Được tạo bởi Blogger.
facebook youtube

Rey & Law

    • Home
    • HỌC LUẬT Ở HLU
    • HỌC LUẬT SƯ
    • HỌC THẠC SĨ
    • CHUYỆN ĐI LÀM
    • TỰ HỌC LUẬT


     

    ĐỀ THI KẾT THÚC HỌC PHẦN

    MÔN KỸ NĂNG ĐẠI DIỆN NGOÀI TỐ TỤNG, THAM GIA GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP NGOÀI TÒA ÁN VÀ CUNG CẤP DỊCH VỤ PHÁP LÝ KHÁC

    Thời gian làm bài: 150 phút

    ĐỀ 1

    Tháng 11/2021, CTCP BĐS Hưng Thịnh (“Hưng Thịnh”) và bà Phượng xác lập Hợp đồng mua bán căn hộ chung cư (“Hợp đồng”). Theo đó, Hưng Thịnh là bên bán và bà Phượng là bên mua căn hộ chung cư (“Căn hộ”). Hợp đồng do Hưng Thịnh soạn sẵn có một số nội dung đáng lưu ý như sau:

    - Đối tượng Hợp đồng là Căn hộ của dự án nhà ở xã hội;

    - Giá trị Hợp đồng mua bán Căn hộ là 821.620.800 VNĐ;

    - Các tranh chấp phát sinh từ Hợp đồng có thể được giải quyết tại Tòa án hoặc Trọng tài. Nếu vụ việc được giải quyết tại Trọng tài, các bên đồng ý rằng nơi giải quyết sẽ là Trung tâm trọng tài Quốc tế Việt Nam, bên cạnh Phòng Thương mại và công nghiệp Việt Nam.

    Trong quá trình thực hiện Hợp đồng, hai bên có xảy ra tranh chấp nên bà Phượng đến VPLS của anh (chị) để nhở tư vấn.

    Câu hỏi 1 (1,5 điểm): Theo LTTM, bà Phượng có quyền lựa chọn Tòa án để giải quyết khi phát sinh tranh chấp, kể cả khi có thỏa thuận trọng tài như tình huống nếu trên hay không?

    Tình tiết bổ sung

    Tháng 12/2021, bà Phượng đã ký Phụ lục Hợp đồng (“Phụ lục”) mà không có sự tư vấn của luật sư, nội dung về điều khoản giải quyết tranh chấp trong Phụ lục được các bên thỏa thuận như sau: “Bất kể các tranh chấp phát sinh từ thỏa thuận này, hoặc từ Hợp đồng mua bán căn hộ, các bên có thể giải quyết với nhau bằng thương lượng hoặc hòa giải. Trường hợp không thành, các bên có thể đệ trình vụ tranh chấp để được giải quyết tại Tòa án hoặc Trọng tài.”

    Câu hỏi 2 (2,5 điểm):

    a)     Theo anh chị, trong trường hợp bà Phương không thực hiện thủ tục thương lượng hoặc hòa giải trước khi khởi kiện tại trọng tài hoặc tòa án thì Trọng tài hoặc tòa án có thụ lý vụ tranh chấp không?

    b)    Trong trường hợp bà Phượng không thực hiện thủ tục thương lượng hoặc hòa giải trước mà tiến hành khởi kiện tại trọng tài hoặc tòa án thì chế tài xử lý vi phạm như thế nào?

    Tình tiết bổ sung

    Bà Phượng khởi kiện Hưng Thịnh ra Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam vì không bàn giao căn hộ đúng thời hạn như đã cam kết trong Hợp đồng. Hai bên tranh chấp không thỏa thuận hay yêu cầu khác nên Hội đồng trọng tài gồm có 3 TTV. Bị đơn (Hưng Thịnh) đã chọn một TTV theo yêu cầu của Trung tâm trọng tài nhưng bà Phượng không đồng ý TTV do Bị đơn chọn này.

    Câu hỏi 3 (2,5 điểm): Theo anh chị, trường hợp bà Phượng không đồng ý TTV do bên kia chọn thì phải xử lý như thế nào?

    Tình tiết bổ sung

    Nguyên đơn và Bị đơn đã ký Hợp đồng và Phụ lục với thỏa thuận trọng tài nêu trên. Ông Toàn là bên bảo lãnh cho Hưng Thịnh cam kết thời hạn bàn giao căn hộ và bồi thường thiệt hại cũng như phạt vi phạm hợp đồng do việc chậm bàn giao Căn hộ gây ra theo Hợp đồng bảo lãnh ký kết giữa ông và Hưng Thịnh.

    Câu hỏi 4 (1,5 điểm): Ông Toàn có được triệu tập với tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan hay không?

    Câu hỏi 5 (2 điểm): Anh chị hãy phân tích các vấn đề pháp lý liên quan đến hiệu lực của thỏa thuận trọng tài?

    _______________________________________

    ĐỀ 2

    Ngày 28/5/2023, ông Nguyễn Hữu Trung đến VPLS gặp anh chị và trình bày: Ông nhận được Thông báo về việc thụ lý vụ án của TAND Quận BT, TP. H về việc bà Trần Thu Hà khởi kiện ông. Nội dung đơn khởi kiện của bà Hà như sau: Vợ chồng ông Trung là chủ sở hữu căn hộ 10.20 Chung cư M, phường 27, Quận BT, TP. H. Ngày 20/11/2021, bà Trần Thu Hà và ông Trung đã ký kết hợp đồng đặt cọc mua bán căn hộ 10.20 Chung cư M, phường 27, Quận BT, TP. H. Hai bên ký kết đặt cọc bằng giấy tay. Theo thỏa thuận tại hợp đồng đặt cọc thì giá mua bán căn nhà trên là 2,7 tỷ đồng, đặc cọc số tiền 10% là 270 triệu và trong vòng 30 ngày kể từ ngày đặt cọc (tức ngày 20/12/2021) thì hai bên sẽ ra Văn phòng công chứng X để hoàn tất thủ tục mua bán. Nếu bên mua đổi ý không mua thì bị mất tiền cọc, còn bên bán đổi ý không bán thì phải bồi thường số tiền 270 triệu đồng cộng với số tiền đặt cọc 270 triệu đồng. Cùng ngày 20/11/2021, bà Hà đã chuyển khoản số tiền 270 triệu vào tài khoản của ông với nội dung chuyển tiền là “Đặt cọc mua nhà”. Đến thời hạn ký hợp đồng mua bán nhà ông Trung đã vi phạm thỏa thuận, không tiến hành ký hợp đồng công chứng với bà, bà đã liên lạc với ông Trung nhiều lần nhưng ông Trung từ chối không gặp. Do đó, bà Hà khởi kiện yêu cầu ông Trung trả cho bà số tiền đặt cọc là 270 triệu đồng, tiền phạt cọc 270 triệu đồng, đồng thời bà yêu cầu ông Trung bồi thường thiệt hại thực tế phát sinh do phải thuê Luật sư tham gia vụ kiện là 30 triệu đồng; tiền lãi do việc ông Trung chậm trả tiền cho bà từ ngày 20/12/2021 đến ngày xét xử sơ thẩm theo lãi suất của Ngân hàng.

    Ông Trung không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của bà Hà vì ông không có lỗi trong việc thực hiện hợp đồng đặt cọc.

    Ông Trung hiện đang làm nhân viên kinh doanh nên công việc rất bận. Với các yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn trên đây, ông Trung đề nghị với anh chị nội dung công việc như sau: Ông Trung sẽ ủy quyền cho anh chị được toàn quyền thay mặt ông tham gia tố tụng tại Tòa án để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho ông Trung.

    Câu 1 (2,5 điểm): Anh chị hãy xác định các vấn đề cần trao đổi với ông Trung trước khi thực hiện công việc đại diện theo ủy quyền?

    Tình tiết bổ sung

    Qua trao đổi với ông Trung và nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ do ông Trung cung cấp, anh chị được biết: Ngày 20/11/2021, ông có ký kết hợp đồng đặt cọc về việc mua bán căn 10.20 Chung cư M với bà Hà. Căn nhà này là tài sản chung của vợ chồng ông. Nội dung đặt cọc đúng như bà Hà đã trình bày. Đến ngày 20/12/2021, ông có đến Văn phòng công chứng X nhưng không gặp bà Hà ở đây và sau đó, ông có liên lạc với bà Hà để ký hợp đồng công chứng nhưng bà Hà không trả lời. Do bà Hà tự ý chấm dứt hợp đồng và cần tiền để trả nợ nên ngày 30/12/2021, vợ chồng ông đã bán căn nhà trên cho ông Nguyễn Thành Sơn và đã giao nhà cho người mua. Ngay bà Hà khởi kiện yêu cầu ông trả tiền cọc và phạt cọc, bồi thường các khoản thiệt hại khác thì ông không đồng ý. Lý do là bà Hà tự ý chấm dứt hợp đồng, việc này có bà Phạm Thu Lan là người môi giới làm chứng.

    Câu 2 (2,0 điểm): Là người đại diện theo ủy quyền của ông Trung, anh chị hãy giúp ông Trung soạn thảo nội dung cơ bản của văn bản trình bày ý kiến của bị đơn đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn để nộp cho Tòa án theo Thông báo về việc thụ lý vụ án.

    Câu 3 (1,5 điểm): Anh chị hãy xác định chứng cứ cần thu thập để nộp cho Tòa án.

    Tình tiết bổ sung

    Tại bản tự khai ngày 15/7/2023, người làm chứng bà Phạm Thu Lan trình bày: Bà là bên môi giới nhà đất. Khi bà Hà xem nhà để đặt cọc thì nhà ông Trung đang sửa chữa, tình trạng nhà rất bừa bộn. Ông Trung có đưa cho bà Hà xem một bản photo giấy chứng nhận quyền sở hữu căn hộ. Sau khi xem xong, bà Hà đã đặt cọc mua nhà. Tại buổi đặt cọc mua nhà, bà có nói ông Trugn sửa chữa nhà hoàn chỉnh để giao cho bà Hà ngay sau khi ký Hợp đồng mua bán tại Văn phòng công chứng X. Ông Trung đồng ý và hứa sẽ sửa nhà, giao nhà đã hoàn thiện. Sau ngày đặt cọc, bà Hà có qua kiểm tra tình trạng sửa chữa nhà và nhiều lần liên hệ với ông Trung nhưng ông Trung bận đi công tác nên không gặp được. Bà Hà lo sợ việc sửa nhà không kịp tiến độ, ông Trung lại không quan tâm đôn đốc việc sửa nhà nên đến ngày 15/12/2021, bà đã đến nhà ông Trung yêu cầu trả cọc nhưng ông Trung nói đã sử dụng hết số tiền đặt cọc của bà Hà nên không có tiền trả lại cho bà Hà. Ngày 20/12/2021, theo cam kết của hợp đồng đặt cọc để ra công chứng hợp đồng mua bán nhà, ông Trung, vợ ông Trung và bà có đến Văn phòng công chứng X chờ bà Hà từ 8h đến 10h nhưng điện thoại của bà Hà không liên lạc được nên cả 3 người ra về. Bà cam đoan lời khai của bà là đúng sự thật.

    Tại bản tự khai ngày 17/8/2023, bà Phạm Thúy Nga, là vợ ông Trung trình bày: Trong khoản thời gian ký kết hợp đồng đặt cọc giữa 2 bên, căn hộ của vợ chồng bà đang được thế chấp tại Ngân hàng. Việc đặt cọc mua nhà giữa bà Hà và ông Trung bà không biết, bà không ký giấy đặt cọc và không cầm tiền đặt cọc, đề nghị Tòa án giải quyết theo pháp luật. Bà bận công việc nên đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt.

    Bà Hà có lời khai như sau: Ngày 15/12/2021, bà có đến nhà ông Trung để yêu cầu trả lại tiền cọc vì nhìn thấy tiến độ sửa nhà của ông Trung chắc chắn không đảm bảo cho việc đến ngày 20/12/2021 hia bên có thể bàn giao nhà. Ông Trung có nói là đồng ý trả lại tiền cọc nhưng vì ông đã dùng tiền đặt cọc của bà để trả nợ rồi nên không còn tiền để trả cho bà ngay, đợi ông bán nhà cho người khác sẽ trả lại. Mặc dù vậy, đến ngày ký hợp đồng mua bán tai Văn phòng công chứng X, bà vẫn đến nhưng không thấy ông Trung. Bà gọi điện cho ông Trung thì ông Trung nói là vợ chồng ông Trung và người môi giới đã đến Văn phòng công chứng X nhưng bà không tới nên đã về. Thông tin của ông Trung là không đúng. Hợp nữa, khi ký hợp đồng đặt cọc, căn hộ này đang thế chấp tại Ngân hàng và vợ ông Trung là bà Nga không ký nên ông Trung hoàn toàn có lỗi nên phải trả cọc và bồi thường cho bà.

    Tài liệu hồ sơ thể hiện: Theo công văn số 331/2023/CVTL ngày 26/8/2023 của Ngân hàng thương mại cổ phần M xác định: tại thời điểm ngày 20/11/2021 thì căn hộ 10.20 Chung cư M, phường 27, quận BT, TP. H là tài sản chung của ông Trung, bà Hà đang thế chấp tại Ngân hàng thương mại cổ phần M để đảm bảo cho khoản vay 800 triệu. Đến ngày 17/12/2022, ông Trung, bà Nga mới tiến hành thanh lý hợp đồng tín dụng và giải chấp tài sản. Ngân hàng thương mại cổ phần M không nhận được thông báo nào của ông Trung, bà Nga về việc nhận đặt cọc mua bán căn hộ nói trên.

    Câu 4 (2,0 điểm): Anh chị hãy xác định các vấn đề cần phải chứng minh của vụ án?

    Tình tiết bổ sung

    Hòa giải không thành, Tòa án quyết định mở phiên tòa sơ thẩm vào ngày 29/9/2023. Ngày 14/9/2023, anh chị nhận được thông tin về việc ông Trung đột ngột qua đời vì tai nạn giao thông. 

    Câu 5 (2,0 điểm): Nêu hướng xử lý tiếp theo của anh chị với tư cách là người đại diện theo ủy quyền của ông Trung?

    __________________________

    ĐỀ 3

    Ngày 14/02/2024, chị Hoàng Thị Ngân đến VPLS gặp anh chị và trình bày: chị Ngân kết hôn với anh Trần Văn Khang theo GCN kết hôn ngày 20/3/2016 tại UBND phường A, thị xã B, tỉnh C. Ngày 25/4/2017, anh Khang đi công tác ở Hàn Quốc. Ngày 25/8/2017, anh Khang trở về Việt Nam. Ngày 02/10/2017, chị Ngân sinh cháu Mừng có đăng ký khai sinh cha là anh Khang.

    Kể từ khi anh Khang đi làm xa về, cuộc sống vợ chồng của chị Ngân và anh Khang thường xuyên mâu thuẫn. Anh Khang nghi ngờ chị Ngân không chung thủy với mình, ngoại tình với anh Nguyễn Văn Hùng (trước khi kết hôn với anh Khang, chị Ngân và anh Hùng có tình yêu nam nữ với nhau). Hai vợ chồng thường xuyên mâu thuẫn, đỉnh điểm nhất là ngày 18/9/2020, anh Khang đánh chị Ngân nên chị Ngân bế con bỏ về nhà cha mẹ ruột ở. Một tháng sau đó, anh Khang lại qua xin lỗi và đưa mẹ con chị Ngân về sống chung. Ngày 05/02/2021, chị Ngân sinh cháu Hoa có đăng ký khai sinh ghi cha là anh Khang.

    Trong quá trình chung sống, chị Ngân và anh Khang tạo lập được 1 căn nhà cấp 4 có diện tích là 80m2 tại phường A, thị xã B, tỉnh C, xe ô tô hiệu Toyota đang cho thuê, chiếc xe máy Honda hiệu Vision, tủ lạnh, máy giặt, tivi, bộ bàn ghế bằng gỗ.

    Kể từ khi sinh con thứ hai, mâu thuẫn trong cuộc sống vợ chồng của chị Ngân và anh Khang phát sinh nhiều hơn. Anh Khang cho rằng chị Ngân không hết lòng với mình, bí mật để tiền riêng mà không nói cho anh biết. Anh luôn nghi ngờ chị Ngân ngoại tình, anh còn nói cháu Mừng không phải con anh với nhiều người và anh nghi ngờ là con của anh Hùng và anh đã đánh chị Ngân.

    Chị Ngân nhận thấy cuộc sống chung của vợ chồng rất ngột ngạt, không có hạnh phúc, anh Khang không tôn trọng chị, tình cảm vợ chồng không còn. Đến nay, chị Ngân không còn yêu thương anh Khang nữa nên chị muốn khởi kiện ly hôn với anh Khang, chị muốn được nuôi 02 con và yêu cầu anh Khang cấp dưỡng nuôi 02 con là 4.000.000 đồng/tháng cho đến khi 02 con đến tuổi trưởng thành và có việc làm ổn định, tài sản chung là nhà đất, chị muốn chi đôi theo quy định của pháp luật, các tài sản khác còn lại thì vợ chồng tự thỏa thuận.

    Chị Ngân đang là giáo viên tiểu học nên rất bận. Với các yêu cầu khởi kiện trên đây, chị đề nghị với anh chị nội dung công việc như sau: Chị ngân sẽ ủy quyền cho anh chị được toàn quyền thay mặt chị thực hiện thủ tục khỏi kiện tại Tòa án (soạn thảo đơn và chuẩn bị hồ sơ khởi kiện), toàn quyền thay mặt chị tham gia tố tụng tại Tòa án để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho chị và các con của chị.

    Câu 1 (2 điểm): Anh chị nêu ý kiến nhận xét của anh chị về đề nghị trên của chị Ngân?

    Câu 2 (2 điểm): Anh chị hãy xác định các vấn đề cần trao đổi với chị Ngân trước khi thực hiện công việc đại diện theo ủy quyền?

    Tình tiết bổ sung

    Tòa án có thẩm quyền đã thụ lý vụ án. Anh chị tham gia tố tụng tại Tòa án với tư cách là người được ủy quyền theo quy định của pháp luật.

    Trong quá trình Tòa án có thẩm quyền giải quyết vụ án, anh Khang đồng ý ly hôn với chị Ngân vì anh thấy mâu thuẫn của vợ chồng kéo dài không thể hàn gắn được. Về con chung, anh Khang yêu cầu Tòa án giải quyết công nhận anh không phải là cha ruột của cháu Mừng, anh Khang yêu cầu anh và chị Ngân mỗi người nuôi một trẻ, anh Khang đề nghị được nuôi cháu Hoa, giao cháu Mừng cho chị Ngân nuôi dưỡng, không bên nào phải cấp dưỡng nuôi con cho bên nào vì cháu Mừng không phải con ruột của anh. Ngoài ra, anh Khang còn có yêu cầu Tòa án giải quyết đính chính, sửa đổi lại thông tin xác định anh không phải là cha của cháu Mừng ghi trên Giấy khai sinh của cháu Mừng do UBND phường A, thị xã B, tỉnh C cấp (nơi anh Khang cư trú).

    Về căn nhà cấp 4, anh Khang trình bay như sau: Căn nhà đã được Nhà nước cấp GCNQSDĐ, quyền sở hữu nhà ở cho vợ chồng anh, tuy nhiên, nguồn gốc đất là do bố mẹ anh là ông Trần Văn Nam và bà Nguyễn Thị Thủy đã đi tìm đất để mua, giao đất cho vợ chồng anh ở nhờ, vợ chồng anh chỉ bỏ tiền ra xây dựng căn nhà cấp 4 trên đất. Số tiền xây dựng nhà là 150 triệu đồng, anh có vay của chị anh là chị Trần Thị Hòa số tiền 60 triệu đồng. Anh đề nghị Tòa án triệu tập bố mẹ và chị của anh là người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan. Đối với tài sản chung khác, anh Khang thống nhất để vợ chồng tự thỏa thuận phân chia và không yêu cầu Tòa án giải quyết.

    Ông Trần Văn Nam, bà Nguyễn Thị Thủy đã nộp đơn yêu cầu độc lập đến Tòa án công nhận quyền sử dụng đất hợp pháp của ông bà. Tòa án đã thụ lý yêu cầu độc lập theo quy định. Ông Nam, bà Thủy đã ủy quyền cho Luật sư A tham gia tố tụng.

    Tại bản tự khai, Luật sư A tham gia tố tụng với tư cách là người đại diện theo ủy quyền cho ông Nam, bà Thủy trình bày ý kiến sau: Về yêu cầu ly hôn, nuôi con, thỏa thuận phân chia tài sản chung của vợ chồng anh Khang, chị Ngân, ông Nam và bà Thủy đồng ý. Đối với yêu cầu sửa đổi lại thông tin xác định anh Khang không phải cha đẻ của cháu Mừng, ông bà không đồng ý vì yêu cầu này của anh Khang không có cơ sở. Đối với yêu cầu độc lập, đề nghị Tòa công nhận 80m2 đất thuộc quyền sử dụng hợp pháp cho ông bà. Nếu vợ chồng anh Khang không hoàn trả được đất thì trả lại tiền cho ông bà theo giá thị trường hiện nay.

    Câu 3 (2,0 điểm): Là người đại diện theo ủy quyền của ông Nam, bà Thủy, theo anh chị Luật sư A cần phải thu thập tài liệu, chứng cứ gì?

    Câu 4 (2,0 điểm): Nêu ý kiến nhận xét của anh chị về nội dung bản tự khai trên đây của người đại diện theo ủy quyền của ông Nam, bà Thủy?

    Tình tiết bổ sung

    Ngày 04/4/2024, chị Ngân gặp anh chị và tiếp tục trình bày: Anh Khang vì ghen tuông vô cớ nên đã nhiều lần có lời lẽ xúc phạm danh dự của chị và đánh chị ở nơi đông người. Chị thừa nhận trước khi kết hôn, chị và anh Hùng là 2 người yêu nhau nhiều năm. Tuy nhiên, sau khi kết hôn, chị một mực chung thủy với anh Khang. Vì anh Khang nghi ngờ cháu Mừng không phải con anh nên trước khi yêu cầu ly hôn, chị đã yêu cầu anh Khang đi làm xét nghiệm ADN để xác định mối quan hệ huyết thống cha con giữa anh Khang và cháu Mừng nhưng anh Khang không thực hiện việc này. Chị đề nghị Tòa án ra quyết định bắt buộc anh Khang phải đi làm xét nghiệm ADN để xác định huyết thống cha con. Ngoài ra, chị có yêu cầu khởi kiện bổ sung là buộc anh Khang phải xin lỗi công khai, buộc anh Khang phải bồi thường thiệt hại cho chị do đã có hành vi xúc phạm danh dự, uy tín, nhân phẩm của chị theo quy định của pháp luật.

    Câu 5 (2,0 điểm): Là người đại diện cho chị Ngân, anh chị hãy nêu ý kiến nhận xét về các yêu cầu trên đây của chị Ngân? Theo anh chị Tòa án có chấp nhận các yêu cầu trên của chị Ngân không? Vì sao?

    _______________________

    ĐỀ 4

    Công ty cổ phần đầu tư Bình An (công ty Bình An) có trụ sở tại Quận 1, TP. HCM dự định vay vốn Ngân hàng TMCP X (Ngân hàng X), chi nhánh tại Quận 1, TP. HCM.

    Hiện nay công ty Bình An có nhu cầu về vốn khoảng 10 tỷ đồng. Công ty dự định sử dụng căn nhà thuộc sở hữu của vợ chồng ông Long, giám đốc công ty Bình An làm tài sản bảo đảm cho khoản vay này. Ngân hàng đã đồng ý phương án này.

    Các bên dự định tiến hành ký kết 02 hợp đồng gồm hợp đồng tín dụng giữa Ngân hàng X và Công ty Bình An, hợp đồng thế chấp giữa Ngân hàng X và vợ chồng ông Long.

    Các bên đồng ý rằng: Trong trường hợp công ty Bình An vi phạm nghĩa vụ trả nợ gốc và lãi vay, ngân hàng X được quyền khởi kiện cả bên vay và bên bảo đảm ra Trung tâm trọng tài quốc tế Việt Nam (VIAC). Ngân hàng X hỏi luật sư cách thức để thực hiện.

    Câu hỏi 1 (1,5 điểm): Anh chị hãy cho biết ý kiến pháp lý về mong muốn giải quyết tranh chấp trong các hợp đồng trên?

    Câu hỏi 2 (2,5 điểm): Anh chị hãy dự thảo thỏa thuận trọng tài trong 2 hợp đồng trên?

    Tình tiết bổ sung

    Ngày 01/5/2021, công ty Bình An ký hợp đồng tín dụng với Ngân hàng X mà không có sự tư vấn của luật sư. Trong hợp đồng tín dụng các bên không có thỏa thuận phương thức giải quyết tranh chấp. Ngoài hợp đồng tín dụng, ngân hàng X còn ký kết hợp đồng thế chấp bằng tài sản với vợ chồng ông Long và hợp đồng thế chấp cũng không có thỏa thuận phương thức giải quyết tranh chấp.

    Thực hiện hợp đồng này, ngân hàng X đã giải ngân 10 tỷ đồng cho công ty Bình An. Đến ngày đáo hạn, công ty Bình An không trả nợ gốc và lãi vay như thỏa thuận trong hợp đồng. Ngân hàng X đã nhiều lần yêu cầu công ty Bình An thực hiện nhưng công ty vẫn không thực hiện. Để giữ gìn quan hệ làm ăn, ngân hàng X mong muốn giải quyết bằng hòa giải thương mại tại Trung tâm Hòa giải Việt Nam (VMC).

    Câu hỏi 3 (2,5 điểm): Anh chị hãy thực hiện các thủ tục để giúp khách hàng thực hiện mong muốn giải quyết bằng hòa giải thương mại?

    Tình tiết bổ sung

    Sau nhiều lần thương lượng nhưng không thống nhất được với nhau về cách thức giúp giải quyết bằng hòa giải. Ngân hàng X và công ty Bình An đã thống nhất giải quyết tranh chấp bằng trọng tài theo thỏa thuận được xác lập: “Tranh chấp phát sinh từ hợp đồng tín dụng này sẽ được giải quyết bằng trọng tài tại Trung tâm trọng tài Quốc tế Việt Nam (VIAC) theo quy tắc trọng tài của Trung tâm này, địa điểm trọng tài tại TP. HCM.” Bên công ty Bình An do Phó giám đốc ký. Sau đó ngân hàng X đã làm đơn khởi kiện ra VIAC và trọng tài đang thụ lý giải quyết.

    Phiên họp của HĐTT diễn ra vào ngày 01/5/2023, trong phiên họp này, bị đơn (công ty Bình An) đề nghị HĐTT triệu tập vợ chồng ông Long với tư cách là bên có quyền và nghĩa vụ liên quan tham gia tố tụng trọng tài.

    Câu hỏi 4 (2,0 điểm): Theo anh chị, HĐTT có cơ sở để chấp nhận yêu cầu của Bị đơn hay không?

    Tình tiết bổ sung

    Trước phiên họp giải quyết tranh chấp, các bên không có phản đối về thẩm quyền của HĐTT. Tuy nhiên, tại phiên họp của HĐTT, Bị đơn phản đối về thẩm quyền của HĐTT về việc người ký thỏa thuận trọng tài không có thẩm quyền, nhưng HĐTT không chấp nhận. Sau khi có phán quyết của HĐTT bị đơn đã có đơn yêu cầu Tòa án hủy phán quyết trọng tài với lý do người ký kết thỏa thuận trọng tài phía công ty Bình An là phó giám đốc công ty không phải là người có thẩm quyền và không có ủy quyền của giám đốc nên thỏa thuận trọng tài vô hiệu. Tại phiên họp của Hội đồng xét đơn, ngân hàng X không cung cấp được giấy ủy quyền của giám đốc công ty Bình An và cũng không cung cấp được bất kỳ tài liệu gì thể hiện người đại diện hợp pháp của công ty thừa nhận việc ký kết hợp đồng nêu trên hoặc biết mà không phản đối.

    Câu hỏi 5 (1,5 điểm): Theo anh chị, Hội đồng xét đơn có cơ sở để chấp nhận yêu cầu hủy phán quyết trọng tài không?

    _______________________

    ĐỀ 5

    Ngày 29/1/2020, Công ty TNHH Saki (công ty Saki) và CTCP Del (công ty Del) ký hợp đồng về việc công ty Saki cho thuê các thiết bị xây dựng như giàn giáo, giáo nêm, bao che, phụ kiện giàn giáo và các thiết bị phục vụ thi công khác. Hợp đồng có thời hạn 3 năm kể từ ngày ký. Hợp đồng có một số thỏa thuận đáng chú ý như sau:

    (i)             Giá trị thuê bằng số lượng thuê x đơn giá thuê x số ngày thuê. Tiền thuê được tính hàng ngày và ngày kết thúc là ngày cuối cùng của tháng. Chậm thanh toán phải chịu lãi chậm trả là 0,05%/ngày. Nếu việc chậm thanh toán vượt quá 30 ngày, công ty Saki có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng và công ty Del phải chịu phạt vi 8% giá trị hợp đồng/tổng giá trị đơn hàng, đền bù toàn bộ thiệt hại do việc chậm trễ thanh toán do công ty Del gây ra.

    (ii)           Công ty Saki có quyền từ chối nhận lại hàng bị hư hỏng nếu không sửa chữa được hoặc có thể sửa chữa được nhưng công ty Del từ chối sửa chữa. Công ty Del phải bồi thường mất mát hoặc hư hỏng nhưng không sửa chữa theo giá trị còn lại của tài sản thuê. Công ty Del phải thanh toán cho công ty Saki toàn bộ số tiền bồi thường trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày công ty Saki xác nhận tài sản thuê bị mất mát hoặc hư hỏng nhưng không sửa chữa. Nếu sau 30 ngày, công ty Del không thanh toán đủ cho công ty Saki thì công ty Saki vẫn tính tiền thuê đối với số hàng bị mất.

    (iii)         Tranh chấp phát sinh từ hợp đồng trước hết được giải quyết bằng hòa giải. Trong trường hợp không hòa giải được thì sẽ giải quyết tại Trung tâm trọng tài quốc tế Việt Nam, tại thành phố Hồ Chí Minh theo quy tắc tố tụng trọng tài của ICC.

    Thực hiện hợp đồng, bước sang năm 2022, công ty Del đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán. Trong biên bản đối chiếu công nợ ngày 30/9/2022, công ty Del còn phải thanh toán cho công ty Saki số tiền là 6 tỷ đồng. Ngoài ra, công ty Del còn phải bồi thường tài sản thuê do làm mất mát số tiền 385 triệu đồng.

    Các bên vẫn đang tiếp tục thực hiện hợp đồng. Tuy nhiên, công ty Saki muốn giải quyết dứt điểm số tiền nợ và tiền bồi thường thiệt hại theo Biên bản đối chiếu công nợ ngày 30/9/2022 là yêu cầu công ty Del thanh toán tiền nợ gốc 6 tỷ, tiền lãi phát sinh theo lãi suất 0,05%/ngày và tiền bồi thường thiệt hại số tiền là 385 triệu, tiền lãi phát sinh do chậm trả tiền bồi thường thiệt hại theo lãi suất 0,05%/ngày. Công ty Del không thực hiện được nghĩa vụ trả tiền, tranh chấp phát sinh giữa các bên. Công ty Saki đến nhờ luật sư tư vấn để bảo vệ quyền lợi cho công ty. (Thời điểm tư vấn là tháng 3/2023).

    Câu hỏi 1 (1,5 điểm): Anh chị thu thập các thông tin, tài liệu gì để phục vụ việc tư vấn?

    Câu hỏi 2 (2,5 điểm): Khách hàng hỏi luật sư về các yêu cầu đưa ra cho công ty Del có phù hợp với pháp luật không?

    Tình tiết bổ sung

    Tranh chấp phát sinh giữa các bên, công ty Saki có mong muốn khởi kiện đến cơ quan tài phán có thẩm quyền.

    Câu hỏi 3 (2,0 điểm): Anh, chị hãy nhận xét về thỏa thuận trọng tài được ký kết giữa các bên và cơ quan tài phán nào có thẩm quyền giải quyết tranh chấp?

    Tình tiết bổ sung

    Các bên mong muốn giải quyết tại một trung tâm trọng tài để thuận lợi hơn trong quá trình giải quyết tranh chấp.

    Câu hỏi 4 (2,0 điểm): Anh, chị hãy soạn thảo thỏa thuận trọng tài nằm ngoài hợp đồng cho các bên?

    Tình tiết bổ sung

    Giả sử các bên thống nhất thỏa thuận trung tâm trọng tài thương mại Y có thẩm quyền giải quyết tranh chấp.

    Câu hỏi 5 (2,5 điểm): Anh, chị hãy soạn thảo đơn khởi kiện tại trọng tài?

    _______________________

    ĐỀ 6

    Ngày 02/6/2020, ông Vũ Quang H có đơn gửi UBND huyện C đề nghị giải quyết tranh chấp đất đai đối với ông Đào Kim C đối với phần đất 5000m2 thuộc thửa đất số 42 tờ bản đồ số 19, thị trấn Đ, huyện C, tỉnh K. Ngày 26/8/2020, chủ tịch UBND huyện C ban hành Quyết định 1312/QĐ-UBND công nhận quyền sử dụng 5000m2 đất cho ông H.

    Không đồng ý với quyết định của Chủ tịch UBND huyện C, ngày 22/9/2020, ông C gửi đơn đến Chủ tịch UBND tỉnh K đề nghị xem xét lại Quyết định 1312/QĐ-UBND và công nhận phần đất tranh chấp trên cho gia đình ông vì đã khai hoang từ 1967.

    Theo ông Đào Kim C, năm 1967, ông khai hoang 11.000m2 đất tại Đồng Cây Chay (nay thuộc thửa đất số 42 tờ bản đồ số 19, thị trấn Đ, huyện C, tỉnh K) trồng khoai lang. Từ 1967 – 1975, ông đi bộ đội nên không canh tác. Ông tiếp tục sử dụng đất này từ 1976. Từ 1981 – 1983 Nhà nước đưa đất này vào HTX. Năm 1984, HTX trả lại cho dân, ông sử dụng đến 2016 nhưng do đất xấu, bị xói mòn nên ông không canh tác thường xuyên trên toàn bộ diện tích mà chọn vị trí. Khoảng năm 2004, ông cho em ruột là bà Đào Thị K (vợ ông Vũ Quang H) 3000m2 (không giấy tờ), trong quá trình sử dụng, ông H đã lấn thêm 5000m2 trồng xoài, đất này không liên quan đến phần đất ông Đào M (bố của ông C và bà K) chia thừa kế cho các con. Năm 2008, ông C đã báo cáo UBND thị trấn Đ nhưng chính quyền không có ý kiến gì. Năm 2008, ông được UBND thị trấn cấp GCN đã đo đạc và chờ cấp quyền sử dụng đất đối với 8500m2 thuộc 1 phần thửa đất số 35 tờ bản đồ số 03 (bản đồ 201) thị trấn Đ.

    Câu hỏi 1 (2,0 điểm): Đơn đề nghị của ông C sẽ được giải quyết theo thủ tục nào? Vì sao?

    Câu hỏi 2 (2,0 điểm): Giả sử ông Vũ Quang H yêu cầu Luật sư tham gia với tư cách người đại diện theo ủy quyền. Hãy xác định các vấn đề cần tìm hiểu khi tham gia giải quyết vụ việc phát sinh do yêu cầu của ông C.

    Tình tiết bổ sung

    Theo trình bày của ông Vũ Quang H:

    Năm 2003, vợ chồng ông được cha vợ (ông Đào M) cho 3000m2 đất theo di chúc lập năm 1996. Năm 2006, ông mua của ông Phạm T 5000m2 (phần đất đang tranh chấp) tiếp giáp với phần đất bố vợ cho nói trên (mua bán bằng giấy tay), cải tạo trồng sắn (mì), điều và sau đó là xoài. Năm 2008, ông làm đơn xin xác nhận diện tích 8000m2 và được UBND thị trấn Đ xác nhận vào ngày 10/9/2008, cấp giấy chứng nhận đã đo đạc và chờ cấp quyền sử dụng đất. Ông H sử dụng từ đó, ông C không có ý kiến gì cho đến tháng 8/2019 mới xảy ra tranh chấp vì ông C cho rằng đất đó do mình khai hoang.

    Ý kiến của UBND thị trấn Đ: Diện tích 5000m2 đất đang tranh chấp thuộc 1 phần thửa đất số 42 tờ bản đồ số 19, thị trấn Đ (bản đồ VN-2000) tương ứng 1 phần thửa đất số 35, tờ bản đồ số 03 (bản đồ 201).

    Sổ mục kê năm 2004 xã Đ (nay là thị trấn Đ) không thể hiện đối tượng sử dụng. Theo bản đồ VN-2000 và sổ mục kê đất đai năm 2013 thửa đất 42 tờ bản đồ số 19 ghi đối tượng sử dụng là ông Võ Văn T, tuy nhiên hiện trạng lại do ông H và bà K sử dụng nên sổ mục kê ghi không đúng thực tế. UBND thị trấn hiện không có hồ sơ lưu trữ liên quan đến việc HTX quản lý thửa đất số 35, tờ bản đồ số 3 (bản đồ 201). Ông H cung cấp giấy mua bán viết tay không được cơ quan có thẩm quyền chứng nhận. Ông H và ông C đều không cung cấp giấy tờ pháp lý về nguồn gốc, quá trình sử dụng đấtt. Hiện trạng ông H là người canh tác, trồng xoài trên đất từ năm 2008 đến nay.

    Ý kiến của các hộ dân có đất tại khu vực này đều khẳng định ông H là người sử dụng đất, ông C không sử dụng.

    Với tư cách đại diện theo ủy quyền của ông H. Anh chị hãy:

    Câu hỏi 3 (3,0 điểm): Xác định các vấn đề cần chứng minh? Tài liệu ông H cần cung cấp cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền giải quyết vụ việc?

    Câu hỏi 4 (3,0 điểm): Các nội dung cần trình bày trong phiên đối thoại để bảo vệ quyền lợi cho ông H.

    _______________________

    ĐỀ 7

    Công ty cổ phần S (sau đây gọi là công ty S) được cấp GCNĐKDN vào năm 2015, chuyên sản xuất và cung ứng sơn qua hệ thống đại lý. Ngày 02/01/2022, công ty S (bên A) ký kết Hợp đồng nguyên tắc số HĐNT/2022/ALO/369/765 với hộ kinh doanh Lê Thị T (chủ hộ là bà Lê Thị T – bên B) để làm đại lý giới thiệu sản phẩm, nhà phân phối, tiêu thụ sơn và vật liệu chống thấm mang thương hiệu ALO của Công ty S.

    Hợp đồng nguyên tắc có quy định một số nội dung chính sau:

    -       Bên B nhận làm đại lý giới thiệu sản phẩm, nhà phân phối, tiêu thụ sơn và vật liệu chống thấm mang thương hiệu ALO do bên A sản xuất; thời hạn 36 tháng từ ngày ký hợp đồng.

    -       Trong thời gian bên B làm đại lý cho bên A thì bên B không được trưng bày, bán và giới thiệu các sản phẩm khác do bên A sản xuất; không được ký hợp đồng trực tiếp với bất kỳ công ty nào khác. Nếu vi phạm, bên B phải chịu phạt 100 triệu VNĐ.

    -       Bên B đồng thời ký hợp đồng mượn tài sản của bên A với nội dung mượn máy pha màu tự động và lắp đặt tại bên B.

    -       Doanh số mà hộ kinh doanh T phải đáp ứng (30 triệu VNĐ/tháng), tiền hàng tháng được thanh toán hàng tháng vào 5 ngày đầu tiên của tháng kế tiếp.

    -       Chế độ thưởng của công ty dành cho nhà phân phối: thực hiện đối chiếu công nợ là căn cứ để bên A tính thưởng doanh thu năm cho bên B với mức 10%/tổng doanh thu.

    -       Hai bên xác nhận có cơ chế và chính sách bán hàng bên A giành cho bên B chỉ thể hiện tại bản hợp đồng nguyên tắc này. Tất cả các nội dung hỗ trợ khác với các điều khoản trên hợp đồng này sẽ chỉ có hiệu lực khi hai bên ký kết bằng phụ lục hợp đồng.

    Sau đó, ngày 07/01/2022, Công ty S tiếp tục ký với bà T hợp đồng cho thuê tài sản số HĐTTS/2022/ALO/369/765-01 về việc cho thuê tài sản là hệ thống máy pha màu ALO Tinting gồm: 01 máy chiết màu, nhãn hiệu SATINT A2 (mới 100%) – số seri 1703140A216003 và một máy trộn màu nhãn hiệu MIXER HS – 5T (mới 100%) – số seri 5T 1908185. Cùng ngày phía Công ty S tiếp tục ký Hợp đồng cho thuê tài sản số HĐTTS/2022/ALO/765-02 về việc bà T1 thuê tài sản là hệ thống máy pha màu ALO Tinting, gồm: 01 máy chiết màu, nhãn hiệu SANTINT A2 (mới 100%) – số seri 191029A2100020 và một máy trộn màu nhãn hiệu MIXER HS – 5T (mới 100%) – số seri 5T 1908200. Cùng ngày phía Công ty S đã bàn giao hệ thống máy pha màu nêu trên cho bà T.

    Thực hiện hợp đồng HĐNT/2022/ALO/369/765, công ty đã nhiều lần chuyển sơn cho nhà phân phối Lê Thị T. Sau một thời gian thực hiện hợp đồng, công ty S cho rằng bà T liên tục vi phạm thỏa thuận tại các Hợp đồng nguyên tắc số HĐNT/2022/ALO/369/765 ký ngày 02/01/2022, Hợp đồng cho thuê tài sản số HĐTTS/2022/ALO/369/765-01 ký ngày 07/1/2022 và Hợp đồng thuê tài sản số HĐTTS/2022/ALO/765-02 ký ngày 01/3/2022. Cụ thể: (i) bà T tiến hành trưng bày, giới thiệu và bán sản phẩm không do Công ty S sản xuất; (ii) doanh số mà bà T cam kết tại các Hợp đồng cũng không đạt; (iii) tính đến hết ngày 31/3/2023, bà T còn nợ quá hạn không thanh toán cho Công ty S số tiền 188.257.752 đồng mặc dù phía Công ty đã nhiều lần có văn bản yêu cầu thanh toán và muốn dừng hợp đồng phân phối với các lý do nêu trên (tại công văn ngày 1/4/2023). Bà Lê Thị T muốn gặp gỡ trao đổi để làm rõ các vấn đề trong việc thực hiện hợp đồng đại lý nêu trên.

    Tháng 4/2023, bà T đề nghị VPLS hỗ trợ để giải quyết tranh chấp nêu trên với Công ty S. Trưởng Văn phòng giao cho anh/chị là người nghiên cứu hỗ trợ bà T.

    Câu hỏi 1 (2,0 điểm): Để chuẩn bị cho phiên làm việc, anh/chị yêu cầu bà T cung cấp các tài liệu gì để phục vụ cho việc nghiên cứu nhằm hỗ trợ bà T trong việc giải quyết tranh chấp nêu trên? Mục đích của việc sử dụng các tài liệu nêu trên?

    Câu hỏi 2 (2,0 điểm): Sau khi nghiên cứu tài liệu như đã yêu cầu khách hàng cung cấp ở câu 1, anh chị cần trao đổi gì với bà T? Tra cứu những văn bản pháp luật nào để phục vụ cho việc xây dựng phương án thương lượng với công ty S?

    Tình tiết bổ sung

    Anh/chị tham gia phiên làm việc cùng bà T vào ngày 18/4/2023.

    Tại phiên làm việc, công ty S đề nghị chấm dứt hợp đồng phân phối và yêu cầu bà T phải thanh toán:

    -         Số tiền chưa thanh toán là 188.257.752 đồng.

    -       Khoản tiền lãi do chậm thanh toán với mức là 10% (tính cụ thể của các tháng chậm thanh toán tiền hàng).

    -      Khoản tiền thuê tài sản do không đạt doanh số theo Hợp đồng cho thuê tài sản số HĐTTS/2019/ALO/369/765-01 ký ngày 07/1/2022, thời gian tính chi phí thuê máy từ ngày 7/1/2022 đến 18/4/2023 với số tiền thuê là 83.562 VNĐ/ngày.

    -    Khoản tiền thuê tài sản do không đạt doanh số theo Hợp đồng thuê tài sản số HĐTTS/2021/ALO/369/765-02 ký ngày 01/3/2022, thời gian tính chi phí thuê máy từ ngày 01/03/2022 đến ngày 18/4/2023, với số tiền thuê là 83.562 VNĐ/ngày.

    -       Phạt vi phạm hợp đồng 100 triệu VNĐ.

    -       Bà T phải chịu các chi phí thu hồi máy, các khoản bồi thường thiệt hại theo 2 hợp đồng thuê tài sản và sau khi công ty S đánh giá lại tài sản thuê.

    Câu hỏi 3 (3,0 điểm): Ý kiến của anh/chị về các đề nghị do Công ty S đưa ra?

    Tình tiết bổ sung

    Tại phiên làm việc vào ngày 18/4/2023, bà T đưa ra đề nghị như sau với phía bên công ty S: (i) sửa đổi mức khoản doanh thu để phù hợp với tình hình thực tế và tiếp tục thực hiện hợp đồng; (ii) đề nghị công ty S thanh toán tiền thù lao đại lý năm 2022 với mức 10% của doanh thu năm 2022; và tiền lãi chậm thanh toán khoản thù lao này nhưng công ty S cho rằng khoản tiền thưởng doanh thu theo thảo thuận hợp đồng chỉ được công ty thanh toán nếu bà T đạt mức doanh theo theo đúng thỏa thuận. Thực tế thực hiện bà T chưa đạt doanh thu nên không có cơ sở trích doanh thu, công ty không vi phạm về thanh toán khoản tiền này và lãi chậm thanh toán phát sinh.

    Câu hỏi 4 (1,5 điểm): Quan điểm của anh chị về các yêu cầu bà T đưa ra và ý kiến phản hồi của công ty S?

    Tình tiết bổ sung

    Tại phiên thương lượng các bên chỉ thống nhất được với nhau về việc tranh chấp sẽ được giải quyết tại Trung tâm trọng tài quốc tế Việt Nam.

    Câu hỏi 5 (1,5 điểm): Thỏa thuận này có phù hợp với quy định của pháp luật không? Các nội dung gì cần đưa vào thỏa thuận để đảm bảo tốt nhất quyền lợi cho khách hàng?

    _______________________

    ĐỀ 8

    Ngày 01/01/2022, Công ty Hồng Kông và văn phòng Luật sư LQ (VPLS LQ) ký kết thỏa thuận đề cập đến biện pháp giải quyết tranh chấp giữa công ty Hồng Kông và CTCP TX của Việt Nam liên quan đến hợp đồng nguyên tắc ngày 29/8/2019 giữa công ty Hồng Kông và CTCP TX của Việt Nam.

    Ngày 23/01/2022, Công ty Hồng Kông lập giấy ủy quyền cho Luật sư Q thuộc VPLS LQ thay mặt Công ty Hồng Kông tiến hành các giao dịch với CTCP TX của Việt Nam. Giấy ủy quyền có nội dung: “Công ty Hồng Kông ủy quyền cho cá nhân Luật sư Q – Trưởng VPLS LQ, có địa chỉ tại HN, Việt Nam được toàn quyền thay mặt Công ty Hồng Kông đàm phán và ký kết các biên bản thỏa thuận với CTCP TX của Việt Nam liên quan đến việc giải quyết các tranh chấp giữa Công ty Hồng Kông và CTCP TX của Việt Nam phát sinh từ Hợp đồng nguyên tắc ký ngày 4/10/2020 giữa CTCP TX của Việt Nam và công ty Hồng Kông”. Giấy ủy quyền được đại diện có thẩm quyền của Công ty Hồng Kông và Luật sư Q ký, có đóng dấu của VPLS LQ.

    Câu hỏi 1 (2,0 điểm): Anh (chị) xác định chủ thể của hợp đồng ủy quyền trong tình huống nêu trên là VPLS LQ hay cá nhân Luật sư Q? Giải thích tại sao?

    Tình tiết bổ sung

    Tranh chấp phát sinh từ Hợp đồng nguyên tắc liên quan đến trách nhiệm bồi thường thiệt hại và phạt vi phạm của Công ty Hồng Kông cho CTCP TX của Việt Nam. Theo hợp đồng, Công ty Hồng Kông phải giao hàng cho CTCP TX của Việt Nam trước ngày 31/12/2020. Tuy nhiên, đến ngày 15/01/2021, Công ty Hồng Kông mới giao hàng cho CTCP TX của Việt Nam. Vì vậy, CTCP TX của Việt Nam yêu cầu Công ty Hồng Kông bồi thường thiệt hại và phạt vi phạm hợp đồng cho CTCP TX của Việt Nam với tổng số tiền 1,5 tỷ đồng. Công ty Hồng Kông trình bày do ảnh hưởng của dịch bệnh Covid nên dẫn đến giao hàng chậm, trên tàu có người bị Covid nên bị cách ly 14 ngày, vì vậy không đồng ý chịu phạt và bồi thường thiệt hại cho CTCP TX của Việt Nam.

    Câu hỏi 2 (2,0 điểm): Anh (chị) trình bày căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại và phạt vi phạm trong trường hợp trên?

    Câu hỏi 3 (2,0 điểm): Anh (chị) hãy tư vấn cho Công ty Hồng Kông các tài liệu, chứng cứ cần cung cấp?

    Tình tiết bổ sung

    Theo tài liệu Công ty Hồng Kông cung cấp, anh (chị) xác định nội dung trình bày của Công ty Hồng Kông là đúng. Thời gian Công ty Hồng Kông giao hàng cho CTCP TX của Việt Nam theo thỏa thuận trong hợp đồng là thời gian diễn ra dịch bệnh covid; ông K người phụ trách giao hàng của Công ty Hồng Kông bị covid bị buộc phải cách ly 14 ngày.

    Câu hỏi 4 (2,0 điểm): Anh (chị) hãy trình bày căn cứ pháp lý và lập luận để bảo vệ Công ty Hồng Kông?

    Tình tiết bổ sung

    Sau khi thu thập các thông tin cần thiết, luật sư lên phương án để thực hiện công việc theo Giấy ủy quyền của Công ty Hồng Kông.

    Câu hỏi 5 (2,0 điểm): Anh (chị) hãy xây dựng phương án đàm phán với CTCP TX của Việt Nam với tư cách người đại diện theo ủy quyền của Công ty Hồng Kông?

    _______________________

    ĐỀ 9

    Theo đơn khiếu nại:

    Năm 2000, Bà Lưu Thị Uyển có mua lại 156m2 đất của chị Nguyễn Thị Hương tại khu phố 3, phường Y, quận X, tỉnh A. Về nguồn gốc đất chị Hương có đưa ra giấy ủy quyền mua bán của mẹ chị là bà Nguyễn Thị Rượu; diện tích đất này được bà Rượu mua lại của thương binh phường Y, do thương binh khai hoang. Năm 1993, thương binh đã tiến hành xây dựng nhà cấp 4 để ở. Hiện tại, trên diện tích đất này đang tồn tại một căn nhà 2 tầng, diện tích 65m2/tầng. Từ thời điểm mua cho đến năm 2020, bà Uyển đều nhận được thông báo thuế và đều nộp thuế nhà đất hàng năm.

    Ngày 21/3/2021, bà Uyển mời Công ty đo đạc tiến hành đo đạc hồ sơ kỹ thuật thửa đất. Ngày 19/4/2021, bà Lưu Thị Uyển làm hồ sơ xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và tài sản trên đất và mang đến nộp tại UBND phương Y, quận X, tỉnh A. Ngày 19/6/2021, UBND phường ban hành thông báo số 01/TB-UBND trả lời thửa đất trên đã có quyết định cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ gia đình ông Nguyễn Anh Quân theo dự án làm nhà ở của công ty Sông Hương. Bà Hương thấy rằng quyết định cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với 156m2 do gia đình bà đang quản lý cho ông Quân là vi phạm pháp luật, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của mình. Ngày 19/7/2021, bà Hương làm đơn khiếu nại thông báo số 01/TB-UBND đến Chủ tịch UBND phường Y.

    Câu hỏi 1 (1,5 điểm): Thông báo số 01/TB-UBND ngày 19/6/2021 có là đối tượng khiếu nại không? Tại sao?

    Câu hỏi 2 (2,0 điểm): Anh/chị hãy đánh giá về điều kiện khiếu nại của bà Lưu Thị Uyển?

    Tình tiết bổ sung

    Sau khi thụ lý đơn của bà Uyển, UBND phường Y tiến hành làm việc và xác định: Thửa đất 1B, có diện tích 156m2, tờ bản đồ số 16, mục đích là đất ở đã được giao cho công ty Sông Hương thuê (nằm trong diện tích 2000m2) vào năm 1995. Sau đó, đến năm 1998, thì công ty Sông Hương đã tiến hành lập dự án làm nhà ở đối với 2000m2 thuê trên và bán cho 10 cán bộ, công nhân viên của công ty. Phần đất nhà bà Uyển đang ở được giao cho hộ gia đình ông Nguyễn Anh Quân. Tuy nhiên, sau khi giải phóng mặt bằng để bàn giao và thực hiện thủ tục cấp giấy chứng nhận thì chưa thực hiện được do có hộ gia đình bà Lưu Thị Uyển đang sinh sống trên thửa đất này. Việc nộp tiền sử dụng đất của công ty Sông Hương đối với dự án trên được nộp làm 2 lần (40.000.000 đồng/đợt; đợt 1 nộp năm 2008, đợt 2 nộp năm 2014).

    Ông Quân trình bày: Năm 1998, ông là cán bộ công ty Sông Hương và được công ty thông báo có xin được dự án làm nhà ở cho cán bộ công nhân tại phường Y. Xét thấy mình đủ tiêu chuẩn, ông đã làm đơn và được phê duyệt mua 1 suất đất tại dự án này. Năm 2008, UBND tỉnh A có ban hành quyết định phê duyệt dự án làm nhà ở của công ty Sông Hương tại phường Y, quận X và danh sách các hộ được cấp đất làm nhà ở theo dự án. Theo quyết định này, ông Quân được cấp 1 suất đất 156m2, thửa 1B, tờ bản đồ số 16.

    Với tư cách luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bà Uyển, anh (chị) hãy:

    Câu hỏi 3 (1,5 điểm): Xác định các vấn đề chứng mình của vụ việc.

    Câu hỏi 4 (2,0 điểm): Xác định các tài liệu, chứng cứ cần chuẩn bị để tham gia vào phiên đối thoại.

    Câu hỏi 5 (3,0 điểm): Đánh giá tính bất hợp pháp về nội dung của Thông báo số 01/TB-UBND ngày 19/6/2021.

    _______________________

    ĐỀ 10

    Công ty TNHH Bình Minh (công ty Bình Minh), trụ sở tại TP. HCM chuyên thi công công trình xây dựng, công ty Bình Minh dự định thực hiện dự án dây xựng một siêu thị tại TP. HCM để khai thác kinh doanh. Tuy dự án rất hấp dẫn nhưng công ty Bình Minh không có đủ khả năng tài chính để thực hiện dự án này. Công ty Bình Minh có quen biết với công ty TNHH Phúc Nguyên (công ty Phúc Nguyên), trụ sở tại TP. HCM chuyên kinh doanh hàng may mặc, công ty Phúc Nguyên có nguồn vốn nhàn rỗi và đang muốn cho vay. Do đó, công ty Bình Minh dự định vay tiền Công ty Phúc Nguyên để triển khai dự án.

    Các bên mong muốn, khi có tranh chấp nếu không tự thương lượng được thì sẽ giải quyết bằng phương thức hòa giải tại Trung tâm hòa giải Việt Nam (VMC), nếu không đạt kết quả hòa giải các bên tiếp tục giải quyết bằng phương thức trọng tài tại Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam (VIAC). Ngoài ra, công ty Phúc Nguyên còn mong muốn được lựa chọn thêm TAND có thẩm quyền để giải quyết tranh chấp trong trường hợp công ty Bình Minh vi phạm nghĩa vụ trả nợ gốc và lãi vay.

    Để giúp các bên đạt được sự thỏa thuận như mong muốn, đại diện công ty Phúc Nguyên đến VPLS của anh chị để nhờ tư vấn.

    Câu hỏi 1 (2,0 điểm): Anh chị hãy cho biết ý kiến pháp lý về mong muốn giải quyết tranh chấp trên của khách hàng?

    Câu hỏi 2 (2,0 điểm): Anh chị hãy giúp các bên dự thảo điều khoản giải quyết tranh chấp như mong muốn của khách hàng.

    Tình tiết bổ sung

    Thực tế, tháng 9/2020, công ty Bình Minh ký hợp đồng vay tiền số 1155/2020/HĐV-BM-PN với công ty Phúc Nguyên mà không có sự tư vấn của luật sư, trong hợp đồng có các nội dung:

    Điều 5:

    -       Số tiền vay là 10 tỷ đồng, lãi suất cho vay 15%/năm, lãi suất nợ quá hạn bằng 150% lãi suất cho vay.

    -       Thời hạn vay là 2 năm tính từ ngày giải ngân, trả tiền nợ gốc và lãi vay một lần vào ngày đáo hạn.

    Điều 9:

    “Mọi tranh chấp phát sinh từ hợp đồng này sẽ được giải quyết bằng trọng tài tại Trung tâm trọng tài TP. HCM, số lượng trọng tài viên là 03, ngôn ngữ trọng tài sẽ bằng tiếng Anh, địa điểm trọng tài tại TP. HCM. Nếu kết quả giải quyết bằng trọng tài không được như mong đợi, các bên có quyền tiếp tục yêu cầu Tòa án giải quyết và bản án của Tòa án sẽ là quyết định cuối cùng, có giá trị thực hiện.”

    Câu hỏi 3 (2,5 điểm): Anh chị hãy đánh giá pháp lý về hiệu lực, hiệu quả của thỏa thuận giải quyết tranh chấp trên?

    Câu hỏi 4 (1,0 điểm): Theo anh chị với thỏa thuận này nguyên đơn có thể khởi kiện tại Trung tâm trọng tài quốc tế Việt Nam (VIAC) không?

    Tình tiết bổ sung

    Sau khi ký hợp đồng công ty Phúc Nguyên đã giải ngân vào ngày 01/102/2020 số tiền 10 tỷ đồng cho công ty Bình Minh. Đến ngày đáo hạn là 01/10/2022, công tinh Bình Minh vẫn không trả nợ gốc và lãi vay theo thỏa thuận. Công ty Phúc Nguyên yêu cầu công ty Bình Minh thực hiện nghĩa vụ đến hạn, sau nhiều lần yêu cầu, công ty Bình Minh vẫn không trả. Công ty Phúc Nguyên muốn khởi kiện công ty Bình Minh ra Trung tâm trọng tài Quốc tế Việt Nam (VIAC).

    Câu hỏi 5 (2,5 điểm): Giả sử Trung tâm trọng tài quốc tế Việt Nam có thẩm quyền giải quyết, anh chị hãy giúp khách hàng dự thảo đơn khởi kiện ra trọng tài?

    _______________________

    ĐỀ 11

    Theo bà Vy trình bày:

    Ngày 01/10/2019, bà Nguyễn Thúy Vy nhận được Quyết định thu hồi đất số 03/QĐ-UBND của Chủ tịch UBND huyện Tĩnh An ban hành ngày 18/6/2019 về việc thu hồi 130m2 tại thôn Quế Ô, xã Hòa Bắc, huyện Tĩnh An, tỉnh C của gia đình bà để làm tuyến đường mở rộng của đường vành đai 3 trên cao.

    Ngày 15/10/2019, bà Vy tiếp tục nhận được Quyết định số 04/QĐ-UBND của Chủ tịch UBND huyện Tĩnh An ban hành ngày 19/6/2019 về việc phê duyệt phương án bồi thường và giải phóng mặt bằng mở rộng đường vành đai 3 trên cao đối với gia đình bà.

    Nhận thấy 02 quyết định trên xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của mình, bà Vy muốn làm đơn khiếu nại gửi đến UBND huyện Tĩnh An.

    Để giúp bà Vy khiếu nại, anh chị hãy:

    Câu hỏi 01 (1,5 điểm): Xác định đối tượng khiếu nại? Giải thích tại sao?

    Câu hỏi 02 (2,5 điểm): Đánh giá về điều kiện khiếu nại của bà Vy?

    Tình tiết bổ sung

    Bà Vy cho rằng: Thửa đất 3B, tờ bản đồ số 19, có diện tích 168m2 là đất của ông cha để lại. Toàn bộ thửa đất này nằm trong vùng quy hoạch làm đường vành đai 3 mở rộng. Nếu theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BU558/QĐ-UBND cấp ngày 10/3/2009 có diện tích là 168m2, trong khi đó nhà nước chỉ thu hồi và đền bù là 130m2 và thực hiện việc giải tòa toàn bộ. Như vậy, so với diện tích được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là còn thiếu 38m2 chưa được đền bù. Để đảm bảo quyền lợi của mình bà Vy đã đến UBND huyện Tĩnh An cố ý kiến đề xuất và được trả lời đất này không thuộc sở hữu của gia đình và nên bà không được đền bù.

    UBND huyện Tĩnh An cho rằng: Thửa đất số 3B, tờ bản số 19, có diện tích 168m2 theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BU558/QĐ-UBND cấp ngày 10/3/2009 mang tên bà Nguyễn Thúy Vy là thửa đất nằm trong vùng quy hoạch làm đường vành đai 3 mở rộng. Việc UBND huyện thu hồi đất và giải phóng mặt bằng là hoàn toàn phù hợp với quy định của pháp luật. Tuy Giấy chứng nhận cấp 168m2 nhưng chỉ được thu hồi và đền bù đối với 130m2 vì diện tích 38m2 nằm trong vùng quy hoạch cũ, mặc dù được cấp sổ nhưng nguồn gốc đất là đất lấn chiếm nên không đủ điều kiện để đền bù. Ngày 05/10/2019, bà Vy có đến UBND huyện thắc mắc tại buổi tiếp công dân của Phó Chủ tịch phụ trách và việc này đã được giải quyết xong tại buổi tiếp công dân này. Như vậy, chứng tôi đã giải quyết khiếu nại của bà Vy. Đến nay, bà Vy tiếp tục làm đơn khiếu nại gửi lên UBND huyện thì Ủy ban đã hết quyền giải quyết khiếu nại và sẽ chuyển đơn đến cơ quan có thẩm quyền cấp trên trực tiếp để đảm bảo quyền lợi cho bà Vy.

    Với tư cách luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bà Vy, anh (chị) hãy:

    Câu hỏi 3 (2,0 điểm): Nhận xét về việc giải quyết khiếu nại của UBND huyện Tĩnh An.

    Câu hỏi 4 (2,0 điểm): Xác định các tài liệu, chứng cứ cần thiết để giúp bà Vy khiếu nại.

    Câu hỏi 5 (2,0 điểm): Soạn thảo lập luận bảo vệ cho bà Vy tại phiên đối thoại.

    _______________________

    ĐỀ 12

    Công ty TNHH Bình Minh (sau đây gọi là công ty Bình Minh) được UBND tỉnh Đồng Nai cho thuê đất theo Quyết định 1150/QĐ-UBND, diện tích cho thuê là 10.000m2, đất tọa lạc tại huyện C, tỉnh Đồng Nai.

    Ngày 30/11/2019, công ty Bình Minh có ký hợp đồng thuê nhà xưởng, kho bãi số 68-HĐTNX để cho công ty TNHH MTV Đô Thành (sau đây gọi là công ty Đô Thành) thuê 2.000m2 diện tích nhà xưởng, văn phòng, nhà ăn đã được xây dựng trên phần đất diện tích 10.000m2. Thời hạn cho thuê là 5 năm tính từ ngày 01/12/2019, giá thuê là 36.000 đồng/m2 tương đương 72 triệu đồng/tháng (chưa bao gồm 10% thuế GTGT), phạt vi phạm hợp đồng 9%. Công ty Đô Thành đặt cọc cho công ty Bình Minh số tiền 245 triệu đồng ngay sau khi ký kết hợp đồng. Sau khi ký hợp đồng, công ty Bình Minh đã bàn giao mặt bằng cho công ty Đô Thành sử dụng, quá trình sử dụng công ty Đô Thành thanh toán đầy đủ tiền thuê.

    Do nhu cầu sử dụng nhà xưởng, kho bãi nên ngày 02/10/2021 công ty Bình Minh đã có “Thông báo về việc thanh lý hợp đồng thuê trước hạn” số 49CV-BM gửi đến công ty Đô Thành. Ngày 29/11/2021, công ty Bình Minh có nhận được văn bản trả lời của công ty Đô Thành ký ngày 27/11/2021 với nội dung từ chối yêu cầu đơn phương chấm dứt Hợp đồng của công ty Bình Minh.

    Nhận thấy hợp đồng thuê nhà xưởng, kho bãi số 68-HĐTNX giữa hai bên không có điều khoản về đơn phương chấm dứt hợp đồng, cũng không có quy định về điều kiện giải quyết yêu cầu đơn phương chấm dứt hợp đồng của cả hai bên. Công ty Bình Minh vẫn cho rằng công ty Đô Thành đã vi phạm hợp đồng bằng việc từ chối yêu cầu hợp lệ của công ty Bình Minh, gây khó khăn cho việc thu hồi tài sản thuê. Nên công ty Đô Thành phải mất số tiền đặt cọc cho công ty Bình Minh là 245 triệu đồng và công ty Bình Minh được miễn trừ nghĩa vụ thanh toán khoản tiền phạt Hợp đồng đối với việc đơn phương chấm dứt của công ty Bình Minh. Tuy nhiên trong văn bản trả lời ngày 27/11/2021, công ty Đô Thành yêu cầu công ty Bình Minh phải hoàn trả tiền đặt cọc và chịu phạt cọc tương đương với khoản tiền mà công ty Đô Thành đã đặt cọc cho công ty Bình Miinh do vi phạm hợp đồng. Ngoải ra, công ty Đô Thành cũng yêu cầu công ty Bình Minh phải bồi thường thiệt hại đối với chi phí phát sinh khi công ty Đô Thành phải thuê tạm kho bãi và đi tìm nhà xưởng mới.

    Công ty Đô Thành đề nghị VPLS A tư vấn và hỗ trợ để giải quyết tranh chấp nêu trên bằng con đường thương lượng.

    Câu hỏi 1 (2,5 điểm): Anh (chị) cần tiến hành những công việc gì để đáp ứng yêu cầu của khách hàng? Hãy đánh giá vị thế pháp lý của công ty Đô Thành trong tranh chấp này?

    Tình tiết bổ sung

    Trải qua nhiều vòng làm việc, thương lượng những hai bên vẫn chưa đạt được kết quả mong muốn. Hai bên đã thống nhất đưa vụ việc ra cơ quan tài phán giải quyết với thỏa thuận “Mọi tranh chấp phát sinh từ hợp đồng này sẽ được giải quyết bằng trọng tài tại Trung tâm trọng tài TP. HCM, số lượng trọng tài viên là 02, địa điểm trọng tài tại TP. HCM. Trong quá trình giải quyết tranh chấp không bên nào được yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời. Phán quyết trọng tài là cuối cùng và có hiệu lực ràng buộc hai bên, các bên không được yêu cầu tòa án hủy phán quyết trọng tài.”

    Câu hỏi 2 (3,0 điểm): Anh (chị) hãy đánh giá pháp lý về hiệu lực, hiệu quả của thỏa thuận giải quyết tranh chấp này?

    Tình tiết bổ sung

    Cuối cùng công ty Đô Thành đưa vụ việc ra giải quyết tại Trung tâm trọng tài Quốc tế Việt Nam (VIAC), địa điểm trọng tài tại TP. HCM. Dự kiến phiên họp trọng tài diễn ra vào ngày 01/12/2022. Trước thời điểm phiên họp trọng tài diễn ra, khách hàng (công ty Đô Thành) thông tin cho anh chị: Trọng tài viên S thuộc VIAC do bên cho thuê chỉ định trước đó đã là luật sư tư vấn về việc soạn thảo hợp đồng thuê mặt bằng và hai bên đã gặp gỡ nhau tại quán café tại huyện C trước thời điểm diễn ra phiên trọng tài.

    Câu hỏi 3 (2,0 điểm): Anh (chị) tiếp nhận và xử lý thông tin này như thế nào?

    Tình tiết bổ sung

    Sau khi có phán quyết trọng tài, trong đó có nội dung “Bị đơn đã vi phạm hợp đồng. Do đó, buộc bị đơn (công ty Bình Minh) trả tiền cọc 245 triệu đồng cho nguyên đơn”, “Không chấp nhận yêu cầu phạt cọc của nguyên đơn”.

    Nguyên đơn (công ty Đô Thành) cho rằng HĐTT đã ban hành phán quyết không đúng quy định pháp luật, vì bị đơn vi phạm hợp đòng nên ngoài việc trả lại tiền cọc còn phải trả một khoản tương đương tiền cọc theo Điều 328 BLDS 2015. Do đó, HĐTT đã áp dụng sai luật, vi phạm nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam khi ban hành phán quyết trọng tài. Nguyên đơn căn cứ vào điểm đ khoản 2 Điều 68 Luật TTTM 2010 để yêu cầu Tòa án hủy phán quyết trọng tài.

    Câu hỏi 4 (2,5 điểm): Anh (chị) hãy cho biết ý kiến pháp lý về vấn đề này? Tòa án có cơ sở để hủy phán quyết trọng tài không?

    _____________________________

    ĐỀ 13

    Ngày 20/1/2023, CTCP tập đoàn VITAT (Công ty VITAT) ký hợp đồng mua bán hàng hóa số YNPII40 với Công ty Thiên Tân (pháp nhân Trung Quốc), địa chỉ tại Thượng Hải, Trung Quốc. Hợp đồng số YNPII40 có một số nội dung chính như sau: Bên mua hàng: Công ty VITAT; Bên bán hàng: Công ty Thiên Tân.

    -       Hàng hóa: 100 tấn nhôm thỏi A7;

    -       Giá bán: 1.550 USD/tấn;

    -       Tổng giá trị hợp đồng: 155.000 USD

    -       Giao hàng: 02 đợt, mỗi đợt 50 tấn, trị giá 77.500 USD.

    -       Thời hạn thực hiện hợp đồng: đến hết tháng 12/2023.

    -       Thanh toán: Việc thanh toán được thực hiện theo từng lô hàng, mỗi đợt 77.500 USD, thông qua tín dụng thư không hủy ngang, Ngân hàng mở tín dụng thư là Ngân hàng HSBC (Việt Nam), chi nhánh Hà Nội; ngân hàng thụ hưởng là Ngân hàng Công nghiệp và Thương mại Trung Quốc, người thụ hưởng là công ty Thiên Tân.

    -       Thỏa thuận trọng tài: Trong quá trình thực hiện hợp đồng, mọi tranh chấp nếu không thương lượng được trong thời hạn 60 ngày sẽ được giải quyết bởi một Trung tâm trọng tài thương mại tại Hà Nội do nguyên đơn lựa chọn, phán quyết của Trọng tài là phán quyết cuối cùng, buộc hai bên phải thực hiện. Phí trọng tài sẽ do bên thua kiện chịu. Luật áp dụng đối với hợp đồng là luật của Việt Nam.

    -       Hợp đồng được ký kết bởi người đại diện hợp pháp của các bên.

    Thực hiện hợp đồng, ngày 16/3/2023, công ty VITAT đã mở tín dụng thư không hủy ngang số DC VHN401536 tại Ngân hàng HSBC, chi nhánh Hà Nội với số tiền 155.000 USD để thanh toán cho công ty Thiên Tân.

    Lô hàng đầu tiên của công ty Thiên Tân giao cho công ty VITAT có số vận đơn là EGLV141, số hóa đơn YNZLS001 đã cập cảng Hải Phòng ngày 17/5/2023.

    Đối với lô hàng đầu tiên nêu trên, khi hàng về đến cảng Hải Phòng, trước khi mở tờ khai hải quan, công ty VITAT đã thuê công ty kiểm định SGS mở container toàn là gạch, không phải là hàng hóa mà hai bên đã thỏa thuận và được quy định trong hợp đồng. Mặc dù vậy, chi nhánh Ngân hàng HSBC tại Hà Nội đã thanh toán cho Ngân hàng Công nghiệp và Thương mại Trung Quốc số tiền là 77.500 USD.

    Nhận thấy công ty Thiên Tân vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ hợp đồng, công ty VITAT đã đến tổ chức hành nghề luật sư đề nghị tư vấn (thời điểm tư vấn là tháng 5/2023).

    Câu hỏi 1 (2,0 điểm): Anh chị hãy đánh giá về thỏa thuận trọng tài nêu trên? Với thỏa thuận trọng tài trên, với tư cách là luật sư của công ty VITAT, anh chị sẽ tư vấn cho khách hàng thực hiện những công việc gì?

    Tình tiết bổ sung

    Giả sử công ty VITAT đã gửi công văn cho công ty Thiên Tân đề xuất giải quyết tranh chấp tại Trung tâm trọng tài Quốc tế Việt Nam. Tuy nhiên, công ty VITAT không nhận được công văn cũng như bất kỳ hồi đáp nào từ phía công ty Thiên Tân.

    Câu hỏi 2 (2,5 điểm): Anh chị hãy kiểm tra các điều kiện khởi kiện trọng tài cho khách hàng?

    Tình tiết bổ sung

    Theo quy định của hợp đồng, việc giao nhận hàng được thực hiện làm 2 đợt. Nhận thấy ngay từ đợt giao hàng đầu tiên, công ty Thiên Tân đã vi phạm nghiêm trọng hợp đồng, công ty VITAT muốn chấm dứt hợp đồng, không tiếp tục có quan hệ hợp tác với công ty VITAT. Công ty VITAT cho rằng đã bị ảnh hưởng về quyền lợi hợp pháp.

    Câu hỏi 3 (3,0 điểm): Anh chị hãy soạn thảo đơn khởi kiện cho công ty VITAT?

    Tình tiết bổ sung

    Giả sử Trung tâm trọng tài Quốc tế Việt Nam thụ lý vụ tranh chấp . Phía công ty Thiên Tân gửi Bản tự bảo vệ trong đó có nội dung phản đối thẩm quyền của Trung tâm trọng tài Quốc tế Việt Nam vì thỏa thuận trọng tài không chỉ rõ tên của Trung tâm trọng tài; công ty Thiên Tân thừa nhận đã giao nhầm hàng và cam kết sẽ chuyển hàng thay thế. Công ty VITAT đã gửi công văn đến Trung tâm trọng tài Quốc tế Việt Nam không chấp nhận yêu cầu trên.

    Câu hỏi 4 (2,5 điểm): Anh chị hãy dự thảo nội dung cơ bản của bản luận cứ trình bày tại phiên họp theo các yêu cầu khởi kiện được đưa ra trong đơn khởi kiện?

    ___________________________________ 

    ĐỀ 14

    Công ty TNHH An Bình (công ty An Bình) và công ty cổ phần Minh Hải (công ty Mình Hải) ký kết hợp đồng hợp tác kinh doanh về việc xây dựng và khai thác bể bơi thuộc Trung tâm thể thao quận X, Thành phố Hà Nội. Tổng mức đầu tư để xây dựng bể bơi là 15 tỷ đồng do công ty An Bình được giao là chủ đầu tư. Ngày 30/12/2021, Hai bên đã ký kết hợp đồng hợp tác kinh doanh với nội dung sau: Công ty An Bình góp 40%, công ty Minh Hải góp 60%. Công ty Minh Hải chuyển khoản vào tài khoản của công ty An Bình theo tiến độ góp vốn công ty An Bình yêu cầu, bảo đảm tỷ lệ góp vốn của Mình Hải đạt 60%. Công ty An Bình phải mở hệ thống sổ sách theo dõi chi phí của dự án này. Công ty Minh Hải có quyền cử người tham gia Ban Quản lý Dự án của công ty An Bình. Phương thức chia lãi, lỗ theo tỷ lệ 40-60 giữa công ty An Bình và công ty Minh Hải. Các bên phải có nghĩa vụ góp vốn đủ và đúng thời hạn, bên nào vi phạm phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại thực tế phát sinh. Mọi tranh chấp phát sinh từ hợp đồng được giải quyết tại trọng tài hoặc tòa án có thẩm quyền.

    Thực hiện hợp đồng, công ty An Bình có các công văn để công ty Minh Hải chuyển tiền theo các ngày 10/1/2022, 15/2/2022, 15/3/2022, 15/4/2022, mỗi lần góp 1 tỷ đồng. Tổng cộng số tiền góp của công ty Minh Hải là 4 tỷ đồng. Từ tháng 5/2022, công ty An Bình gửi công văn đề nghị công ty Minh Hải tiếp tục chuyển tiền góp vốn liên doanh là 3 tỷ đồng nhưng công ty Minh Hai không phản hồi và không chuyển tiền. Ngày 15/8/2022, đại diện của hai công ty đã có biên bàn làm việc với nội dung: đến ngày 1/9/2022, công ty Minh Hải không góp vốn thì tỷ lệ vốn góp sẽ tính trên số vốn góp thực tế của công ty Minh Hải so với tổng mức đầu tư. Đến tháng 6/2023, công ty Minh Hải tự động chuyên 3 tỷ đồng vào tài khoản của công ty An Bình nhưng phía công ty An Bình đã chuyển trả lại số tiền trên và gửi thông báo công ty An Bình đã tự thu xếp được nguồn vốn và việc xây dựng bể bơi đã hoàn thành.

    Công ty Minh Hải không đồng ý và yêu cầu công ty An Bình phải nhận số tiền góp vốn 3 tỷ và sẵn sàng trả lãi cho số tiền chậm góp vốn. Công ty Minh Hải cho răng theo thỏa thuận trong hợp đồng, tỷ lệ góp vốn và hưởng lợi nhuận của công ty Mình Hải luôn là 60%. Trường hợp công ty Minh Hải nộp chậm số tiền góp vốn thì công ty Minh Hải sẽ chịu tiền lãi trên số tiền chậm nộp này. Tranh chấp phát sinh giữa các bên.

    Công ty An Bình là khách hàng của luật sư và mong muốn luật sư tư vấn, tham gia giải quyết tranh chấp bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình. Thời điểm khách hàng tìm đến luật sư là tháng 12/2023.

    Khi kiểm tra Hợp đồng hợp tác kinh doanh, luật sư nhận thấy công ty Minh Hải không có Nghị quyết của Hội đồng quản trị hoặc Đại hội đồng cổ đông về việc góp vốn hợp tác kinh doanh. 

    Câu hỏi 1 (2,0 điểm): Anh, chị cần kiểm tra thêm các tài liệu gì để xác định hợp đồng hợp tác kinh doanh có hiệu lực hay không? Việc xác định cụ thể như thế nào? 

    Tình tiết bổ sung

    Giả sử hợp đồng hợp tác kinh doanh được ký kết bởi Phó Giám đốc công ty Minh Hải và Phó Giám đốc công ty An Bình và đều không có ủy quyền của giám đốc, người đại diện theo pháp luật của 2 công ty.

    Câu hỏi 2 (2,0 điểm): Anh, chị cho biết thỏa thuận trọng tài trong hợp đồng có hiệu lực pháp luật không?

    Tình tiết bổ sung

    Các bên đã thỏa thuận nhưng không đạt được phương án thương lượng. Giả sử các bên mong muốn được tiếp tục giải quyết bằng hòa giải tại một trung tâm hòa giải thương mại tại Hà Nội.

    Câu hỏi 3 (2,0 điểm): Anh, chị tư vấn cho các bên như thế nào?

    Tình tiết bổ sung

    Giả sử hợp đồng hợp tác kinh doanh có hiệu lực, hai công ty không thỏa thuận được phương án giải quyết tranh chấp. Công ty Minh Hải đã làm đơn khởi kiện đến trung tâm trọng tài X (một trung tâm trọng tải Việt Nam đang hoạt động tại Hà Nội) yêu cầu buộc công ty An Bình phải nhận số tiền góp vốn và xác định tỷ lệ góp vốn và chia lợi nhuận theo tỷ lệ 70/30. Thời điểm khởi kiện là ngày 5/1/2024.

    Câu hỏi 4 (4,0 điểm): Anh (chị) hãy kiểm tra lại điều kiện khởi kiện tại trọng tài và soạn thảo bàn tự bảo vệ cho khách hàng?

    Xem thêm: Tổng hợp đề thi hết môn tại Học viện Tư pháp

    Nếu bạn thấy những chia sẻ của mình hữu ích thì có thể donate ủng hộ mình 01 ly trà sữa nha: BIDV 4603463395

    Continue Reading



    ĐỀ THI KẾT THÚC HỌC PHẦN

    MÔN KỸ NĂNG TƯ VẤN PHÁP LUẬT

    Thời gian làm bài: 150 phút

    ĐỀ 1

    Công ty TNHH ABC (“ABC”) chuyên sản xuất và buôn bán các loại hàng hóa về thời trang, trụ sở tại TP. HCM. Tháng 1/2020, đại diện ABC tìm đến văn phòng luật sư của anh/chị đặt vấn đề ký hợp đồng tư vấn pháp luật thường xuyên với Văn phòng.

    Câu hỏi 1 (2 điểm): Anh (chị) hãy nêu tên những điều khoản chính và nội dung chính của mỗi điều khoản đó trong hợp đồng cung cấp dịch vụ pháp lý dự định ký kết với ABC.

    Tình tiết bổ sung

    Cuối năm 2020, ABC nhận được đơn đặt hàng mua áo thun nam cổ chemise với bạn hàng nước ngoài. Sau một thời gian đàm phán, ABC thống nhất ký hợp đồng đặt may hàng gia công áo thun nam cổ chemise với Doanh nghiệp tư nhân Thiên Hà, một doanh nghiệp chuyên về thiết kế và may hàng xuất khẩu, có trụ sở tại TP. HCM (“DNTN Thiên Hà”). Các bên đã ký biên bản ghi nhớ ngày 12/12/2020 với các thỏa thuận cơ bản như sau:

    - Số lượng hàng gia công: 10.000 áo.

    - Đơn giá: 39.000 VNĐ/áo

    - Nguyên liệu vải: SJ 288 do Công ty Dệt Thành Công sản xuất;

    - Mẫu hàng do ABC cung cấp; vải phối cổ PE 30/1, các phụ kiện khác do DNTN Thiên Hà tự lo.

    Câu hỏi 2 (3 điểm):

    a) Anh (chị) cần tìm hiểu những thông tin, tài liệu và tra cứu văn bản pháp luật nào để tư vấn cho ABC trong giao dịch trên? Giải thích vì sao cần áp dụng các văn bản pháp luật đó?

    b) Anh (chị) hãy lên danh mục các điều khoản căn bản của Hợp đồng gia công giữa ABC và DNTN Thiên Hà?

    Tình tiết bổ sung

    Thực tế thì ABC và DNTN Thiên Hà đã ký hợp đồng gia công (“Hợp đồng”) vào ngày 22/12/2020 bởi đại diện có thẩm quyền của hai bên. ABC đã ngừng sử dụng dịch vụ pháp lý của văn phòng anh chị từ tháng 7/2020. Vì vậy, ABC đã sử dụng mẫu hợp đồng của DNTN Thiên Hà và không hề hỏi ý kiến của anh (chị) trước khi ký. Hợp đồng thể hiện đầy đủ các thỏa thuận đã đạt được ở trên. Điều 4 Hợp đồng đã ký ghi như sau: “Về nguyên liệu, ABC đã ký hợp đồng mua vải với Công ty Dệt Thành Công, theo đó DNTN Thiên Hà được quyền trực tiếp nhận vải thun SJ 288 tại Công ty Dệt Thành Công.”

    Hợp đồng chỉ có thểm một số nội dung khác như sau: sau khi hoàn thành sản phẩm, DNTN Thiên Hà phải giao hàng tại kho của ABC. Thời gian giao hàng thành phẩm chậm nhất là ngày 8/2/2021. ABC có trách nhiệm ứng trước cho DNTN Thiên Hà 15% giá trị Hợp đồng vào ngày ký Hợp đồng. Số còn lại ABC sẽ giao nốt cho DNTN Thiên Hà khi bàn giao thành phẩm tại kho. Bên nào vi phạm Hợp đồng sẽ bị phạt 10% giá trị Hợp đồng và phải bồi thường các thiệt hại phát sinh.

    Sau khi ký Hợp đồng, ABC đã ứng trước 15% giá trị hợp đồng cho DNTN Thiên Hà. DNTN Thiên Hà đã cử người đến nhận nguyên liệu tại Công ty Dệt Thành Công và ký hợp đồng với Công ty TNHH Đông Hòa để mua nguyên liệu phối cổ. Ngày 8/2/2021, DNTN Thiên Hà tiến hành giao hàng tại kho của ABC nhưng hàng không được nhập kho vì cán bộ kiểm hàng cho rằng hàng may không đúng nguyên liệu, không đạt chất lượng xuất khẩu. Chủ DNTN Thiên Hà đành phải thuê kho lưu hàng với giá 300.000đ/ngày.

    Sau khi trao đổi lại với ABC, chủ doanh nghiệp DNTN Thiên Hà khẳng định họ không có lỗi trong việc may sai nguyên liệu bởi theo hợp đồng gia công đã ký, nguyên liệu do ABC cung cấp, họ đã nhận hàng tại Công ty Dệt Thành Công theo đúng chỉ định của ABC, DNTN Thiên Hà không có trách nhiệm về nguyên liệu.

    Tìm hiểu nguyên nhân, anh (chị) được biết do Công ty Dệt Thành Công cung cấp hàng không đúng mã hàng cho DNTN Thiên Hà nên hàng bị may sai nguyên liệu so với đặt hàng của khách nước ngoài. ABC cũng không cử người đến kiểm tra quá trình gia công của DNTN Thiên Hà.

    ABC từ chối nhận hàng và yêu cầu DNTN Thiên Hà phải chịu toàn bộ mọi thiệt hại từ hợp đồng này, trong đó bao gồm cả khoản phạt hợp đồng từ đối tác nước ngoài với mức phạt lên đến 50,000 USD.

    ABC dự định kiện DNTN Thiên Hà ra tòa.

    Câu hỏi 3 (5 điểm):

    a) Anh (chị) có những lập luận pháp lý nào để bảo vệ quyền lợi của ABC? 

    b) Anh (chị) khuyên ABC đưa ra những yêu cầu bồi thường nào đối với DNTN Thiên Hà? 

    c) Theo anh (chị) đâu là điểm yếu về pháp lý của ABC trong tranh chấp trên?

    ----------------------------------------

    ĐỀ 2

    Tháng 1.2021, ông A và 15 cá nhân khác (đều là người Việt Nam) dự định góp vốn thành lập công ty cổ phần Phan Bình ("Phan Bình"), trụ sở tại Hà Nội. Dự thảo điều lệ công ty cổ phần Phan Bình có một số nội dung như sau:

    • Trụ sở chính: số 165 đường X, phường Y, quận Cầu Giấy, TP. Hà Nội. Khi cần thiết, Hội đồng quản trị (“HĐQT") quyết định việc thay đổi trụ sở chính, lập hay hủy bỏ chỉ nhánh, văn phòng đại diện của công ty. Công ty có hai người đại diện theo pháp luật là Chủ tịch HĐQT và Giám đốc.

    • Các ngành nghề kinh doanh của công ty: Sản xuất các loại bánh từ bột (1071), Sản xuất dưỡng (1072); Sản xuất ca cao, sôcôla và bánh kẹo (1073); Sản xuất mì ổng, mỳ sợi và sản phẩm tương tự (1074); Sản xuất cả phê (1077). Trường hợp mở rộng hoạt động kinh doanh, HĐQT quyết định việc bổ sung thêm các ngành nghề kinh doanh mới.

    • HĐQT là cơ quan quản lý lý công ty, có toàn quyền nhân danh công ty để quyết định, thực hiện quyền và nghĩa vụ của công ty, trừ các quyền và nghĩa vụ thuộc thẩm quyền của Đại hội đồng cổ đông ("ĐHĐCĐ"). HĐQT có 07 thành viên, nhiệm kỳ thành viên HĐQT là 05 năm. Thành viên HĐQT sẽ được miễn nhiệm khi họ có đơn xin từ chức và được HĐQT chấp thuận. HĐQT sẽ họp và miễn nhiệm, bãi nhiệm thành viên HĐQT trong các trường hợp khác khi thấy cần thiết.

    • Cuộc họp HĐQT được tiến hành khi có từ ba phần tư tổng số thành viên trở lên dự họp. Trường hợp không đủ ba phần tư tổng số thành viên dự họp thì HĐQT được quyền triệu tập họp lần thứ hai trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày dự định họp lần thứ nhất; và cuộc họp được tiến hành nếu có hơn một nửa số thành viên HĐQT dự họp. Trường hợp vẫn không đủ một nửa số thành viên dự họp thì HĐQT được quyền triệu tập họp lần thứ ba trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày dự định họp lần thứ hai. Cuộc họp HĐQT lần thứ ba được tiên hành không phụ thuộc vào số lượng thành viên HĐQT dự họp.

    • Trường hợp nghị quyết, quyết định do HĐQT thông qua trái với quy định của pháp luật dẫn đến gây thiệt hại cho công ty thì các thành viên HĐQT phải cùng liên đới chịu trách nhiệm cá nhân về nghị quyết, quyết định đỏ và phải đền bù thiệt hại cho công ty.

    Câu hỏi 1 (4,0 điểm): Anh (chị) hãy tư vấn cho ông A (dưới hình thức văn bản tư vấn) những vấn đề cần lưu ý về các nội dung trong dự thảo điều lệ nêu trên?

    Tình tiết bổ sung

    Thực tế, công ty cổ phần Phan Bình đã được thành lập vào tháng 3.2021, trụ sở tại Hà Nội. Điều lệ công ty hoàn toàn giống quy định của Luật Doanh nghiệp 2020, tất cả cổ phần của Phan Bình là cổ phần phổ thông. Cổ đông sáng lập bao gồm: Công ty TNHHTâm Đức (“Tâm Đức") là pháp nhân 100% vốn Việt Nam, ông A và 15 cá nhân khác (đều là người Việt Nam). Tâm Đức ủy quyền cho ông X (người Việt Nam) là đại diện duy nhất cho toàn bộ cổ cổ phần của Tâm Đức tại Phan Bình. HĐQT Phan Bình có 07 thành viên, bao gồm: ông A là Chủ tịch HĐQT: các ông B, C. D. E. F và ông X là thành viên HĐQT.

    Tháng 10.2022, Tâm Đức đã thay đổi người đại diện cho toàn bộ cổ phần của Tâm Đức tại Phan Bình từ ông X sang ông Y (người Việt Nam). Sau đó, Tâm Đức gửi công văn đề nghị ông A với tư cách Chủ tịch HĐQT triệu tập cuộc họp bất thường của HĐQT Phan Bình nhằm thay đổi thành viên HĐQT từ ông X sang ông Y. Cùng thời điểm này, các ông E, F đã vắng mặt 4 cuộc họp liên tiếp của HĐQT. Trên cơ sở công vân đề nghị của Tâm Đức, ông A dự định sẽ triệu tập cuộc họp HĐQT bất thường đề thay đổi thành viên HĐQT từ ông X sang ông Y, đồng thời đề xuất HĐQT xem xét bãi nhiệm tư cách thành viên HĐQT của các ông E, F.

    Câu hỏi 2 (2,0 điểm): Anh (chị) có lưu ý gì với ông A và Tâm Đức về những dự định nêu trên?

    Tình tiết bổ sung

    Tháng 8.2023, Tâm Đức muốn chuyển nhượng toàn bộ cổ phần phổ thông tại Phan Bình (đều là cổ phần có từ thời điểm đăng ký thành lập công ty) cho ông Tạ Đình P (người Việt Nam). ông P đang là chủ một doanh nghiệp tư nhân tại Hà Nội và không phải cổ đông của Phan Bình. Sau khi Tâm Đức chuyển nhượng cổ phần, ông P sẽ trở thành cổ đông của Phan Bình.

    Câu hỏi 3 (2,5 điểm): Nếu được Tâm Đức nhờ tư vấn, anh (chị) hãy tư vấn cho Tâm Đức trình tự, thủ tục và các lưu ý để thực hiện được ý định nêu trên.

    Tình tiết bổ sung

    Từ khi thành lập, trụ sở Phan Bình nằm ở quận Cầu Giấy, TP. Hà Nội. Tháng 9 2023, An Bình đã mua một lô đất ở quận Nam Từ Liêm, TP. Hà Nội và tiến hành xây dựng toà nhà điều hành với ý định sẽ chuyển trụ sở công ty về quận Nam Từ Liêm.

    Câu hỏi 4 (1,5 điểm): Anh (chị) hãy tư vẫn sơ bộ cho An Bình những công việc cần thiết để hoàn tất việc thay đổi trụ sở.

    ĐỀ 3

    Công ty TNHH Vinh Hải ("Vinh Hải") hoạt động trong lĩnh vực xây dựng, trụ sở tại Hưng Yên. Từ tháng 01/2021, Vinh Hải đã sửa đổi điều lệ công ty hoàn toàn giống quy định của Luật Doanh nghiệp 2020. Vinh Hải có năm thành viên góp vốn là các ông H, K, L, M, N (đều là người Việt Nam). Ông H là chủ tịch Hội đồng thành viên (đại diện theo pháp luật duy nhất của công ty) và ông K là giám đốc. Trong quá trình hoạt động, ông H ủy quyền cho ông K là đại diện theo ủy quyền của công ty tham gia ký kết các hợp đồng với khách hàng, ngân hàng và các cơ quan khác. Năm 2022, các thành viên trong công ty xảy ra bất đồng trong hoạt động kinh doanh. Tháng 08/2022 ông K đã chiếm giữ con dấu công ty và chuyển khách hàng của Vinh Hải sang cho công ty khác mà ông K cũng là cổ đông.

    Câu hỏi 1 (1,5 điểm): Anh (chị) hãy tư vấn các công việc mà công ty Vinh Hải cần tiến hành để hạn chế các thiệt hại có thể xảy ra đối với công ty khi bị ông K chiếm giữ con dấu và hướng giải quyết vấn đề này.

    Tình tiết bổ sung

    Công ty TNHH Phan Tâm (“Phan Tâm”) chuyên kinh doanh vật tư điện, trụ sở tại Hà Nội. Tháng 1/2023, Vinh Hải dự định ký hợp đồng mua dây cáp của Phan Tâm. Dự thảo hợp đồng Phan Tâm gửi cho Vinh Hải có một số nội dung sau:

    • Hàng hóa: Cáp ngầm 4 ruột DSTA 4×185-0,6 (Bọc cách điện XLPE, bọc vỏ PVC); số lượng: 1000 mét. Bên bán chịu trách nhiệm bảo hành toàn bộ hàng hoá cung cấp cho bên mua trong vòng 06 tháng kể từ khi ký hợp đồng.

    • Đơn giá: 90 USD/mét; tổng giá trị hợp đồng là 90.000 USD (chưa bao gồm phi vận chuyển đến kho hàng bên mua)

    • Trình tự thanh toán: bên mua thanh toán trước 70% giá trị hợp đồng trong vòng 03 ngày làm việc kể từ ngày hợp đồng được ký kết; số tiền còn lại được thanh toán đủ vào ngày hàng hóa được giao đến kho bên mua. Vinh Hải sẽ phải chịu phạt 0,5% giá trị hợp đồng cho mỗi ngày chậm thanh toán.

    • Thời hạn giao hàng chậm nhất không quá 45 ngày kể từ ngày ký hợp đồng. Bên bán có trách nhiệm thông báo trước khi giao hàng. Bên bán sẽ được miễn trách nhiệm nếu có sự kiện bất khả kháng xảy ra làm ảnh hưởng đến tiến độ giao hàng.

    • Mọi tranh chấp phát sinh từ hợp đồng sẽ được giải quyết tại Trung tâm trọng tài thương nhân Việt Nam (VTA). Địa điểm giải quyết tranh chấp là trụ sở chính của VTA (số 250 đường Nguyễn Thị Minh Khai, Phường 6, Quận 3, TP. HCM).

    Câu hỏi 2 (5,0 điểm): Anh/chị hãy tư vấn cho Vinh Hải (dưới hình thức văn bản tư vấn, những rủi ro có thể gặp phải nếu ký hợp đồng có các điều khoản trên.

    Câu hỏi 3 (1,5 điểm): Anh/chị hãy giúp Vinh Hải soạn thảo điều khoản bồi thường thiệt hại cho dự thảo hợp đồng dự định ký kết nêu trên.

    Tình tiết bổ sung

    Thực tế vào tháng 2/2023, thay vì ký hợp đồng mua đứt bán đoạn một lần, Vinh Hải đã ký hợp đồng đặt mua thường xuyên đây cáp của Phan Tâm (nội dung khác với dự thảo hợp đồng nêu trên). Trong hợp đồng, Phan Tâm là “BÊN A” và Vịnh Hải là “BÊN B”. Việc đặt hàng, chấp nhận và giao nhận hàng hóa theo từng đợt được quy định tại Điều 5 với nội dung như sau:

    “BÊN B đặt hàng với BÊN A theo từng đợt bằng các đơn đặt hàng dưới hình thức email. Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ khi nhận được đơn đặt hàng từ BÊN B, BÊN A phải xem xét và trả lời chấp nhận hay không chấp nhận đơn đặt hàng. Trường hợp chấp nhận đơn đặt hàng của BÊN B, BÊN A thông báo cho BÊN B biết và hai bên bắt đầu thực hiện đơn hàng đã thống nhất. Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày thống nhất đơn hàng, BÊN A có trách nhiệm giao đủ hàng tại kho hàng của BÊN B và BÊN B có trách nhiệm đặt cọc cho BÊN A số tiền tương đương 30% giá trị đơn hàng. Nếu trong vòng 05 ngày làm việc kể từ ngày thống nhất đơn hàng, BÊN B chưa chuyển đủ số tiền đặt cọc là 30% giá trị đơn hàng thì BÊN A có quyền tạm dừng thực hiện hợp đồng hoặc hủy bỏ hợp đồng đã ký kết, và không phải chịu trách nhiệm gì, tương ứng BÊN B cũng có quyền tạm dừng thực hiện hợp đồng hoặc hủy bỏ hợp đồng đã ký kết, và không phải chịu trách nhiệm gì nếu trong thời hạn này, BÊN A không giao đủ hàng hóa cho BÊN B".

    Sau khi ký kết hợp đồng, hai bên thống nhất đơn hàng đầu tiên. Vinh Hải đã chuyển cho Phan Tâm số tiền đặt cọc tương đương 20% giá trị đơn hàng và thông báo, vào ngày Phan Tâm giao hàng hóa tới kho hàng của Vinh Hải, họ sẽ chuyển nốt phần đặt cọc còn lại. Tuy nhiên, phía Phan Tâm lại yêu cầu Vĩnh Hải phải chuyển đủ 30% giá trị đơn hàng rồi mới giao hàng hóa. Sau thời hạn 05 ngày như đã thỏa thuận tại Điều 5, Phan Tâm gửi thông báo tuyên bố hủy bỏ hợp đồng đã ký kết do Vinh Hải không chuyển đủ số tiền đặt cọc như đã thỏa thuận, Vĩnh Hải phải chịu phạt cọc bằng 20% giá trị đơn hàng đã chuyển cho Phan Tâm. Nhận thấy quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm, đại diện Vinh Hải đến văn phòng luật sư nhờ tư vấn.

    Câu hỏi 4 (2,0 điểm): Anh (chị) sẽ dựa trên những căn cứ và lập luận như thế nào để phản bác lại quản điểm của Phan Tâm, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho công ty Vinh Hải?

    ----------------------------------------

    ĐỀ 3

    Công ty TNHH Thương mại và dịch vụ Phương Nam (Công ty Phương Nam), được thành lập theo Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp số 0401545xxx do Phòng đăng ký kinh doanh thuộc Sở kế hoạch và đầu tư thành phố Đà Nẵng cấp lần đầu 12/7/2013, thay đổi lần thứ 2 ngày 02/02/2015 có ngành nghề dịch vụ cung cấp cơ sở lưu trú cho khách du lịch, khách trọ. Công ty Phương Nam có cơ sở kinh doanh là khách sạn An Bình, tại phường Liên Chiểu, quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng.

    Công ty TNHH một thành viên thương mại và du lịch Phương Bắc (Công ty Phương Bắc), được thành lập theo Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp số 0101878xxxx do Phòng đăng ký kinh doanh thuộc Sở kế hoạch đầu tư thành phố Hà Nội cấp lần đầu 12/7/2013, thay đổi lần thứ 3 ngày 04/02/2015 với ngành nghề đại lý du lịch.

    Công ty Phương Bắc thường cung cấp các dịch vụ tour du lịch cho khách đến du lịch tại thành phố Đà Nẵng nên có nhu cầu về việc thuê phòng khách sạn cho các đoàn khách. Công ty Phương Bắc đã khảo sát và nhận thấy khách sạn An Bình nằm ở khu trung tâm của thành phố Đà Nẵng, thuận tiện trong việc di chuyển để tổ chức cho khách du lịch thăm quan các danh lam thắng cảnh của Đà Nẵng: Bà Nà Hill, Ngũ Hành Sơn,....

    Hơn nữa, công ty Phương Bắc cũng rất hài lòng cơ sở vật chất và thái độ phục vụ chuyên nghiệp của đội ngũ nhân viên phòng, lễ tân tại khách sạn An Bình nên muốn thuê một số phòng khách sạn với thời hạn thuê lâu dài. Công ty Phương Nam và công ty Phương Bắc đã thỏa thuận sơ bộ về một số những nội dung thương mại của giao dịch. Trước khi kí kết hợp đồng, đại diện công ty Phương Nam đến văn phòng luật sư gặp anh/chị để đề nghị được tư vấn.

    (Thời điểm tiếp nhận yêu cầu tư vấn là thời điểm hiện tại).

    Câu hỏi 1 (2.0 điểm): Anh/chị trao đổi và yêu cầu công ty Phương Nam cung cấp những thông tin, tài liệu gì để đảm bảo cho hợp đồng được ký kết có hiệu lực pháp luật?

    Tình tiết bổ sung

    Công ty Phương Nam là doanh nghiệp chuyên kinh doanh dịch vụ lưu trú, có nhiều cơ sở lưu trú nên việc quản lý khách sạn An Bình thường do bà Trần Vân Anh là phó giám đốc công ty Phương Nam thực hiện. Do đó công ty Phương Nam muốn bà Vân Anh sẽ phục trách luôn việc sẽ kí kết các hợp đồng cung cấp dịch vụ lưu trú này.

    Câu hỏi 2 (1.0 điểm): Anh/chị có lưu ý gì với khách hàng về dự định này?

    Tình tiết bổ sung

    Vì là doanh nghiệp thường xuyên tổ chức các tour du lịch tại thành phố Đà Nẵng và Quảng Nam do đó công ty Phương Bắc muốn giữ khối lượng tầm 20 phòng Twin/ tổng số 50 phòng của khách sạn An Bình, thời gian thuê tối thiểu là 12 tháng sau đó có thể gia hạn hợp đồng. Công ty Phương Nam thì lo ngại về việc công ty Phương Bắc không thực hiện đúng nghĩa vụ về thanh toán, gây ảnh hưởng đến doanh thu của khách sạn An Bình trong khi nhu cầu của khách vẫn có mà công ty Phương Nam vẫn phải giữ đủ số lượng 20 phòng Twin cho công ty Phương Bắc nên yêu cầu công ty Phương Nam phải thực hiện biện pháp bảo đảm.

    Câu hỏi 3 (2.0 điểm): Anh/chị soạn thảo những nội dung nào để đảm bảo được tối đa quyền lợi theo mong muốn của công ty Phương Nam?

    Câu hỏi 4 (2.0 điểm): Ngoài các nội dung tại câu 3, theo anh/chị hợp đồng thuê phòng nghỉ này cần đàm phán thêm những nội dung nào để đảm bảo quyền lợi cho công ty Phương Nam?

    Tình tiết bổ sung

    Tổng giá trị của hợp đồng thuê cho 20 phòng Twin mà hai bên thống nhất sơ bộ là 300.000.000VNĐ/tháng. Tuy nhiên do tỉ giá USD biến động nên công ty Phương Nam mong muốn tiền thuê phòng ghi trong hợp đồng được quy định bằng USD rồi quy ra tiền VNĐ, tiền thanh toán vẫn là tiền Việt Nam nhưng tương đương USD tại thời điểm thanh toán theo tỉ giá quy đổi của ngân hàng Vietcombank.

    Câu hỏi 5 (1.0 điểm): Ý kiến của anh/chị về vấn đề này như thế nào?

    Tình tiết bổ sung

    Về điều khoản giải quyết tranh chấp Phương Nam muốn tranh chấp nếu có xảy ra sẽ được thực hiện bằng hòa giải thương mại và trọng tài thương mại.

    Câu hỏi 6 (2.0 điểm): Anh/chị tư vấn gì cho Phương Nam về yêu cầu này? Hãy soạn thảo điều khoản giải quyết tranh chấp tương ứng với yêu cầu mà anh/chị tư vấn.

    Xem thêm: Tổng hợp đề thi hết môn tại Học viện Tư pháp

    Nếu bạn thấy những chia sẻ của mình hữu ích thì có thể donate ủng hộ mình 01 ly trà sữa nha: BIDV 4603463395

    Continue Reading

     




    1. Đề thi hết môn Luật sư và Đạo đức nghề luật (LS1)
    2. Đề thi hết môn Kỹ năng chung của Luật sư (LS2)
    3. Đề thi hết môn Kỹ năng tư vấn pháp luật (LS3)
    4. Đề thi hết môn Kỹ năng đại diện ngoài tố tụng và giải quyết tranh chấp ngoài tòa án (LS4)
    5. Đề thi hết môn Kỹ năng tranh tụng Hình sự (LS5)
    6. Đề thi hết môn Kỹ năng tranh tụng Dân sự (LS6)
    7. Đề thi hết môn Kỹ năng tranh tụng Hành chính (LS7)

    Nếu bạn thấy những chia sẻ của mình hữu ích thì có thể donate ủng hộ mình 01 ly trà sữa nha: BIDV 4603463395

    Continue Reading





    Tên học phần: Kỹ năng chung - LS2

    Số tín chỉ: 03

    Thời gian làm bài: 120 phút 

    Học viên được sử dụng các văn bản pháp luật; Quy tắc đạo đức và ứng xử nghề nghiệp luật sư Việt Nam; Giáo trình in của Học viện Tư pháp

    ĐỀ 1

    Phần I. (5 điểm)

    Có quan điểm cho rằng: "Nghề luật sư cũng như các nghề khác đều phải có lương tâm, trách nhiệm với công việc cho nên không cần thiết phải có Quy tắc đạo đức và ứng xử nghề nghiệp luật sư".

    Anh (chị) hãy lựa chọn một trong hai yêu cầu sau:

    - Lập luận để ủng hộ quan điểm trên.

    - Lập luận để phản đối quan điểm trên.

    Phần II. (5 điểm)

    Ngày 20/7/2022, Ban Chủ nhiệm Đoàn luật sư thành phố B có nhân được đơn của bà Nguyễn Thị A đề nghị xem xét vụ việc sau:

    Gia đình bà A có tranh chấp về căn nhà 316 đường Nguyễn Trãi, thành phố B. Ngày 16/4/2020, bà A ký Hợp đồng dịch vụ pháp lý số 02 với Văn phòng luật sư do ông Nguyễn Văn D - Trưởng văn phòng làm đại diện ký để nhờ ông D đòi lại căn nhà này.

    Nội dung hai bên thỏa thuận là: trong thời gian 6 tháng kể từ ngày ký hợp đồng, nếu ông D đòi được căn nhà số 316 đường Nguyễn Trãi cho bà A, bà A sẽ trả thù lao cho ông D là 1 tỷ đồng. Ông D được tạm ứng trước 500 triệu đồng. Sau 6 tháng ông D không đòi được thì ông D phải hoàn trả lại cho bà A số tiền đã nhận trừ khi pháp luật có quy định khác.

    Ngày 8/5/2020, bà A đã giao đủ cho ông D 500 triệu đồng (có giấy biên nhận). Tuy nhiên, sau đó 6 tháng ông D không đòi được nhà cho bà A. Do vậy, ngày 14/7/2021, hai bên đã thống nhất làm biên bản thanh lý Hợp đồng, ông D chỉ đồng ý trả 300 triệu đồng còn 200 triệu đồng ông không đồng ý vì ông cho rằng đây là tiền chi phí ông đã thực hiện vụ việc cho bà A, bao gồm tiền chi phí đi lại, tiếp khách, biếu quà, nộp án phí...

    Câu 1: (3 điểm)

    Giả sử anh (chị) được Ban Chủ nhiệm Đoàn Luật sư giao giải quyết vụ việc trên, hãy đặt câu hỏi khi làm việc với bà A và luật sư D?

    Câu 2: (2 điểm)

    Giả sử anh (chị) là luật sư được bà A mời bảo vệ quyền lợi cho bà khi làm việc với Ban Chủ nhiệm Đoàn Luật sư về vụ việc đã nêu, hãy viết một bài viết pháp lý để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bà A. (tối đa không quá 01 trang giấy thi).

    -----------------------------------

    ĐỀ 2

    I. Lý thuyết (5 điểm)

    Có quan điểm cho rằng: "Nghề luật sư luôn gắn liền với sự hình thành và phát triển của hệ thống pháp luật".

    Anh (chị) ủng hộ hay phản đối quan điểm nêu trên? Hãy lập luận để làm rõ quan điểm của mình.

    II. Tình huống (5 điểm)

    Ngày 20/3/2022, Đoàn Luật sư thành phố B nhận được đơn của bà Trần Mỹ L và đơn của bà Nguyễn Thanh N tố cáo bà Lê Thu H, là luật sư Trưởng Văn phòng luật sư C thuộc Đoàn Luật sư thành phố B, có hành vi lừa đảo chiếm đoạt tiền của bà Trần Mỹ L, với số tiền là 375 triệu đồng và 9.000 USD để lo thủ tục thông quan lô hàng 20 ô tô đầu kéo nhập khẩu từ Hà Lan về Việt Nam; lừa bà Nguyễn Thanh N - Giám đốc công ty K số tiền là 300 triệu đồng thông qua việc ký Hợp đồng dịch vụ pháp lý số 07 ngày 07/07/2021; ngoài ra bà H còn vay tiền của ông Phạm Từ Q và bà Phan Xuân M (con gái ông Q) đã 5 năm nhưng không trả.

    Đã xác định được luật sư Lê Thu H ký Hợp đồng dịch vụ pháp lý với Công ty K (Hợp đồng dịch vụ pháp lý số 07 ngày 07/07/2021), nội dung là hỗ trợ pháp lý nhằm giúp công ty K không bị khách hàng, đại lý đến gây rối trật tự, đòi nợ tại trụ sở công ty. Thù lao mà Công ty K phải trả cho văn phòng luật sư là 200 triệu đồng. Quá trình thực hiện hợp đồng dịch vụ pháp lý, Văn phòng luật sư C đã thu của Công ty K 300 triệu đồng, trong đó có 200 triệu đồng là tiền thù lao, 100 triệu đồng là phí thay mặt Công ty K đàm phán với các khách hàng, đại lý nhằm giải quyết tranh chấp.

    Câu 1: (2 điểm)

    Để giải quyết vụ việc trên, Đoàn Luật sư thành phố B cần làm rõ những vấn đề gì?

    Câu 2: (3 điểm)

    Giả sử anh (chị) được Ban Chủ nhiệm Đoàn Luật sư thành phố B phân công giải quyết vụ việc, hãy đặt câu hỏi cho bà Nguyễn Thanh N và luật sư Lê Thu H khi mời họ đến làm việc để giải quyết vụ việc trên.

    -----------------------------------

    ĐỀ 3

    1. Có ý kiến cho rằng: "Nghề luật sư từ xuất phát điểm của những người tự nguyện thực hiện việc bào chữa vì sự thật và công lý dần dần trở thành nghề tự do, nghề làm vì tiền."

    Câu 1: (5 điểm)

    Anh/chị ủng hộ hay phản đối quan điểm trên? Hãy lập luận để bảo vệ quan điểm của mình?

    2. Ngày 20/8/2022, Đoàn luật sư thành phố B nhận được đơn tố cáo như sau:

    Ông David Robert Vik mang quốc tịch Mỹ tố cáo luật sư Vũ Minh H có hành vi trái pháp luật chiếm đoạt tiền của ông, đề nghị Đoàn luật sư thành phố B xử lý kỷ luật luật sư H theo quy định. Ông trình bày: Với tư cách là luật sư của Công ty Đ, luật sư H đã ký hợp đồng giúp ông Vik đòi số tiền bồi thường từ trường quốc tế do trường này đã chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật với ông. Quá trình giải quyết, luật sư H đã có thông báo bằng mail là trường quốc đã chấp nhận trả ông Vik số tiền 11.600 USD. Luật sư H đã chuyển cho ông Vik số tiền 4.800 USD và hứa sẽ chuyển trả vào tài khoản nốt số tiền còn lại. Nhưng cho tới nay đã nhiều tháng trôi qua luật sư H không chuyển tiền mà còn thông báo trường đền bù cho ông Vik chỉ có 10.000 USD và ông Vik còn nợ luật sư H 50 USD. Trong khi đó hợp đồng dịch vụ pháp lý ký kết giữa ông Vik với luật sư H thì chi phí pháp lý là không quá 3.000 USD nhưng ông Vik đã thanh toán cho luật sư H số tiền 3.500 USD. Ông Vik đã nộp 5 lần tiền trong đó có phiếu thu cụ thể, lần 1 là 12.480.000 đồng; lần 2 là 2.100.000 đồng; lần 3 là 12.240.000 đồng. Cả 3 phiếu thu này do ông Vik đến công ty Đ nộp, có chữ ký của kế toán trưởng Hương, thủ quỹ Hoa, không có chữ ký của luật sư H. Lần 4 và lần 5 ông chuyển khoản qua ngân hàng với số tiền là 5.220.000 đồng và 21.850.500 đồng.

    Luật sư H trình bày: Công ty Đ đã ký hợp đồng với ông Vik làm 4 bước. Bước 1: Soạn thư khiếu nại đến trường yêu cầu trường trả cho ông Vik tiền lương, giấy phép lao động - phí 300 USD; Bước 2: Chuẩn bị thư khiếu nại gửi đến Sở LĐTBXH - phí 300 USD; Bước 3: Đàm phán trực tiếp với Sở LĐTBXH và trường quốc tế - phí 1000 USD; Bước 4: Tranh tụng tại Tòa án - phí 3000 USD với cấp sơ thẩm, ngoài ra còn có phí dịch tài liệu: 15 USD/100 tờ, phí ngân hàng (nếu có), thuế giá trị gia tăng, phí giao dịch quốc tế (nếu có).

    Câu 2. (2 điểm)

    Là luật sư của ông Vik, anh (chị) hãy xác định những vấn đề cần làm rõ để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của khách hàng?

    Câu 3 (3 điểm)

    Là luật sư của ông Vik, hãy đặt câu hỏi cho các bên để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho ông Vik trong vụ việc trên?

    -----------------------------------

    ĐỀ 4

    1. Có quan điểm cho rằng: "Nghề luật sư gắn liền với số phận của con người, vì thế, mang tính nhân văn sâu sắc".

    Câu 1 (5 điểm):

    Anh (chị) hãy lập luận để ủng hộ quan điểm trên?

    2. Ngày 20/4/2022, Đoàn luật sư thành phố B nhận được đơn của bà Nguyễn Thị Thanh Hằng đề nghị xem xét, xử lý kỷ luật đối với hành vi của luật sư Nguyễn Thị B. Công ty H do bà Hằng làm giám đốc của công ty đã ký Hợp đồng dịch vụ pháp lý với Văn phòng luật sư T do bà B làm trưởng văn phòng, nội dung hợp đồng quy định: Văn phòng luật sư T sẽ tư vấn, hỗ trợ giải quyết các vấn đề pháp lý, tham gia tố tụng nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho công ty H liên quan đến việc yêu cầu Tòa án nhân dân có thẩm quyền buộc Công ty TNHH thương mại và đầu tư Hồng Quang thực hiện nghĩa vụ thanh toán theo thỏa thuận được ký giữa Công ty TNHH thương mại và đầu tư Hồng Quang với công ty H. Phí thù lao luật sư được thống nhất là trọn gói, Văn phòng luật sư T sẽ thông báo cho công ty H những khoản thanh toán bổ sung như phí dịch vụ của các thỏa thuận riêng và các chi phí thực tế. Vụ việc của công ty H do luật sư Nguyễn Thị B thực hiện. Quá trình thực hiện hợp đồng, Văn phòng luật sư T đã thông báo cho công ty H phải nộp bổ sung 200 triệu đồng vì chi phí phát sinh có danh mục kèm theo. Công ty H không chấp nhận vì cho rằng mình đã ký hợp đồng trọn gói, các phí phát sinh phải được thỏa thuận trước khi thực hiện. Hai bên không thống nhất được về phí phát sinh nên Văn phòng luật sư T đã yêu cầu chấm dứt hợp đồng trước thời hạn, đồng thời không hoàn trả các khoản thù lao mà công ty H đã thanh toán trước cho Văn phòng luật sư T. Khi mâu thuẫn phát sinh đến trước khi Văn phòng luật sư T đề nghị chấm dứt hợp đồng, luật sư Nguyễn Thị B đã không tham gia các buổi làm việc mà Tòa án triệu tập, không cung cấp chứng cứ mà luật sư B đã thu thập cho Tòa án.

    Câu 2 (2 điểm):

    Là luật sư của công ty H, anh (chị) hãy xác định những vấn đề cần làm rõ trong vụ việc trên?

    Câu 3 (3 điểm): 

    Là luật sư của công ty H, anh (chị) hãy đặt câu hỏi cho các bên trong vụ việc trên?

    -----------------------------------

    ĐỀ 5

    1. Có quan điểm cho rằng: "Trong quá trình hành nghề, sẽ có tình huống luật sư phải đối mặt giữa quyền lợi của khách hàng và lợi ích chung, khi đó, luật sư buộc phải lựa chọn đặt lợi ích của khách hàng sau lợi ích chung".

    Câu 1 (5 điểm):

    Anh (chị) ủng hộ hay phản đối quan điểm trên? Anh (chị) hãy đưa ra lập luận để bảo vệ cho quan điểm của mình?

    2. Năm 2020, TAND thành phố X (thành phố thuộc tỉnh) nhận được đơn của luật sư Nguyễn Văn X khởi kiện Kiểm sát viên Nguyễn Văn K, theo đó, luật sư X yêu cầu ông K phải xin lỗi công khai và bồi thường danh dự vì cho rằng trong phiến tòa sơ thẩm Kiểm sát viên K đã cố tình xúc phạm thô bạo đến uy tín, danh dự của ông. Theo luật sư X, khi tranh luận giải quyết vụ án tại phiên tòa Kiểm sát viên K đã phát biểu "Luật sư X đã xúc phạm, ngạo mạn, tự cao, thiếu lịch sự trước công luận". Ngoài ra, sau khi tham gia phiên tòa, Kiểm sát viên K đã báo cáo và đề nghị Viện kiểm sát có văn bản kiến nghị Đoàn luật sư xử lý kỷ luật đối với luật sư X vì khi tranh luận luật sư X đã cho rằng Kiểm sát viên cố tình làm sai lệch hồ sơ vụ án và đề nghị khởi tố đối với Kiểm sát viên K. Việc Vận kiểm sát có công văn gửi Đoàn luật sư đã ảnh hưởng to lớn đến danh dự, uy tín của ông khi ông còn là Phó chủ nhiệm Đoàn luật sư.

    Câu 2 (2 điểm):

    Là Luật sư của ông X, anh (chị) hãy xác định các vấn đề cần làm rõ để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông X?

    Câu 3 (3 điểm):

    Là luật sư của ông X, anh (chị) hãy viết một bài viết pháp lý ngắn bảo vệ cho ông K?

    -----------------------------------

    ĐỀ 6

    1. (5 điểm)

    Có quan điểm cho rằng: "Nghề luật sư cũng như các nghề khác đều phải có lương tâm, trách nhiệm với công việc cho nên không cần thiết phải có Quy tắc đạo đức và ứng xử nghề nghiệp luật sư".

    Anh (chị) hãy lập luận để ủng hộ hoặc phản đối quan điểm trên.

    2. Ngày 20/4/2022, Đoàn luật sư thành phô B nhận được đơn tố cáo của ông Nguyễn Văn A đề nghị xử lý kỷ luật đối với luật sư Hoàng Văn T. Theo đơn trình bày của ông A, gia đình ông A đã ký hợp đồng dịch vụ pháp lý với Văn phòng luật sư T và cộng sự do ông T làm trưởng Văn phòng nhằm bào chữa cho gia đình ông trong vụ án hành chính với thù lao là 500 triệu đồng. Quá trình giải quyết vụ việc, gia đình ông Nguyễn Văn A đã thu kiện cả 2 cấp sơ thẩm và phúc thẩm. Ông A cho rằng luật sư T đã thiếu trách nhiệm khi tham gia bảo vệ cho gia đình ông trước Tòa án, cụ thể, luật sư T không nắm vững vụ việc, không nắm bắt được chứng cứ bên bị kiện cung cấp cho Tòa dẫn đến xác định hướng bảo vệ không đúng, bị tòa án bác bỏ. Ngoài ra, trong quá trình giải quyết vụ việc, luật sư T còn nhiều lần nhận tiền và có ký xác nhận các giấy viết tay như: nhận 200 triệu đồng để đi lấy công văn của cơ quan nhà nước, nhận 2 lượng vàng SJC để làm việc với các cơ quan, nhận 50 triệu đồng để khởi kiện quyết định hành chính tại tòa, nhận 50 triệu đồng để làm việc với tòa án.

    Câu 1 (2 điểm):

    Là luật sư bảo vệ cho luật sư Hoàng Văn T, anh (chị) hãy xác định những vấn đề cần làm rõ để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của luật sư T?

    Câu 2 (3 điểm): 

    Là luật sư bảo vệ cho gia đình ông A, khi Đoàn luật sư thành phố B đề nghị có ý kiến bằng văn bản, anh (chị) hãy viết một bài viết pháp lý để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của gia đình ông A?

    -----------------------------------

    ĐỀ 7

    1. Có quan điểm cho rằng: "Luật sư tham gia bào chữa cho bị can, bị cáo trong vụ án hình sự là người tham gia tố tụng độc lập, có quyền trình bày quan điểm của mình không phụ thuộc vào ý muốn của bị can, bị cáo".

    Câu 1 (5 điểm):

    Anh (chị) ủng hộ hay phản đối quan điểm trên? Anh (chị) hãy lập luận để bảo vệ quan điểm của mình?

    2. Công ty Luật TNHH A và Công ty T ký kết Hợp đồng dịch vụ pháp lý số 10/HĐDV-MT và Hợp đồng dịch vụ pháp lý số 20/HĐDV-MT có nội dung cơ bản giống nhau đó là: Công ty T thuê Công ty Luật A tư vấn pháp luật, cử người đai diện theo ủy quyền hoặc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp trong việc giải quyết tranh chấp hợp đồng đối với cá nhân, pháp nhân chưa thanh toán tiền cho Công ty T. Công ty T thanh toán thù lao cố định ngay sau khi ký kết hợp đồng và sẽ thanh toán cho Công ty Luật A thù lao theo kết quả giải quyết công việc được tính bằng 45% số tiền mà Công ty T thực tế được thanh toán. Trường hợp Công ty T đơn phương chấm dứt hợp đồng dịch vụ pháp lý khi không được sự đồng ý của Công ty Luật A thì công ty T phải thanh toán cho Công ty Luật A số tiền bằng thù lao giải quyết công việc.

    Thực hiện Hợp đồng dịch vụ pháp lý số 10/HĐDV-MT, Công ty Luật A tư vấn pháp luật, nhận ủy quyền của Công ty T tham gia tố tụng tại TAND giải quyết tranh chấp Hợp đồng cung cấp, gia công lắp đặt toàn bộ cửa gỗ chò chỉ đối với ông Lê Văn Yên. Công ty T thanh toán cho Công ty Luật A thù lao cố định là 10.000.000 đồng. Ngày 18/6, Công ty Luật A nhận được văn bản số 05/CV-TA của TAND về việc Công ty T có Văn bản số 41/CV-T thông báo chấm dứt hợp đồng dịch vụ pháp lý với Công ty Luật A. Ngày 23/6, Công ty Luật A có Văn bản số 99/CV-MT về việc Công ty T vi phạm hợp đồng do đơn phương chấm dứt hợp đồng và phải thanh toán số tiền bằng 45% thù lao theo kết quả giải quyết công việc, đã bao gồm thuế giá trị gia tăng là: (45% x 287.397.855 đồng) + 10% x (45% x 287.397.855 đồng) = 142.261.938 đồng. Công ty Luật A đã căn cứ số tiền 287.397.855 đồng theo Đơn khởi kiện của Công ty T gửi đến TAND.

    Thực hiện Hợp đồng dịch vụ pháp lý số 20/HĐDV-MT, Công ty Luật A tư vấn pháp luật, nhận ủy quyền của Công ty T tham gia tố tụng tại TAND giải quyết tranh chấp Hợp đồng giao khoán số 16-3/HĐGK giữa Công ty T với Công ty P. Công ty Luật A phân công chuyên viên nghiên cứu, tư vấn pháp luật, tham gia tố tụng là người đại diện theo ủy quyền của Công ty T. TAND ra Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự số 01/QĐST-KDTM với nội dung: Buộc Công ty P phải thanh toán 300.000.000 đồng. Sau đó, Công ty P đã thanh toán số tiền đợt 1 là 150.000.000 đồng. Công ty Luật A đã yêu cầu Công ty T phải thanh toán tiền thù lao. Tuy nhiên, Công ty T chưa thanh toán thù lao cố định và thù lao theo kết quả giải quyết công việc, số tiền cụ thể là: Tiền thù lao cố định 15.000.000 đồng + Tiền thù lao giải quyết công việc (45% x 150.000.000 đồng) + Tiền thuế GTGT (10% x 45% x 150.000.000 đồng) = 90.750.000 đồng.

    Câu 2 (3 điểm): Là luật sư của Công ty T, anh (chị) cần lưu ý vấn đề gì khi nghiên cứu nội dung vụ việc trên? 

    Câu 3 (2 điểm): Là luật sư của Công ty T, anh (chị) hãy đặt câu hỏi với đại diện của Công ty Luật A?

    -----------------------------------

    ĐỀ 8

    1. Trong vụ tranh chấp giữa Cơ quan điều tra liên bang Mỹ FDI và tập đoàn điện tử Apple xung quanh việc mở khóa chiếc điện thoại Iphone 5C của một trong hai hung thủ vụ khủng bố tại San Bernardino, California ngày 2/12/2015 làm 14 người chết và 20 người bị thương. Mỗi bên của vụ tranh chấp đều nằm giữ những lý lẽ của mình trong phiên điều trên giữa một bên là vấn đề bảo vệ an ninh quốc gia, quyền đảm bảo an toàn chung cho cộng đồng (FBI) và một bên là quyền tự do và bất khả xâm phạm thông tin của khách hàng (Apple).

    Câu 1 (5 điểm):

    Giả sử anh (chị) là luật sư của một bên trong vụ tranh chấp trên, anh (chị) hãy đã ra lập luận để bảo vệ quan điểm, lý lẽ của khách hàng?

    2. Ông Nguyễn A đã ký Hợp đồng dịch vụ pháp lý với Văn phòng luật sư C để ông Trần Cao N (là luật sư thuộc Văn phòng luật sư C) bảo vệ quyền lợi cho ông A trong vụ án tranh cháp quyền sử dụng đất. Hợp đồng thỏa thuận là 90.000.000 đồng nhưng trong quá trình tham gia bảo vệ do đường xá xa xôi, đi lại tốn kém nên ông A tự nguyện thêm cho ông N 10.000.000 đồng. Tổng cộng 100.000.000 đồng. Trong đó có 2 lần chuyển khoản với tổng số tiền là 75.000.000 đồng, ngày ký hợp đồng giao 10.000.000 đồng và 2 lần giao tiền mặt 15.000.000 đồng. Số tiền trên Ông A đã đưa đủ cho ông N.

    Sau khi nhận tiền, ông N hướng dẫn ông A làm một số thủ tục nhưng trong quá trình thực hiện ông N phát hiện có văn bản bất lợi dẫn đến khả năng ông N không bảo vệ được cho ông A theo hướng có lợi như đã thỏa thuận nên buộc lòng ông A phải rút đơn khởi kiện tại TAND huyện C, tỉnh G để chờ ý kiến của ông N. Tòa án đã ra Quyết định đình chỉ vụ án. Qua nhiều lần trao đổi giữa ông A và ông N về việc khởi kiện lại nhưng ông N không trả lời yêu cầu của ông A mà gửi thư nói rằng "Do ông rút đơn khởi kiện nên luật sư không còn trách nhiệm nữa". Ông A đã làm đơn khởi kiện và yêu cầu buộc ông Trần Cao N trả lại ông số tiền 100.000.000 đồng và lãi suất tính từ thời điểm ký hợp đồng dịch vụ pháp lý cho đến thời điểm hiện tại.

    Ông Trần Cao N trình bày: Sau khi ký hợp đồng dịch vụ pháp lý với ông A, Luật sư đã đi thu thập chứng cứ và xây dựng hồ sơ, làm đơn khởi kiện tranh chấp đất giữa nguyên đơn ông Nguyễn A, bị đơn Lê Thị Kim C và Nguyễn Bá Đ. TAND huyện C, tỉnh G đã thụ lý vụ án. TAND huyện C, tỉnh G đã cấp thông báo người bảo vệ quyền lợi của đương sự cho Luật sư Trần Cao N. Do vụ án phức tạp nên thời gian giải quyết kéo dài, Luật sư N phải đi lại nhiều lần. Vụ án đang trong quá trình giải quyết nhưng ông Nguyễn A đã làm đơn xin rút đơn khởi kiện và các tài liệu có liên quan. Đơn của ông Nguyễn A đã được TAND huyện C, tỉnh G chấp nhận và ra Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự. Như vậy việc không thực hiện hợp đồng dịch vụ pháp lý là do ông Nguyễn A tự nguyện rút đơn khở ikienej và Luật sư hoàn toàn không có lỗi trong sự kiện pháp lý này. Việc ông Nguyễn A khởi kiện đòi lại 100.000.000 đồng là không đúng vì hợp đồng pháp lý lập thành 2 bản có nội dung giá trị như nhau, tiền thù lao được tính trọn gói là 90.000.000 đồng. Ông A giữ 1 bản. Văn phòng Luật sư giữ 1 bản. Ông N xuất trình 1 bản viết tay với nọi dung do Ông A ghi rõ: "Hôm nay đã gởi 10.000.000 đồng, còn 80.000.000 đồng 10 ngày sau chuyển vào tài khoản". Thực hiện cam kết, ông A chuyển vào tài khoản Luật sư 50.000.000 đồng và 25.000.000 đồng. Như vậy qua 2 lần chuyển khoản và nhận tiền mặt thì luật sư N thừa nhận 85.000.000 đồng. Do vậy, ông không đồng ý trả tiền và đề nghị Tòa án bác đơn khởi kiện của ông A.

    Câu 2 (2,5 điểm): Là luật sư của ông A, khi nghiên cứu nội dung vụ việc trên, anh (chị) cần lưu ý những vấn đề gì?

    Câu 3 (2,5 điểm): Là luật sư của ông A, anh (chị) hãy đặt câu hỏi cho ông N và ông A trong vụ việc trên?

    Xem thêm: Tổng hợp đề thi hết môn tại Học viện Tư pháp

    Nếu bạn thấy những chia sẻ của mình hữu ích thì có thể donate ủng hộ mình 01 ly trà sữa nha: BIDV 4603463395

    Continue Reading



     Thời gian làm bài: 90 phút

    Câu 1 (5 điểm):

    Theo quy định của pháp luật hiện hành, những khẳng định sau đúng hay sai? Giải thích tại sao?

    1. Nam và nữ chung sống như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn có thể bị coi là trái pháp luật.

    2. Giao dịch liên quan đến tài sản chung của vợ chồng do một bên vợ, chồng thực hiện có thể không bị coi là vô hiệu.

    3. Thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất - kinh doanh của một bên vợ, chồng trong thời kỳ hôn nhân là tài sản chung của vợ chồng.

    4. Con do người mang thai hộ sinh ra phải có huyết thống với cặp vợ chồng nhờ mang thai hộ.

    5. Khi tài sản riêng đã nhập vào tài sản chung thì nghĩa vụ liên quan đến tài sản đó trở thành nghĩa vụ chung của vợ chồng.

    Câu 2 (5 điểm):

    Anh A và chị B kết hôn năm 2009. Tháng 9 năm 2012, anh A bỏ nhà ra đi và từ đó không có tin tức là còn sống hay chết. Tháng 5 năm 2019, theo yêu cầu của chị B, Tòa án tuyên bố anh A là đã chết. Tháng 8 năm 2019, chị B mua ngôi nhà số 2 đường X bằng số tiền chị được thừa kế bằng bố đẻ. Sau đó, chị đã cho thuê căn nhà trên với giá 10.000.000 đồng/tháng. Tháng 1 năm 2020, chị B chung sống như vợ chồng với anh C. Tháng 5 năm 2020, chị B sinh cháu D. Tháng 6 năm 2020, anh A trở về và được Tòa án hủy bỏ quyết định tuyên bố chết. Anh A yêu cầu chị B quay về chung sống với mình nhưng chị B từ chối. Nên anh A yêu cầu Tòa án giải quyết?

    Theo quy định của pháp luật hiện hành, anh (chị) hãy cho biết:

    1. Chị B có phải quay về chung sống với anh A không? Vì sao?

    2. Xác định quyền sở hữu đối với ngôi nhà số 2 đường X và tiền cho thuê nhà?

    3. Xác định cha cho cháu D?

    Ghi chú: Sinh viên được sử dụng văn bản pháp luật.

    Xem thêm: Tổng hợp đề thi hết môn HLU

    Nếu bạn thấy những chia sẻ của mình hữu ích thì có thể donate ủng hộ mình 01 ly trà sữa nha: BIDV 4603463395

    Continue Reading



    Thời gian làm bài: 120 phút (không kể thời gian chép đề) 

    Câu 1 (4 điểm): Nhận xét về các khẳng định sau đây: 

    1. Các hình thức chia, tách, sáp nhập, hợp nhất áp dụng với mọi loại hình công ty 

    2. Trong mọi trường hợp nếu vi phạm trình tự, thủ tục họp, nghị quyết của Đại hội đồng cổ đông phải huỷ bỏ. 

    3. Doanh nghiệp tư nhân chỉ được chuyển đổi sang loại hình doanh nghiệp khác khi chủ sở hữu đã thanh toán hết các khoản nợ của doanh nghiệp.

    4. Luật Phá sản (2014) không áp dụng với doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp đặc biệt phục vụ quốc phòng an ninh. 

    Câu 2 (3 điểm):

    Phân biệt cơ cấu tổ chức của công ty cổ phần và công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên?

    Câu 3 (3 điểm): Bài tập

    A, B, C, D thành lập Công ty TNHH ABCD, được cấp giấy CNĐKKD vào 26/2/2018. Theo đó, tỉ lệ góp vốn như sau:

    - A góp 5 tỷ tiền mặt, nhưng hiện tại chỉ góp 3 tỷ, số tiền còn lại sẽ góp thêm nếu công ty cần thêm vốn. 

    - B góp bằng miếng đất thuộc sở hữu của mình giá trị hiện tại là 5 tỷ. Tuy nhiên, theo thông tin các bên nắm được thì cuối năm 2018, miếng đất được quy hoạch ra mặt đường nên thống nhất định giá 10 tỷ.

    - C góp vốn bằng xe Mercedes S450, giá trị 4 tỷ

    - D góp vốn bằng giấy xác nhận nợ với Công ty X với số nợ là 5 tỷ, thời hạn đến 31/12/2018. Các thành viên thống nhất định giá 4 tỷ.

    Sau 1 năm kinh doanh, xảy ra những sự kiện sau: 

    - Công ty kinh doanh có lãi được 5 tỷ đồng

    - Công ty chưa cần A góp thêm vốn

    - Miếng đất của B đã được quy hoạch xong nhưng do khủng hoảng kinh tế gây ra bởi virus corona dẫn đến thị trường bất động sản đóng băng, giá đất vẫn loanh quanh mức 5 tỷ

    - Công ty X mới trả nợ được số tiền là 3 tỷ, còn lại 2 tỷ chưa trả được.

    Câu hỏi:

    1. Các loại tài sản mà các thành viên góp vốn vào Công ty cổ phần ABCD có hợp pháp không? Xác định vốn điều lệ của công ty tại thời điểm thành lập doanh nghiệp

    2. Lợi nhuận công ty sẽ được chia cho A theo mức vốn thực góp là 3 tỷ hay mức 5 tỷ?

    3. C không đồng tình với quan điểm của công ty đã tự ý mang xe Mercedes S450 của mình về cất ở nhà, sử dụng cho mục đích cá nhân, tuyên bố rút vốn khỏi công ty. Điều này có hợp pháp không?

    Ghi chú: Được sử dụng văn bản pháp luật

    Xem thêm: Tổng hợp đề thi hết môn HLU

    Nếu bạn thấy những chia sẻ của mình hữu ích thì có thể donate ủng hộ mình 01 ly trà sữa nha: BIDV 4603463395

    Continue Reading



    Thời gian làm bài: 90 phút

    Câu 1 (5 điểm):

    Các khẳng định sau đây đúng hay sai, tại sao?

    1. Bất kỳ cá nhân, tổ chức nào cũng có quyền yêu cầu cấp bản sao từ sổ gốc.

    2. Luật sư nước ngoài ở Việt Nam không được thực hiện các dịch vụ pháp lý như luật sư Việt Nam.

    3. Trong trường hợp nghi ngờ giao dịch, hợp đồng có dấu hiệu bị lừa dối hoặc cưỡng ép thì công chứng viên phải xác minh làm rõ trước khi công chứng.

    4. Người yêu cầu chứng thực chữ ký phải ký trước mặt người có thẩm quyền chứng thực.

    5. Luật sư hành nghề với tư cách cá nhân không thể tham gia tố tụng với tư cách người bào chữa cho bị can, bị cáo.

    Câu 2 (5 điểm):

    Hãy nêu cách giải quyết trong các tình huống sau đây:

    1. Công chứng hợp đồng, giao dịch mà một bên trong hợp đồng, giao dịch đang chấp hành án phạt tù?

    2. Công chứng hợp đồng ủy quyền mà bên ủy quyền cư trú tại Hà Nội, bên được ủy quyền cư trú tại Thành phố Hồ Chí Minh?

    Xem thêm: Tổng hợp đề thi hết môn HLU

    Nếu bạn thấy những chia sẻ của mình hữu ích thì có thể donate ủng hộ mình 01 ly trà sữa nha: BIDV 4603463395

    Continue Reading
    Newer
    Stories
    Older
    Stories

    About me

    REY A law practitioner

    Một người trẻ đam mê và đang trên con đường theo đuổi ngành Luật. Tốt nghiệp Cử nhân Luật tại HLU và đang học Luật sư & Thạc sĩ Luật. Read More

    Donate me

    Nếu bạn thấy những chia sẻ của mình hữu ích thì có thể donate ủng hộ mình 01 ly trà sữa nha:
    BIDV

    Follow me on Facebook

    Follow me on Youtube

    Labels

    CHUYỆN ĐI LÀM (3) ĐỀ THI HẾT MÔN (14) HỌC LUẬT Ở HLU (6) HỌC LUẬT SƯ (6) LUẬT HÀNH CHÍNH (47) LÝ LUẬN CHUNG (111) TIỂU LUẬN (50)

    Cảm ơn đã ghé thăm

    recent posts

    Popular Posts

    • Phân tích đặc trưng cơ bản của nhà nước. Trên cơ sở đó, làm sáng tỏ biểu hiện một đặc trưng của nhà nước Việt Nam hiện nay.
    • 80 CÂU VẤN ĐÁP LÝ LUẬN CHUNG VỀ NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT (có đáp án)

    Blog Archive

    • tháng 8 2025 (1)
    • tháng 6 2024 (2)
    • tháng 3 2024 (2)
    • tháng 2 2024 (1)
    • tháng 1 2024 (8)
    • tháng 10 2023 (30)
    • tháng 9 2023 (115)
    • tháng 8 2023 (73)
    facebook youtube

    Created with by BeautyTemplates

    Back to top