghĩa vụ là vật bị tiêu hủy thì nghĩa vụ chuyển giao vật chấm dứt.

    3. Các biện pháp bảo đảm được hình thành từ sự thỏa thuận của các bên trong quan hệ nghĩa vụ được bảo đảm, trừ biện pháp cầm giữ tài sản.

    4. Hợp đồng vì lợi ích của người thứ ba là hợp đồng ba bên.

    5. Đối tượng của hợp đồng gửi giữ tài sản là tài sản có thể thuộc hoặc không thuộc sở hữu của bên gửi.

    6. Bên gây thiệt hại phải tự chịu trách nhiệm bồi thường cho người bị thiệt hại nếu có năng lực hành vi dân sự đầy đủ.

    Câu 2 (3 điểm): Phân tích các trường hợp chủ sở hữu nguồn nguy hiểm cao độ không phải bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra.

    Câu 3 (4 điểm): Bài tập tình huống

    Ngày 01/10/2017, A cho B vay 100 triệu với lãi suất thỏa thuận 40%/năm. Thời hạn vay là 1 năm. Hãy xác định số tiền mà B còn phải trả cho A theo quy định của pháp luật trong các trường hợp độc lập sau đây:

    1. Hết thời hạn B không trả được nợ, toàn bộ số nợ bị quá hạn 6 tháng.

    2. Hết thời hạn vay, B không trả được nợ và xin gia hạn 3 tháng với lãi suất không đổi. Hết 3 tháng gia hạn, B trả được 50% nợ gốc và 50% lãi theo thỏa thuận. Số còn lại bị quá hạn 3 tháng.

    3. Hết thời hạn vay, B trả được toàn bộ số lãi theo thỏa thuận. Số còn lại bị quá hạn 6 tháng.

    4. Hết thời hạn vay, B trả được toàn bộ nợ gốc và 50% lãi.

    ----------------------------------------------------------------

    ĐỀ 4 

    Câu 1 (3 điểm): Những khẳng định dưới đây đúng hay sai? Giải thích tại sao?

    1. Nghĩa vụ liên đới là nghĩa vụ nhiều người mà trong đó nhiều người có nghĩa vụ liên đới với người có quyền.

    2. Đăng ký biện pháp bảo đảm là điều kiện phát sinh hiệu lực đối kháng với người thứ ba của biện pháp bảo đảm nếu đối tượng của biện pháp bảo đảm là tài sản phải đăng ký.

    3. Khi nghĩa vụ được bảo đảm chấm dứt thì biện pháp bảo đảm chấm dứt.

    4. Hợp đồng là sự thỏa thuận và thống nhất ý chí giữa các bên về việc phát sinh quyền, nghĩa vụ.

    5. Đối tượng của hợp đồng gia công không phải là sản phẩm được tạo thành tự hoạt động gia công.

    6. Người chiếm hữu không có căn cứ pháp luật phải hoàn trả tài sản gốc và hoa lợi, lợi tức phát sinh từ thời điểm chiếm hữu.

    Câu 2 (3 điểm): Phân tích các trường hợp chủ sở hữu súc vật không phải bồi thường thiệt hại do súc vật gây ra. Cho ví dụ minh họa.

    Câu 3 (4 điểm): Bài tập tình huống

    Ngày 01/3/2019, A cho B vay 100 triệu với lãi suất thỏa thuận 3%/tháng. Thời hạn vay là 1 năm. Hãy xác định số tiền mà B còn phải trả cho A theo quy định của pháp luật trong các trường hợp độc lập sau đây:

    1. Hết thời hạn vay, B trả được toàn bộ số lãi theo thỏa thuận và 50% nợ gốc. Số còn lại xin gia hạn 3 tháng với lãi suất không đổi. Hết 3 tháng gia hạn, B không trả được thêm khoản nào. 6 tháng sau, A khởi kiện yêu cầu trả nợ.

    2. Hết thời hạn vay, B trả được toàn bộ nợ gốc và 50% lãi theo thỏa thuận. Số còn lại bị quá hạn 6 tháng.

    3. Hết thời hạn vay, B không trả được nợ và xin gia hạn 3 tháng với lãi suất gấp đôi. Hết 3 tháng gia hạn, B trả được 50% nợ gốc và 50% lãi theo thỏa thuận. Số còn lại bị quá hạn 6 tháng.

    4. Hết thời hạn B không trả được nợ, toàn bộ số nợ bị quá hạn 6 tháng. 

    Xem thêm: Tổng hợp đề thi hết môn HLU

    Nếu bạn thấy những chia sẻ của mình hữu ích thì có thể donate ủng hộ mình 01 ly trà sữa nha: BIDV 4603463395


    Continue Reading

    ĐỀ BÀI

    Ông M là thương binh bị suy giảm 45% khả năng lao động. Tháng 1/1997 ông M vào làm bảo vệ cho công ty X. Tháng 12/2021, vết thương chiến tranh tái phát, ông phải vào viện điều trị mất 2 tháng. Sau khi ra viện ông được xác định suy giảm 61% khả năng lao động. Do sức khỏe yếu nên tháng 3/2022, ông M làm đơn xin nghỉ việc. Lúc này ông đã 57 tuổi, thời gian công tác trong lực lượng vũ trang có tham gia bảo hiểm xã hội được chốt sổ là 5 năm. Anh/chị hãy giải quyết quyền lợi cho ông M theo quy định của pháp luật an sinh hiện hành. 



    NỘI DUNG

    Căn cứ vào các dữ kiện được đề bài cung cấp, có thể phân chia các sự kiện để giải quyết quyền lợi cho ông M như sau: 

    Sự kiện 1: Ông M là thương binh bị suy giảm 45% khả năng lao động (từ trước tháng 1/1997 cho tới hết tháng 1/2022). 

    Sự kiện 2: Tháng 12/2021, ông M phải vào viện điều trị 2 tháng do vết thương chiến tranh tái phát (toàn bộ tháng 12/2021 và tháng 1/2022). 

    Sự kiện 3: Sau khi ra viện, ông M được xác định suy giảm 61% khả năng lao động (từ tháng 2/2022 cho tới nay)

    Sự kiện 4: Ông M làm đơn xin nghỉ việc (từ tháng 3/2022 cho tới nay). 

    Trong bài tập lần này, nhóm sẽ dựa trên các mốc sự kiện nêu trên để giải quyết quyền lợi cho ông M theo pháp luật an sinh xã hội hiện hành. 

    1. Quyền lợi an sinh xã hội của ông M khi là thương binh bị suy giảm 45% khả năng lao động (từ trước tháng 1/1997 cho tới hết tháng 1/2022)

    Với việc được công nhận là thương binh, ông M sẽ được hưởng các chế độ ưu đãi xã hội đối với người có công với cách mạng theo Pháp lệnh số 02/2020/UBTVQH14 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội và Nghị định 131/2021/NĐ-CP, Nghị định 75/2021/NĐ-CP hướng dẫn thi hành của Chính phủ. Cụ thể, theo quy định tại Điều 24 Pháp lệnh số 02/2020/UBTVQH14, với mức suy giảm khả năng lao động là 45%, ông M – thương binh – sẽ được hưởng các quyền lợi sau đây: 

    Một là, được hưởng trợ cấp hàng tháng: 2.343.000 đồng/tháng.

    Căn cứ theo Phụ lục II về mức hưởng trợ cấp ưu đãi hàng tháng đối với thương binh và người hưởng chính sách như thương binh, được quy định tại Nghị định số 75/2021/NĐ-CP về mức hưởng trợ cấp, phụ cấp và các chế độ ưu đãi đối với người có công với cách mạng; thì với mức suy giảm 45% khả năng lao động, ông M sẽ được hưởng mức trợ cấp hàng tháng là 2.343.000 đồng. 

    Hai là, được ngân sách nhà nước đóng BHYT và hưởng quyền lợi theo đối tượng “người có công với cách mạng”.

    Do ông M là thương binh nên thuộc đối tượng đóng BHYT theo đối tượng “người có công với cách mạng, cựu chiến binh”; thuộc điểm d khoản 3 Điều 12 Luật BHYT 2008. Theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 13 Luật BHYT 2008, mức đóng hàng tháng của đối tượng người có công với cách mạng là tối đa bằng 6% mức lương tối thiểu và do ngân sách nhà nước đóng. 

    Về quyền lợi hưởng BHYT, do thuộc đối tượng tại điểm d khoản 3 Điều 12 Luật BHYT 2008, nên ông M thuộc đối tượng được hưởng quyền lợi bảo hiểm y tế theo điểm a khoản 1 Điều 22 Luật BHYT 2008. Cụ thể là, ông M được hưởng “100% chi phí khám bệnh, chữa bệnh” khi đi khám bệnh, chữa bệnh theo quy định tại các Điều 26, 27 và 28 của Luật BHYT 2008. Đây cũng là đối tượng có mức hưởng quyền lợi cao nhất trong số các đối tượng được quy định tại Điều 12 Luật BHYT hiện hành. 

    Ba là, được điều dưỡng phục hồi sức khoẻ hai năm một lần.

    Theo quy định tại khoản 2 Điều 85 Nghị định 131/2021/NĐ-CP, có hai hình thức điều dưỡng, phục hồi sức khoẻ: điều dưỡng tập trung tại cơ sở điều dưỡng và điều dưỡng tại nhà. Chế độ ưu đãi đối với hai hình thức điều dưỡng, phục hồi sức khoẻ này cũng khác nhau. Cụ thể là: 

    Đối với điều dưỡng phục hồi sức khoẻ tại nhà: ông M sẽ được chi trả trực tiếp số tiền bằng 0,9 lần mức chuẩn/01 người/01 lần (khoản 1 Điều 6 Nghị định 75/2021/NĐ-CP). Mức chuẩn trợ cấp ưu đãi người có công với cách mạng đang được quy định là 1.624.000 đồng. Do đó, mức hưởng chế độ điều dưỡng, phục hồi sức khoẻ tại nhà của ông M đối với 1 lần sẽ là: 1.624.000 * 0,9 = 1.461.600 đồng. 

    Đối với điều dưỡng phục hồi sức khỏe tập trung: mức chi sẽ bằng 1,8 lần mức chuẩn cho 01 người/01 lần (theo khoản 2 Điều 6 Nghị định 75/2021/NĐ-CP). Do đó, mức hưởng chế độ điều dưỡng, phục hồi sức khỏe tập trung của ông M đối với 1 lần sẽ là: 1.624.000 * 1,8 = 2.923.200 đồng. Nội dung chi trong trường hợp điều dưỡng phục hồi sức khỏe tập trung sẽ bao gồm:

    (i) Tiền ăn trong thời gian điều dưỡng;

    (ii) Thuốc thiết yếu;

    (iii) Quà tặng cho đối tượng;

    (iv) Các khoản chi khác phục vụ trực tiếp cho đối tượng trong thời gian điều dưỡng (mức chi tối đa 15% mức chi điều dưỡng phục hồi sức khỏe tập trung), gồm: khăn mặt, xà phòng, bàn chải, thuốc đánh răng, tham quan, chụp ảnh, tư vấn sức khỏe, phục hồi chức năng, sách báo, hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể thao và các khoản chi khác phục vụ đối tượng điều dưỡng.

    Về thời gian điều dưỡng tập trung, theo điểm c khoản 2 Điều 5 Thông tư liên tịch số 13/2014/TTLT-BLĐTBXH-BTC, “thời gian một đợt điều dưỡng từ 05 đến 10 ngày, không kể thời gian đi và về. Thời gian điều dưỡng cụ thể do Giám đốc Sở Lao động - Thương binh và Xã hội quyết định bảo đảm phù hợp với điều kiện thực tế tại địa phương”. 

    Bốn là, được ưu tiên, hỗ trợ trong giáo dục và đào tạo, tạo điều kiện làm việc trong cơ quan nhà nước, tổ chức, doanh nghiệp căn cứ vào tỷ lệ tổn thương cơ thể.

    Theo quy định tại Điều 92 Nghị định 131/2021/NĐ-CP, chế độ ưu tiên trong tạo việc làm thực hiện theo quy định của pháp luật cán bộ, công chức; viên chức; việc làm; người Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài hoặc theo quy chế của từng cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp, đơn vị.

    Năm là, được cấp phương tiện trợ giúp, dụng cụ chỉnh hình, phương tiện, thiết bị phục hồi chức năng cần thiết theo chỉ định của cơ sở chỉnh hình, phục hồi chức năng thuộc ngành lao động - thương binh và xã hội hoặc của bệnh viện tuyến tỉnh trở lên.

    Theo Điều 89 Nghị định 131/2021/NĐ-CP, các đối tượng là thương binh như ông M sẽ được cấp phương tiện trợ giúp và dụng cụ chỉnh hình “tuỳ thuộc vào tình trạng thương tật, bệnh tật ghi trong hồ sơ thương binh”. Theo khoản 2 Điều 89 Nghị định 131/2021/NĐ-CP, việc cấp tiền mua phương tiện trợ giúp, dụng cụ chỉnh hình, phương tiện, thiết bị phục hồi chức năng (bao gồm cả tiền mua vật phẩm phụ, bảo trì phương tiện) cho cả niên hạn sử dụng được thực hiện cùng một lần. 

    Theo Điều 7 Nghị định 75/2021/NĐ-CP, mức hỗ trợ mua phương tiện trợ giúp, dụng cụ chỉnh hình, phương tiện, thiết bị phục hồi chức năng cần thiết quy định tại Phụ lục V ban hành kèm theo Nghị định. Theo đó, mức hỗ trợ tuỳ thuộc vào tên sản phẩm cần mua và niên hạn cấp, trong đó, mức hỗ trợ lớn nhất là 4.450.000 đồng đới với “Răng giả” (niên hạn cấp: 5 năm) và nhỏ nhất là “Kính râm và gậy dò đường” (niên hạn cấp: 1 năm), trừ các vật phẩm phụ đi kèm với phương tiện, dụng cụ. 

    Ngoài ra, ông M còn được hỗ trợ tiền đi lại và tiền ăn khi đi làm phương tiện trợ giúp, dụng cụ chỉnh hình (mỗi niên hạn 01 lần) hoặc đi điều trị phục hồi chức năng theo chỉ định của bệnh viện cấp tỉnh trở lên. Mức hỗ trợ là 5.000 đồng/01 km/01 người tính theo khoảng cách từ nơi cư trú đến cơ sở y tá gần nhất đủ điều kiện về chuyên môn kỹ thuật cung cấp dụng cụ chỉnh hình, nhưng tối đa là 1.400.000 đồng/người/01 niên hạn (khoản 2 Điều 7 Nghị định 72/2021/NĐ-CP). 

    Sáu là, được hỗ trợ cải thiện nhà ở căn cứ vào công lao, hoàn cảnh hoặc khi có khó khăn về nhà ở.

    Theo Khoản 2 Điều 99 Nghị định 131/2021/NĐ-CP, trong trường hợp ông M có nhu cầu hoặc có khó khăn về nhà ở thì có thể được nhận các hình thức hỗ trợ sau đây:

    - Hỗ trợ khi thuê nhà ở xã hội, nhà ở cũ thuộc sở hữu nhà nước. Theo quy định tại điểm b khoản 3 Điều 100 Nghị định 131/2021/NĐ-CP, ông M với tư cách là thương binh bị suy giảm 45% khả năng lao động sẽ được giảm 80% tiền thuê nhà ở xã hội, nhà ở cũ thuộc sở hữu nhà nước. Trường hợp ông M hiện đang sống cô đơn, không nơi nương tựa và có xác nhận của UBND cấp xã nơi có nhà ở thuê, thì ông sẽ được miễn tiền thuê nhà ở. 

    - Hỗ trợ giải quyết cho mua, thuê, thuê mua nhà ở xã hội không phải do Nhà nước đầu tư xây dựng theo quy định của pháp luật về nhà ở.

    - Hỗ trợ cho vay vốn ưu đãi của Nhà nước để mua, thuê mua nhà ở xã hội; xây dựng mới hoặc cải tạo, sửa chữa nhà để ở theo quy định của pháp luật về nhà ở.

    - Hỗ trợ kinh phí để cải tạo, sửa chữa hoặc xây dựng mới đối với nhà ở tạm hoặc nhà ở bị hư hỏng nặng. Chế độ hỗ trợ này được quy định chi tiết trong Điều 102 Nghị định 131/2021/NĐ-CP. 

    Bảy là, được giảm tiền sử dụng đất khi được Nhà nước giao đất ở, chuyển mục đích sử dụng đất sang đất ở, công nhận quyền sử dụng đất ở, khi được mua nhà ở thuộc sở hữu của Nhà nước.

    Theo quy định tại khoản 2 Điều 105 Nghị định 131/2021/NĐ-CP, ông M với tư cách là thương binh bị suy giảm 45% khả năng lao động sẽ được giảm 80% tiền sử dụng đất trong hạn mức giao đất ở khi Nhà nước giao đất ở, chuyển mục đích sử dụng đất sang đất ở, công nhận quyền sử dụng đất ở, khi được mua nhà ở thuộc sở hữu của Nhà nước.

    Tuy nhiên, việc miễn, giảm tiền sử dụng đất phải được thực hiện dựa trên các nguyên tắc thực hiện chính sách, chế độ ưu đãi người có công với cách mạng được quy định tại Điều 6 Pháp lệnh số 02/2020/UBTVQH14 và theo nguyên tắc quy định tại pháp luật về thu tiền sử dụng đất. 

    Ngoài ra, chế độ giảm tiền sử dụng đất đối với ông M chỉ áp dụng một lần cho một hộ gia đình và mức hỗ trợ tiền sử dụng đất được tính theo diện tích đất thực tế được giao nhưng tối đa không vượt quá định mức đất ở cho một hộ do UBND cấp tỉnh quy định; theo Khoản 2 Điều 106 Nghị định 131/2021/NĐ-CP. 

    Tám là, được ưu tiên giao đất hoặc cho thuê đất, mặt nước, khu vực biển, giao khoán bảo vệ và phát triển rừng thực hiện theo quy định của pháp luật về đất đai, biển, hải đảo, tài nguyên, bảo vệ và phát triển rừng.

    Chín là, được vay vốn ưu đãi để sản xuất, kinh doanh thực hiện theo quy định của pháp luật về tín dụng, ngân hàng.

    Mười là, được miễn hoặc giảm thuế thực hiện theo quy định của pháp luật về thuế và quản lý thuế.

    Mười một là, được Nhà nước hỗ trợ cơ sở vật chất ban đầu, bao gồm nhà xưởng, trường, lớp, trang bị, thiết bị, được vay vốn ưu đãi để sản xuất, kinh doanh, miễn hoặc giảm thuế theo quy định của pháp luật đối với cơ sở sản xuất, kinh doanh dành riêng cho thương binh.

    Mười hai là, thân nhân của ông M cũng được hưởng các chế độ, quyền lợi ưu đãi.

    Theo quy định tại Điều 25 Pháp lệnh số 02/2020/UBTVQH14 thì, với mức suy giảm khả năng lao động là 45% và thuộc đối tượng thương binh, thân nhân của ông M sẽ được hưởng các chế độ ưu đãi. Cụ thể con của ông M được uu tiên trong tuyển sinh, tạo việc làm và hỗ trợ để theo học đến trình độ đại học tại các cơ sở giáo dục thuộc hệ thống giáo dục quốc dân (chế độ, quyền lợi cụ thể được thực hiện theo các Điều từ 91 đến 98 Nghị định 131/2021/NĐ-CP và Điều 8 Nghị định 75/2021/NĐ-CP). 

    2. Quyền lợi an sinh xã hội của ông M khi bị tái phát vết thương chiến tranh, phải vào viện điều trị 2 tháng (tháng 12/2021 và tháng 1/2022) 

    Trường hợp 1: ông M không phải đối tượng nhận các loại trợ cấp dành cho quân nhân đã phục viên, xuất ngũ về địa phương quy định tại điểm đ khoản 4 Điều 2 Nghị định 115/2015/NĐ-CP

    Tháng 1/1997 ông M vào làm bảo vệ cho công ty X. Do ông M thuộc đối tượng người lao động phải tham gia BHXH bắt buộc nên tính đến tháng 12/2021, khi vào viện điều trị vết thương chiến tranh tái phát, ông M đã tham gia BHXH ở công ty X được 24 năm 11 tháng. Ngoài ra, trước khi làm việc tại Công ty X, ông đã có tham gia BHXH được chốt sổ là 5 năm công tác trong lực lượng vũ trang. 

    Do đó, tính đến tháng 12/2021, ông M đã có 24 năm 11 tháng + 5 năm = 29 năm 11 tháng đóng BHXH bắt buộc. 

    Với thời gian đóng BHXH như trên, khi vào viện điều trị vết thương chiến tranh tái phát 2 tháng, ông M được hưởng những quyền lợi như sau:

    Một là, được BHYT thanh toán 100% chi phí khám chữa bệnh BHYT và không áp dụng giới hạn tỷ lệ thanh toán thuốc, hóa chất, vật tư y tế và dịch vụ kỹ thuật theo quy định của Bộ trưởng Bộ Y tế.

    Kể từ thời điểm ông M vào làm bảo vệ cho công ty X (tháng 1/1997), ông M thuộc đối tượng tham gia BHYT nhóm do người lao động và người sử dụng lao động đóng (điểm a khoản 1 Điều 12 Luật BHYT 2008). Tuy nhiên, với tư cách là thương binh, ông M cũng thuộc đối tượng tham gia BHYT theo nhóm do ngân sách nhà nước đóng (người có công với cách mạng như phân tích ở trên). 

    Theo khoản 2 Điều 13 Luật BHYT 2008, trong trường hợp một người đồng thời thuộc nhiều đối tượng tham gia BHYT khác nhau thì đóng BHYT theo đối tượng đầu tiên mà người đó được xác định theo thứ tự của các đối tượng quy định tại Điều 12 của Luật. Do đó, ông M sẽ đóng BHYT theo đối tượng nhóm do người lao động và người sử dụng lao động đóng. Theo đó, việc đóng BHYT sẽ do ông M (tức người lao động) và Công ty X (tức người sử dụng lao động) cùng đóng. Mức đóng “tối đa bằng 6% tiền lương tháng, trong đó người sử dụng lao động đóng 2/3 và người lao động đóng 1/3” (theo điểm a, khoản 1 Điều 13 Luật BHYT 2008). 

    Tuy vậy, theo khoản 2 Điều 22 Luật BHYT 2008, trường hợp một người thuộc nhiều đối tượng tham gia BHYT thì được hưởng quyền lợi BHYT theo đối tượng có quyền lợi cao nhất; do đó, ông M được hưởng theo quyền lợi BHYT của thương binh. Theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 14 Nghị định 146/2018/NĐ-CP, ông M là thương binh khi điều trị vết thương tái phát sẽ được hưởng 100% chi phí khám bệnh, chữa bệnh và không áp dụng giới hạn tỷ lệ thanh toán thuốc, hóa chất, vật tư y tế và dịch vụ kỹ thuật theo quy định của Bộ trưởng Bộ Y tế.

    Hai là, được hưởng chế độ ốm đau của BHXH bắt buộc.

    Tháng 12/2021, ông M phải vào viện điều trị do vết thương chiến tranh tái phát. Theo Điều 25 Luật BHXH 2014, ông M sẽ được hưởng chế độ ốm đau của BHXH bắt buộc. Do thời gian đóng bảo hiểm xã hội của ông M tính đến tháng 12/2021 là 29 năm 11 tháng, theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 26 Luật BHXH 2014, thời gian tối đa hưởng chế độ ốm đau trong một năm của ông M là 40 ngày làm việc, không kể ngày nghỉ lễ, nghỉ Tết, ngày nghỉ hằng tuần.

    Theo dữ kiện đề bài, ông M nghỉ để điều trị vết thương chiến tranh tái phát trong vòng 2 tháng, vượt quá 40 ngày làm việc. Do đó, ông M chỉ được hưởng chế độ ốm đau trong 40 ngày làm việc. Thời gian còn lại, ông M không được hưởng chế độ ốm đau. 

    Về mức hưởng chế độ ốm đau của ông M, theo Khoản 1 Điều 6 Thông tư 59/2015/TT-BLĐTBXH, sửa đổi bổ sung bởi Thông tư số 06/2021/TT-BLĐTBXH, mức hưởng chế độ ốm đau của ông M được tính như sau: 

    Mức hưởng chế độ ốm đau = (Tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội của tháng liền kề trước khi nghỉ việc : 24 ngày) x 75% x số ngày nghỉ việc được hưởng chế độ ốm đau. Trong đó, số ngày nghỉ việc được hưởng chế độ ốm đau được tính theo ngày làm việc không kể ngày nghỉ lễ, nghỉ Tết, ngày nghỉ hằng tuần.

    Trường hợp 2: ông M là đối tượng nhận một trong các loại trợ cấp dành cho quân nhân đã phục viên, xuất ngũ về địa phương quy định tại điểm đ khoản 4 Điều 2 Nghị định 115/2015/NĐ-CP

    Trong trường hợp ông M là đối tượng nhận một trong các loại trợ cấp dành cho quân nhân đã phục viên, xuất ngũ về địa phương quy định tại điểm đ khoản 4 Điều 2 Nghị định 115/2015/NĐ-CP thì khi làm bảo vệ tại công ty X, ông M không thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc. 

    Trong trường hợp này, khi vào viện điều trị vết thương chiến tranh tái phát 2 tháng, ông M sẽ được BHYT thanh toán 100% chi phí khám chữa bệnh BHYT và không áp dụng giới hạn tỷ lệ thanh toán thuốc, hóa chất, vật tư y tế và dịch vụ kỹ thuật theo quy định của Bộ trưởng Bộ Y tế.

    3. Quyền lợi an sinh xã hội của ông M khi ra viện và được xác định suy giảm 61% khả năng lao động (từ tháng 2/2022 cho tới nay)

    Trường hợp 1: ông M không phải đối tượng nhận các loại trợ cấp dành cho quân nhân đã phục viên, xuất ngũ về địa phương quy định tại điểm đ khoản 4 Điều 2 Nghị định 115/2015/NĐ-CP

    Trong trường hợp này, như đã phân tích ở trên, ông M thuộc đối tượng tham gia đóng BHXH bắt buộc. Do đó, khi ra viện, ông M sẽ được dưỡng sức, phục hồi sức khỏe sau ốm đau.

    Theo quy định tại khoản 1 Điều 29 Luật BHXH 2014, người lao động đã nghỉ việc hưởng chế độ ốm đau đủ thời gian trong một năm, trong khoảng thời gian 30 ngày đầu trở lại làm việc mà sức khỏe chưa phục hồi thì được nghỉ dưỡng sức. Ông M đã nghỉ việc hưởng chế độ ốm đau đủ 40 ngày trong một năm nên sau khi ra viện, trong khoảng thời gian 30 ngày đầu trở lại làm việc mà sức khỏe chưa phục hồi thì ông M được nghỉ dưỡng sức, phục hồi sức khỏe. 

    Số ngày nghỉ dưỡng sức, phục hồi sức khỏe do người sử dụng lao động và Ban Chấp hành công đoàn cơ sở quyết định, trường hợp đơn vị sử dụng lao động chưa có công đoàn cơ sở thì do người sử dụng lao động quyết định, cụ thể:

    - Tối đa 07 ngày nếu ông M phải phẫu thuật;

    - Bằng 05 ngày đối với các trường hợp khác.

    Về mức hưởng dưỡng sức, phục hồi sức khỏe sau ốm đau; theo quy định tại khoản 3 Điều 29 Luật BHXH 2014, mức hưởng một ngày bằng 30% mức lương cơ sở. Ở thời điểm tháng 2/2022, mức lương cơ sở được xác định theo Nghị định 38/2019/NĐ-CP là 1.490.000 đồng/1 tháng. 

    Như vậy, mức hưởng chế độ dưỡng sức, phục hồi sức khoẻ sau ốm đau của ông M sẽ là: Số ngày nghỉ thực tế * 30% * 1.490.000 đồng.

    Mặt khác, so với thời điểm năm 1997 (chỉ suy giảm 45% khả năng lao động), sau khi phải vào viện điều trị vết thương tái phát trong 2 tháng (tháng 12/2021 và tháng 1/2022), ông M được xác định suy giảm 61% sức lao động. Với mức suy giảm này, chính sách ưu đãi xã hội của đối tượng thương binh đối với ông cũng sẽ có sự thay đổi. 

    Cụ thể, theo quy định tại Điều 24 Pháp lệnh ưu đãi người có công với cách mạng số 02/2020/UBTVQH14, ông M sẽ được hưởng các chế độ ưu đãi như sau: 

    Một là, được hưởng trợ cấp hàng tháng: 3.174.000 đồng/tháng

    Căn cứ theo Phụ lục II về mức hưởng trợ cấp ưu đãi hàng tháng đối với thương binh và người hưởng chính sách như thương binh, được quy định tại Nghị định số 75/2021/NĐ-CP về mức hưởng trợ cấp, phụ cấp và các chế độ ưu đãi đối với người có công với cách mạng; thì với mức suy giảm 61% khả năng lao động, ông M sẽ được hưởng mức trợ cấp hàng tháng là 3.174.000 đồng. 

    Hai là, hưởng quyền lợi BHYT theo đối tượng “người có công với cách mạng”

    Ông M vẫn thuộc đối tượng tham gia BHYT theo nhóm “người có công với cách mạng, cựu chiến binh” (tại điểm d, khoản 3, Điều 12 Luật BHYT 2008). Tuy nhiên, do tính tới thời điểm tháng 2/2022, tức là ngay sau khi ra viện, ông M vẫn đang làm việc tại Công ty X, do đó, ông vẫn cũng thuộc đối tượng tham gia BHYT theo nhóm “người lao động làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn, hợp đồng lao động có thời hạn từ đủ 3 tháng trở lên; người lao động là người quản lý doanh nghiệp hưởng tiền lương; cán bộ, công chức, viên chức (sau đây gọi chung là người lao động)” (tại điểm a, khoản 1, Điều 12 BHYT 2008). 

    Như đã trình bày ở trong mục 2, ông M sẽ đóng BHYT theo nhóm đối tượng người lao động và người sử dụng lao động đóng (điểm a khoản 1 Điều 12 Luật BHYT 2008). Tuy nhiên, về mức hưởng BHYT, ông M sẽ được hưởng quyền lợi BHYT theo đối tượng có quyền lợi cao nhất, tức là được hưởng theo nhóm đối tượng “người có công với cách mạng, cựu chiến binh”. 

    Ba là, được được hỗ trợ cải thiện nhà ở căn cứ vào công lao, hoàn cảnh hoặc khi có khó khăn về nhà ở.

    So với khi suy giảm 45% khả năng lao động, với mức suy giảm 61% khả năng lao động, ông M được hưởng mức hỗ trợ cao hơn khi thuê nhà ở xã hội, nhà ở cũ thuộc sở hữu nhà nước. Cụ thể, theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 100 Nghị định 131/2021/NĐ-CP, ông M sẽ được giảm 90% tiền thuê nhà ở xã hội, nhà ở cũ thuộc sở hữu nhà nước. Ngoài ra, các hỗ trợ khác tương tự như khi bị suy giảm 45% khả năng lao động.

    Bốn là, được giảm tiền sử dụng đất khi được Nhà nước giao đất ở, chuyển mục đích sử dụng đất sang đất ở, công nhận quyền sử dụng đất ở, khi được mua nhà ở thuộc sở hữu của Nhà nước.

    Theo quy định tại khoản 1 Điều 105 Nghị định 131/2021/NĐ-CP, ông M với tư cách là thương binh bị suy giảm 61% khả năng lao động sẽ được giảm 90% tiền sử dụng đất trong hạn mức giao đất ở khi Nhà nước giao đất ở, chuyển mục đích sử dụng đất sang đất ở, công nhận quyền sử dụng đất ở, khi được mua nhà ở thuộc sở hữu của Nhà nước.

    Năm là, được hưởng một số chế độ ưu đãi khác của thương binh như khi bị suy giảm 45% khả năng lao động.

    Khi được xác định bị suy giảm 61% khả năng lao động, ông M vẫn tiếp tục được hưởng một số chế độ ưu đãi khác như khi bị suy giảm 45% khả năng lao động đã phân tích ở Mục 1. Cụ thể là: 

    (1) được điều dưỡng phục hồi sức khoẻ hai năm một lần.

    (2) được cấp phương tiện trợ giúp, dụng cụ chỉnh hình, phương tiện, thiết bị phục hồi chức năng cần thiết theo chỉ định của cơ sở chỉnh hình, phục hồi chức năng thuộc ngành lao động - thương binh và xã hội hoặc của bệnh viện tuyến tỉnh trở lên.

    (3) được ưu tiên giao đất hoặc cho thuê đất, mặt nước, khu vực biển, giao khoán bảo vệ và phát triển rừng thực hiện theo quy định của pháp luật về đất đai, biển, hải đảo, tài nguyên, bảo vệ và phát triển rừng.

    (4) được vay vốn ưu đãi để sản xuất, kinh doanh thực hiện theo quy định của pháp luật về tín dụng, ngân hàng.

    (5) được miễn hoặc giảm thuế thực hiện theo quy định của pháp luật về thuế và quản lý thuế.

    (6) được Nhà nước hỗ trợ cơ sở vật chất ban đầu, bao gồm nhà xưởng, trường, lớp, trang bị, thiết bị, được vay vốn ưu đãi để sản xuất, kinh doanh, miễn hoặc giảm thuế theo quy định của pháp luật đối với cơ sở sản xuất, kinh doanh dành riêng cho thương binh.

    Sáu là, thân nhân của ông M được nhận thêm một số chế độ ưu đãi khác so với thời điểm ông bị suy giảm 45% khả năng lao động.

    Theo khoản 1 và khoản 2 Điều 25 của Pháp lệnh ưu đãi người có công với cách mạng số 02/2020/UBTVQH14, thì khi có tỷ lệ tổn thương cơ thể là 61%, thân nhân của ông M sẽ được hưởng thêm một số chế độ BHYT đối với cha đẻ, mẹ đẻ, vợ hoặc chồng, con từ đủ 06 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi hoặc từ đủ 18 tuổi trở lên nếu còn tiếp tục đi học hoặc bị khuyết tật nặng, khuyết tật đặc biệt nặng của ông M. 

    Ngoài ra, các chế độ ưu đãi đối với thân nhân của ông M như ưu tiên trong tuyển sinh, tạo việc làm; hỗ trợ để theo học đến trình độ đại học tại các cơ sở giáo dục thuộc hệ thống giáo dục quốc dân như đã được trình bày trong Mục 1 vẫn sẽ được áp dụng. 

    Trường hợp 2: ông M là đối tượng nhận một trong các loại trợ cấp dành cho quân nhân đã phục viên, xuất ngũ về địa phương quy định tại điểm đ khoản 4 Điều 2 Nghị định 115/2015/NĐ-CP

    Trong trường hợp này, như đã phân tích ở trên, ông M không thuộc đối tượng tham gia BHXH bắt buộc. Do đó, ông M không được hưởng chế độ dưỡng sức, phục hồi sức khỏe. Tuy vậy, ông M vẫn được hưởng các quyền lợi theo chế độ của thương binh bị suy giảm 61% khả năng lao động như đã phân tích ở trên. Ngoài ra, khác với trường hợp thuộc đối tượng tham gia BHXH bắt buộc ở trên, trong trường hợp này, ông M tham gia BHYT theo diện người có công với cách mạng, do ngân sách nhà nước đóng.

    4. Quyền lợi an sinh xã hội của ông M khi xin nghỉ việc (từ tháng 3/2022 cho tới nay)

    Trường hợp 1: ông M không phải đối tượng nhận các loại trợ cấp dành cho quân nhân đã phục viên, xuất ngũ về địa phương quy định tại điểm đ khoản 4 Điều 2 Nghị định 115/2015/NĐ-CP

    Do sức khỏe suy yếu, nên sau khi ra viện, ông M chỉ làm việc cho Công ty X khoảng 1 tháng (từ tháng 2/2022 đến tháng 3/2022). Sau đó, ông M đã viết đơn xin nghỉ việc. Như vậy, bên cạnh những chế độ ưu đãi đối với thương binh, chế độ an sinh xã hội mà ông M được hưởng cũng có một số thay đổi sau đây: 

    Một là, được hưởng lương hưu theo diện đối tượng suy giảm khả năng lao động (theo Điều 55 Luật BHXH 2014)

    Tính từ thời điểm ông M làm bảo vệ tại Công ty X (tháng 1/1997), cho tới thời điểm ông xin nghỉ việc (tháng 3/2022), trừ đi 2 tháng phải điều trị bệnh tái phát do vết thương chiến tranh (tháng 12/2011 và tháng 1/2022) không đóng BHXH, thì tổng thời gian tham gia BHXH bắt buộc của ông M tại Công ty X là: 25 năm 2 tháng - 2 tháng = 25 năm. Ngoài ra, theo dữ kiện đề bài cho, ông cũng có thời gian công tác trong lực lượng vũ trang có tham gia BHXH được chốt sổ là 5 năm. Do đó, tổng cộng thời gian tham gia BHXH của ông M cho tới thời điểm nghỉ hưu là: 30 năm tròn. 

    Ở thời điểm nghỉ hưu, ông M mới chỉ 57 tuổi. Theo khoản 2 Điều 169 Bộ Luật lao động năm 2019, tuổi nghỉ hưu đối với lao động nam ở thời điểm năm 2022 là 60 tuổi 6 tháng. Như vậy, ông M chưa đáp ứng được điều kiện về tuổi nghỉ hưu để được hưởng lương hưu theo quy định tại Điều 54 Luật BHXH 2014. 

    Tuy nhiên, do ông M bị suy giảm 61% khả năng lao động, nên căn cứ theo điểm a khoản 1 Điều 55 Luật BHXH 2014, nếu ông M khi nghỉ việc đã có đủ 20 năm đóng BHXH trở lên, và “có tuổi thấp hơn tối đa 05 tuổi so với tuổi nghỉ hưu quy định tại khoản 2 Điều 169 của Bộ luật lao động 2019”, thì ông vẫn được hưởng lương hưu nhưng với mức thấp hơn so với người lao động đủ điều kiện hưởng lương hưu theo khoản 1 Điều 54. 

    Hiện nay, ông M đã có trên 20 năm đóng BHXH (30 năm), đồng thời cũng đáp ứng được điều kiện về độ tuổi hưởng lương hưu trong trường hợp suy giảm khả năng lao động (cao hơn 55 tuổi 6 tháng vào thời điểm năm 2022); do đó, ông M sẽ được hưởng lương hưu hàng tháng. 

    Về mức hưởng lương hưu hàng tháng, do ông M nghỉ hưu vào năm 2022, nên mức lương hưu hàng tháng của ông sẽ được tính bằng 45% mức bình quân tiền lương tháng đóng BHXH cho 20 năm đầu; sau đó, với 10 năm tiếp theo, mỗi năm ông sẽ được cộng thêm 2%. Tuy vậy, do ông thuộc đối tượng hưởng lương hưu do bị suy giảm khả năng lao động từ 61%, nên ông sẽ bị trừ đi 2% với mỗi năm nghỉ hưu trước tuổi. 

    Như vậy, mức tiền lương hàng tháng của ông M sẽ bằng: 45% + (30 - 20)*2% - 3*2% - 1% = 58% mức bình quân tiền lương tháng đóng BHXH. 

    Mức bình quân tiền lương tháng đóng BHXH để làm căn cứ tính lương hưu hàng tháng cho ông M sẽ được tính theo quy định tại Điều 62 Luật BHXH 2014. Theo đó, do ông M vừa có thời gian đóng BHXH thuộc đối tượng thực hiện chế độ tiền lương do Nhà nước quy định (5 năm công tác trong lực lượng vũ trang), vừa có thời gian đóng BHXH theo chế độ tiền lương do người sử dụng lao động quyết định (25 năm làm bảo vệ tại Công ty X), nên sẽ tính bình quân tiền lương tháng đóng BHXH chung của các thời gian; theo quy định tại khoản 3 Điều 62 của Luật BHXH 2014. 

    Hai là, được BHXH đóng BHYT.

    Như đã trình bày ở trên, ông M vẫn sẽ thuộc đối tượng tham gia BHYT theo nhóm “người có công với cách mạng, cựu chiến binh” (tại điểm d khoản 3 Điều 12 Luật BHYT 2008). Tuy nhiên, tính từ thời điểm tháng 3/2022, ông M xin nghỉ việc và hưởng lương hưu hàng tháng, nên ông không còn thuộc đối tượng người lao động tham gia BHYT theo điểm a khoản 1 Điều 12 Luật BHYT 2008 nữa mà sẽ thuộc đối tượng “người hưởng lương hưu, trợ cấp mất sức lao động hàng tháng”, theo điểm a khoản 2 Điều 12 của Luật này. 

    Như vậy, tính từ thời điểm tháng 3/2022, tổ chức BHXH sẽ đóng BHYT cho ông M. Mức đóng hàng tháng “tối đa bằng 6% tiền lương hưu”. 

    Tuy nhiên, do đối tượng “người hưởng lương hưu, trợ cấp mất sức lao động” không có mức hưởng quyền lợi BHYT cao như đối tượng “người có công với cách mạng, cựu chiến binh”, nên ông M vẫn sẽ tiếp tục được hưởng quyền lợi BHYT theo đối tượng có quyền lợi cao nhất, tức là được hưởng theo nhóm đối tượng “người có công với cách mạng, cựu chiến binh”, theo khoản 2 Điều 22 Luật BHYT 2008. 

    Ngoài ra, ông M vẫn được hưởng mọi chế độ ưu đãi người có công với cách mạng dành cho đối tượng thương binh như đã phân tích ở Mục 3. 

    Trường hợp 2: ông M là đối tượng nhận một trong các loại trợ cấp dành cho quân nhân đã phục viên, xuất ngũ về địa phương quy định tại điểm đ khoản 4 Điều 2 Nghị định 115/2015/NĐ-CP

    Trong trường hợp khi làm bảo vệ tại công ty X, ông M không thuộc đối tượng tham gia BHXH bắt buộc thì khi ông M xin nghỉ việc sẽ xảy ra 02 trường hợp như sau:

    Trường hợp 2.1: Ông M có tham gia BHXH tự nguyện trong thời gian làm bảo vệ tại công ty X

    Trong trường hợp này, tính đến tháng 3/2022 khi xin nghỉ việc, thời gian đóng BHXH của ông M là 30 năm 2 tháng (tính cả 2 tháng ông M nằm viện), trong đó thời gian đóng BHXH bắt buộc là 5 năm, thời gian đóng BHXH tự nguyện là 25 năm 2 tháng.

    Theo quy định tại khoản 2 Điều 4 Thông tư 01/2016/TT-BLĐTBXH, trường hợp người tham gia BHXH tự nguyện có thời gian tính hưởng chế độ hưu trí từ đủ 20 năm trở lên, trong đó có dưới 20 năm đóng BHXH bắt buộc thì điều kiện về tuổi đời hưởng lương hưu là nam đủ 60 tuổi. Khi xin nghỉ việc, ông M mới có 57 tuổi. Do đó, ông M chưa đủ điều kiện để hưởng lương hưu vào thời điểm nghỉ việc. Ông M phải bảo lưu thời gian đóng BHXH chờ tới khi đủ tuổi hưởng lương hưu để hưởng lương hưu hàng tháng. Khi đủ tuổi hưởng lương hưu, ông M được hưởng các quyền lợi:

    Thứ nhất, được hưởng lương hưu hàng tháng.

    Mức lương hưu hàng tháng của ông M = 45% + (30 – 20).2% + 1% = 66% mức bình quân thu nhập tháng đóng BHXH.  

    Thứ hai, được BHXH đóng BHYT.

    Cũng tương tự như đã phân tích ở trường hợp 1, khi hưởng lương hưu, ông M sẽ được BHXH đóng BHYT.

    Trường hợp 2.2: Ông M không tham gia BHXH tự nguyện trong thời gian làm bảo vệ tại công ty X

    Trong trường hợp này, tính đến tháng 3/2022 khi xin nghỉ việc, thời gian đóng BHXH của ông M là 5 năm. Với thời gian đóng BHXH này, ông M có thể yêu cầu hưởng BHXH một lần. Mức hưởng BHXH một lần được tính theo số năm đã đóng BHXH. Cụ thể, ông M được hưởng 1,5 tháng x 5 = 7,5 tháng mức bình quân thu nhập tháng đóng BHXH cho những năm đóng trước năm 2014.

    Ngoài ra trong các trường hợp này, ông M vẫn được hưởng mọi chế độ ưu đãi người có công với cách mạng dành cho đối tượng thương binh như đã phân tích ở Mục 3. 

    DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

    1. Luật Bảo hiểm xã hội 2014; sửa đổi, bổ sung năm 2019

    2. Luật Bảo hiểm y tế 2008; sửa đổi, bổ sung các năm 2013, 2014, 2015, 2018, 2020

    3. Bộ luật Lao động 2019

    4. Pháp lệnh số 02/2020/UBTVQH14 về ưu đãi người có công với cách mạng

    5. Nghị định 75/2021/NĐ-CP quy định mức hưởng trợ cấp, phụ cấp và các chế độ ưu đãi người có công với cách mạng

    6. Nghị định 131/2021/NĐ-CP quy định chi tiết và biện pháp thi hành pháp lệnh ưu đãi người có công với cách mạng

    7. Nghị định 115/2015/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều của Luật Bảo hiểm xã hội về bảo hiểm xã hội bắt buộc

    8. Thông tư 01/2016/TT-BLĐTBXH quy định chi tiết một số điều của Luật Bảo hiểm xã hội về bảo hiểm xã hội tự nguyện

    Xem thêm: TỔNG HỢP BÀI TẬP NHÓM - BÀI TẬP LỚN - BÀI TẬP CÁ NHÂN - TIỂU LUẬN CÁC MÔN HLU

    Nếu bạn thấy những chia sẻ của mình hữu ích thì có thể donate ủng hộ mình 01 ly trà sữa nha: BIDV 4603463395

    Continue Reading
    Newer
    Stories
    Older
    Stories

    About me

    REY A law practitioner

    Một người trẻ đam mê và đang trên con đường theo đuổi ngành Luật. Tốt nghiệp Cử nhân Luật tại HLU và đang học Luật sư & Thạc sĩ Luật. Read More

    Donate me

    Nếu bạn thấy những chia sẻ của mình hữu ích thì có thể donate ủng hộ mình 01 ly trà sữa nha:
    BIDV

    Follow me on Facebook

    Follow me on Youtube

    Labels

    CHUYỆN ĐI LÀM (3) ĐỀ THI HẾT MÔN (14) HỌC LUẬT Ở HLU (6) HỌC LUẬT SƯ (6) LUẬT HÀNH CHÍNH (47) LÝ LUẬN CHUNG (111) TIỂU LUẬN (50)

    Cảm ơn đã ghé thăm

    recent posts

    Popular Posts

    • Phân tích đặc trưng cơ bản của nhà nước. Trên cơ sở đó, làm sáng tỏ biểu hiện một đặc trưng của nhà nước Việt Nam hiện nay.
    • 80 CÂU VẤN ĐÁP LÝ LUẬN CHUNG VỀ NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT (có đáp án)

    Blog Archive

    • tháng 8 2025 (1)
    • tháng 6 2024 (2)
    • tháng 3 2024 (2)
    • tháng 2 2024 (1)
    • tháng 1 2024 (8)
    • tháng 10 2023 (30)
    • tháng 9 2023 (115)
    • tháng 8 2023 (73)
    facebook youtube

    Created with by BeautyTemplates

    Back to top