Vận dụng ý nghĩa phương pháp luận của cặp phạm trù Nguyên nhân – Kết quả giải quyết thực trạng ùn tắc giao thông ở Việt Nam hiện nay
tháng 9 13, 2023MỞ ĐẦU
Có một nhà hiền triết từng nói rằng: “Nếu anh không chịu tìm hiểu vấn đề từ khái quát mà chỉ chăm chăm cái tiểu tiết cụ thể, thì đến một lúc nào đó, anh vẫn phải gặp lại cái khái quát trong chi tiết mà thôi”. Câu nói này thực sự mang rất nhiều hạt nhân hợp lí, nhất là đối với những vấn đề đời sống được đặt dưới góc nhìn triết học. Triết học - lĩnh vực được tôn vinh là khoa học của mọi khoa học, luôn cho chúng ta cái nhìn toàn vẹn, đa chiều và sâu sắc nhất về mọi sự vật, hiện tượng. Đã bao giờ bạn tự hỏi, liệu rằng vấn đề ùn tắc giao thông tại những thành phố lớn sẽ được phân tích như thế nào khi đặt trong hệ tham chiếu mang tên triết học?
Ùn tắc giao thông tại các thành phố lớn, một vấn đề vô cùng nhức nhối trên toàn cầu, đặc biệt là đối với các nước đang phát triển, hệ thống cơ sở hạ tầng chưa đáp ứng được nhu cầu của dân cư. Tắc đường với tần suất dày đặc và liên tục không dừng lại ở mức gây khó chịu mà dần trở thành vấn nạn, yêu cầu bức thiết được giải quyết. Đặt trong góc nhìn triết học, với ý nghĩa phương pháp luận của cặp phạm trù nguyên nhân - kết quả, chúng ta sẽ thấy được một cách toàn diện, từ đó đưa ra những đề xuất giải quyết vấn đề ùn tắc giao thông ở các thành phố lớn. Mong rằng bài phân tích sau đây ít nhiều sẽ đem đến cho bạn đọc nguồn tri thức cũng như cách tư duy, đánh giá về hiện tượng này.
Trong quá trình hoàn thiện bài tập, do vẫn còn nhiều hạn chế về kiến thức và kinh nghiệm nên không thể tránh khỏi những khiếm khuyết, kính mong sẽ nhận được sự nhận xét và đóng góp ý kiến từ phía các thầy cô trong tổ bộ môn để bài làm của chúng em được hoàn thiện hơn.
Chúng em xin chân thành cảm ơn!
NỘI DUNG
A. Khái niệm cặp phạm trù “Nguyên nhân - Kết quả” và mối quan hệ biện chứng giữa chúng.
1. Khái niệm
Phạm trù nguyên nhân và kết quả phản ánh mối quan hệ hình thành của các sự vật, hiện tượng trong hiện thực khách quan.
Nguyên nhân là phạm trù chỉ sự tác động lẫn nhau giữa các mặt trong một sự vật hoặc giữa các sự vật với nhau, gây ra một biến đổi nhất định nào đó.
Kết quả là phạm trù chỉ những biến đổi xuất hiện do tác động lẫn nhau giữa các mặt trong một sự vật hoặc giữa các sự vật với nhau gây ra.
* Phép biện chứng duy vật khẳng định mối liên hệ nhân quả có những tính chất sau:
Tính khách quan: Mối liên hệ nhân quả là cái vốn có của bản thân sự vật, không phụ thuộc vào ý thức con người.
Tính phổ biến: mọi sự vật, hiện tượng trong tự nhiên và trong xã hội đều có nguyên nhân nhất định gây ra. Không có hiện tượng nào không có nguyên nhân, chỉ có điều nguyên nhân đó có được nhận thức hay chưa.
Tính tất yếu: cùng một nguyên nhân nhất định, trong những điều kiện giống nhau sẽ gây ra kết quả như nhau.
1.1. “Nguyên nhân”, “nguyên cớ” và “điều kiện”
Nguyên nhân là phạm trù chỉ sự tác động lẫn nhau giữa các mặt trong một sự vật hoặc giữa các sự vật với nhau, gây ra một biến đổi nhất định nào đó. Chẳng hạn, cuộc đấu tranh giữa giai cấp vô sản và giai cấp tư sản là nguyên nhân dẫn đến cuộc cách mạng vô sản nổ ra.
Nguyên cớ là một sự kiện nào đó trực tiếp xảy ra trước kết quả, có liên hệ với kết quả nhưng chỉ là liên hệ bên ngoài không bản chất. Ví dụ, Mỹ muốn dùng máy bay bắn phá miền Bắc Việt Nam. Nguyên nhân là do bản chất đế quốc nhưng phải tạo cớ để hành động là gây sự kiện Vịnh Bắc Bộ tháng 8 năm 1954.
Điều kiện là tổng hợp những hiện tượng không phụ thuộc vào nguyên nhân nhưng lại có tác dụng biến khả năng chứa đựng trong nguyên nhân thành kết quả, thành hiện thực. Vì vậy, điều kiện là cái không thể thiếu được cho sự xuất hiện của kết quả. Ví dụ, nguyên nhân của các phản ứng hóa học là sự tương tác của các chất tham gia để hình thanh nên chất mới. Nhưng để đạt được kết quả như vậy cần có điều kiện là các chất xúc tác, điều kiện về nhiệt độ, áp suất, môi trường, …
Tóm lại, mặc dù xuất hiện cùng nguyên nhân, nguyên cớ và điều kiện không sinh ra kết quả.
1.2. “Kết quả” và “Hậu quả”
Kết quả là phạm trù chỉ những biến đổi xuất hiện do tác động lẫn nhau giữa các mặt trong một sự vật hoặc giữa các sự vật với nhau gây ra. Ví dụ, cuộc cách mạng vô sản nổ ra là kết quả của cuộc đấu tranh giữa giai cấp vô sản và giai cấp tư sản.
Hậu quả là kết quả xấu về sau. (“Hậu” – sau, “Quả” – kết quả). Ví dụ, hậu quả nghiêm trọng do thiên tai đem lại.
Vậy, có thể nói, hậu quả là một trường hợp nhỏ của kết quả, kết quả mang nghĩa rộng hơn và bao trùm hậu quả. Những biến đổi xuất hiện do tác động lẫn nhau giữa các mặt trong một sự vật hoặc giữa các sự vật với nhau gây ra mà mang tính tiêu cực, không như mong đợi thì có thể được coi là hậu quả.
2. Mối quan hệ biện chứng giữa nguyên nhân và kết quả
Nguyên nhân là cái sinh ra kết quả vì vậy nguyên nhân phải có trước kết quả.
Một nguyên nhân nhất định trong những hoàn cảnh nhất định chỉ có thể gây ra kết quả nhất định và mọi kết quả nhất định bao giờ cũng sinh ra bởi nguyên nhân xác định, nếu các nguyên nhân và hoàn cảnh càng ít khác nhau bao nhiêu thì các kết quả do chúng gây nên cũng càng ít khác nhau bấy nhiêu.
Mối quan hệ giữa nguyên nhân và kết quả là mối quan hệ phức tạp:
+ Thứ nhất: Cùng một nguyên nhân có thể gây ra nhiều kết quả khác nhau tùy thuộc vào hoàn cảnh cụ thể
+ Thứ hai: Cùng một kết quả có thể gây nên bởi những nguyên nhân khác nhau tác động riêng lẻ hay tác động cùng một lúc lên sự vật thì hiệu quả tác động của từng nguyên nhân với sự hình thành kết quả sẽ khác nhau tùy vào hướng tác động của nó.
Nếu nguyên nhân tác động lên sự vật cùng môi trường thì chúng sẽ gây nên ảnh hưởng cùng chiều với sự hình thành kết quả.
Ngược lại nếu các nguyên nhân khác nhau tác động lên sự vật theo các hướng khác nhau thì chúng sẽ làm suy yếu, thậm chí hoàn toàn tiêu diệt tác dụng của nhau.
Tác động trở lại của kết quả đối với nguyên nhân, kết quả có thể tạo được nguyên nhân. Mối quan hệ nhân quả là một chuỗi những sự nối tiếp giữa nguyên nhân và kết quả. Không có nguyên nhân đầu tiên và không có kết quả cuối cùng.
Trong những điều kiện nhất định nguyên nhân và kết quả có thể chuyển hóa cho nhau, trong mối quan hệ này là nguyên nhân thì trong mối quan hệ khác lại là kết quả và ngược lại.
Nếu nguyên nhân tác động lên sự vật cùng môi trường thì chúng sẽ gây nên ảnh hưởng cùng chiều với sự hình thành kết quả.
Ngược lại nếu các nguyên nhân khác nhau tác động lên sự vật theo các hướng khác nhau thì chúng sẽ làm suy yếu, thậm chí hoàn toàn tiêu diệt tác dụng của nhau.
Tác động trở lại của kết quả đối với nguyên nhân, kết quả có thể tạo được nguyên nhân. Mối quan hệ nhân quả là một chuỗi những sự nối tiếp giữa nguyên nhân và kết quả. Không có nguyên nhân đầu tiên và không có kết quả cuối cùng.
Trong những điều kiện nhất định nguyên nhân và kết quả có thể chuyển hóa cho nhau, trong mối quan hệ này là nguyên nhân thì trong mối quan hệ khác lại là kết quả và ngược lại.
3. Phân loại nguyên nhân
Vì nguyên nhân luôn có trước kết quả nên muốn tìm nguyên nhân của một hiện tượng nào đấy cần tìm trong những sự kiện những mối liên hệ xay ra trước khi hiện tượng đó xuất hiện.
Một kết quả có thể do nhiều nguyên nhân sinh ra. Những nguyên nhân này có vai trò khác nhau đối với việc hình thành kết quả. Vì vậy trong các hoạt động thực tiễn chúng ta cần phải phân loại các nguyên nhân.
Xét theo tính cơ bản của nguyên nhân, ta chia thành nguyên nhân cơ bản và nguyên nhân không cơ bản.
Xét theo tính chủ yếu của nguyên nhân, ta chia thành nguyên nhân chủ yếu và nguyên nhân không chủ yếu.
Một kết quả có thể do nhiều nguyên nhân sinh ra. Những nguyên nhân này có vai trò khác nhau đối với việc hình thành kết quả. Vì vậy trong các hoạt động thực tiễn chúng ta cần phải phân loại các nguyên nhân.
Xét theo tính cơ bản của nguyên nhân, ta chia thành nguyên nhân cơ bản và nguyên nhân không cơ bản.
Xét theo tính chủ yếu của nguyên nhân, ta chia thành nguyên nhân chủ yếu và nguyên nhân không chủ yếu.
Xét theo tính tác động của nguyên nhân, ta chia thành nguyên nhân tích cực và nguyên nhân tiêu cực.
Ngoài ra, ta còn có thể chia thành nguyên nhân bên trong, nguyên nhân bên ngoài; nguyên nhân chủ quan, nguyên nhân khách quan…
Ta phải nắm được chiều hướng tác động của các nguyên nhân, từ đó có biện pháp thích hợp tạo điều kiện cho nguyên nhân có tác động tích cực đến hoạt động và hạn chế sự hoạt động của nguyên nhân có tác động tiêu cực.
4. Ý nghĩa phương pháp luận
Vì mối liên hệ nhân quả là mối liên hệ có tính khách quan, tính tất yếu nên trong nhận thức và thực tiễn không thể phủ nhận quan hệ nhân quả. Trong thế giới hiện thực, không thể tồn tại những sự vật, hiện tượng hay trong quá trình biến đổi không có nguyên nhân; và ngược lại, không có nguyên nhân nào không dẫn tới những kết quả nhất định. Nhưng không phải con người có thể nhận thức ngay được mọi nguyên nhân.
Nhiệm vụ của nhận thức khoa học là phải tìm ra nguyên nhân của những hiện tượng trong tự nhiên, xã hội và tư duy để giải thích được những hiện tượng đó. Muốn tìm nguyên nhân phải tìm trong thế giới hiện thực, trong bản thân các sự vật, hiện tượng tồn tại trong thế giới vật chất chứ không được tưởng tượng ra từ đầu óc của con người, tách rời thế giới hiện thực.
Nguyên nhân sinh ra kết quả vì vậy nguyên nhân luôn có trước kết quả nên muốn tìm nguyên nhân của một hiện tượng nào đó cần tìm trong những sự kiện, những mối liên hệ xảy ra trước khi hiện tượng đó xuất hiện.
Nguyên nhân sinh ra kết quả rất phức tạp, bởi vì nó còn phụ thuộc vào nhiều điều kiện và hoàn cảnh khác nhau. Một kết quả có thể do nhiều nguyên nhân sinh ra. Những nguyên nhân này có vai trò khác nhau đối với việc hình thành kết quả. Vì vậy trong hoạt động thực tiễn chúng ta cần phân loại các nguyên nhân, tìm ra nguyên nhân cơ, bản nguyên nhân chủ yếu, nguyên nhân bên trong, nguyên nhân bên ngoài, nguyên nhân chủ quan, khách quan... Đồng thời, phải nắm được chiều hướng tác động của các nguyên nhân, từ đó có biện pháp thích hợp tạo điều kiện cho nguyên nhân có tác động tích cực đến hoạt động và hạn chế sự hoạt động của nguyên nhân có tác động tiêu cực.
Kết quả có tác động trở lại nguyên nhân. Vì vậy trong hoạt động thực tiễn chúng ta cần phải khai thác, tận dụng các kết quả đã đạt được để tạo điều kiện thúc đẩy nguyên nhân phát huy tác dụng.
B. Vận dụng cặp phạm trù “Nguyên nhân và kết quả” để giải thích nguyên nhân của tình trạng tắc nghẽn giao thông các TP lớn ở Việt Nam
1. Thực trạng vấn đề ùn tắc giao thông tại Việt Nam
Đất nước chúng ta đang ngày càng phát triển, cùng với đó là sự phát triển nhanh chóng của các đô thị lớn như Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Hải Phòng, ... Song song với sự phát triển đô thị ấy là sự gia tăng của người cũng như phương tiện di chuyển trong các thành phố lớn. Điều này đã gây ra tình trạng ùn tắc giao thông vô cùng nghiêm trọng tại các đô thị ở cả nước ta hiện nay.
Ùn tắc giao thông vẫn đang là một vấn đề nan giải đối với các đô thị lớn trên thế giới trong đó có Việt Nam. Tình trạng ùn tắc sẽ dẫn tới nhiều hậu quả đáng tiếc nếu như không có biện pháp đúng đắn để giải tỏa vấn đề này.
Tính đến nay, tình trạng ùn tắc của nước ta đang ở con số đáng báo động, hiện trạng ùn tắc đã đạt mức trở thành một trong những vấn nạn nhức nhối trong xã hội. Theo thống kê được báo cáo năm 2012, tình trạng ùn tắc ở nước ta vô cùng nghiêm trọng và phức tạp, đặc biệt là hai thành phố trọng điểm Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh. Cũng theo báo cáo trên, năm 2012, Hà Nội có sáu mươi bảy điểm ùn tắc trong khi đó thành phố Hồ Chí Minh sở hữu bảy mươi sáu điểm ùn tắc giao thông, gây ra nhiều hậu quả xấu. Đến năm 2014, tình trạng ùn tắc điểm được giảm thiểu thì tình trạng ùn tắc cục bộ lại diễn ra khiến cho người dân vô cùng bức xúc cũng như gây thiệt hại lớn tới nền kinh tế nước nhà. Theo thống kê của Cơ quan Hợp tác quốc tế Nhật Bản đáng giá, ùn tắc giao thông ở nước ta là vô cùng trầm trọng đặc biệt vào những giờ cao điểm như sáng sớm và chiều tối.
Ở Hà Nội, một số tuyến đường chính, nội đô luôn thường xuyên lâm vào tình trạng tắc nghẽn kéo dài, trầm trọng như Đê La Thành, Minh Khai, Kim Liên, Giải Phóng, .... Tính từ năm 2008 đến nay, đã có hơn 1.379 vụ ùn tắc giao thông kéo dài trên một giờ đồng hồ, và trong đó, thủ đô Hà Nội góp 336 vụ, chiếm 24.4%, Sài Gòn là 227 vụ chiếm 16.5%, ...
Điển hình như đường Lê Văn Lương kéo dài (nay gọi là đường Tố Hữu) khi mới được đưa vào sử dụng, người dân kỳ vọng có đường "thông, thoáng", giảm tải lưu lượng phương tiện cho đường Nguyễn Trãi, đại lộ Thăng Long. Tuy nhiên, hiện nay tuyến đường này là nỗi ám ảnh của các bác tài mỗi khi qua lại khu vực ngã tư Tố Hữu - Trung Văn, ùn tắc giao thông xảy ra thường xuyên, kể cả vào cuối
Cũng như Thủ đô Hà Nội, ùn tắc giao thông - vấn nạn kẹt xe tại TP HCM, thành phố lớn nhất nước ngày càng hết sức nhức nhối, nan giải với hàng chục điểm đen. Điển hình như vòng xoay Lăng Cha Cả, kết nối trung tâm TP HCM với các quận, huyện ngoại thành (Q.10, 11, 12, Tân Phú, Bình Tân, Gò Vấp, Phú Nhuận, Bình Thạnh, huyện Hóc Môn) và là cửa ngõ quan trọng vào sân bay Tân Sơn Nhất. Với lưu lượng giao thông thường xuyên rơi vào hàng chục ngàn lượt người mỗi ngày, các cung giờ cao điểm thường phát sinh vào buổi sáng và cuối buổi chiều, trùng với thời điểm đi làm và tan sở của các cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp,…nằm tập trung ở vùng lõi của TP HCM (Q.1, 3, 5, 10, Phú Nhuận, Gò Vấp).
Từ vòng xoay Lăng Cha Cả, tình trạng kẹt xe tiếp tục hành hạ cư dân thành phố qua các ngã ba giao cắt giữa đường Cộng Hòa và đường Tân Kỳ - Tân Quý; ngã tư Phú Nhuận; ngã tư Hoàng Hoa Thám; vòng xoay Nguyễn Thái Sơn; khu vực xung quanh đường dẫn vào các ga của sân bay Tân Sơn Nhất;… Khu vực vòng xoay Hàng Xanh; các cung đường xung quanh bến xe miền Đông và vòng xoay Điện Biên Phủ nằm ở trung tâm (Q.1, Q.Bình Thạnh) thường xuyên trong tình trạng di chuyển chậm, dù thành phố đã xây một cầu thép trên cao tại vòng xoay Hàng Xanh từ nhiều năm nay.
2. Nguyên nhân dẫn đến tình trạng ùn tắc giao thông
a. Nguyên nhân khách quan:
* Sự gia tăng nhanh chóng lượng phương tiện tham gia giao thông:
Với sự tăng trưởng nóng về kinh tế, quá trình đô thị hóa diễn ra quá nhanh , thiếu quy hoạch rõ ràng đã khiến gia tăng mạnh dân số cơ học, nhiều tòa nhà chung cư cao tầng mọc lên tại các trục đường lớn , tất yếu dẫn đến sự tăng nhanh về mật độ phương tiện tham gia giao thông . Chính sách giảm giá bán các phương tiện cá nhân của các công ty, tập đoàn cung cấp cũng là một nhân tố tác động tới hiện tượng này. Theo số liệu từ Phòng Cảnh sát Giao thông (CSGT) - Công an Hà Nội: “Số liệu đăng ký xe môtô trên 175cm3 đến thời điểm tháng 9/2019 là 9.470; xe môtô từ 50 - 175cm3 là 4.797.782; xe môtô dưới 50cm3 là 82.375, xe máy điện là 155.760 xe. Tổng số xe ôtô con là 485.900; ôtô khách là 47.446; ôtô chuyên dùng là 4.426; ôtô tải là 325.824 xe. Trong đó, đăng ký mới trung bình mỗi tháng là 4.000 ôtô; trên 16.000 xe máy.”
Trong khi một mặt , hiện tượng này chứng tỏ thu nhập bình quân đầu người của nước ta đang tăng , đời sống người dân cũng đang được cải thiện rõ rệt ; nhưng mặt khác , việc gia tăng các phương tiện giao thông cá nhân , nhất là xe máy , cũng là một sức ép không nhỏ đè nặng lên hạ tầng giao thông của quốc gia .
* Hệ thống giao thông đường bộ kém hoàn thiện:
Quả thật không thể phủ nhận sự kém hoàn thiện của hệ thống giao thông đường bộ tại các đô thị lớn của nước ta. Nhiều nguyên nhân có thể được đưa ra để lý giải cho hiện tượng này như : do thiếu nguồn lực tài chính, do thiếu quy hoạch bài bản về phát triển giao thông, do không biết cách tận dụng lợi thế tự nhiên, do trình độ quản lý yếu kém,… Nhưng nguyên nhân quan trọng nhất là thiếu một sự quy hoach bài bản cho giao thông . Thực tế hiện nay, giao thông không phát triển tương xứng với kinh tế - xã hội, các thành phố lớn cũng có một tiềm lực tài chính ít nhất là dồi dào hơn so với mặt bằng chung cả nước, nhưng hạ tầng giao thông vẫn không được đầu tư và phát triển tương đương, chủ yếu là do quy hoạch thiếu đồng bộ ngay từ đầu.
Đa phần các tuyến đường huyết mạch trong nội đô các thành phố lớn như Hà Nội, TP. HCM đều chung một hiện trạng: mặt đường hẹp, thiếu bãi đỗ xe, có nhiều nút giao thông chật hẹp, không có sự phân làn rõ ràng, quỹ đất dành cho giao thông còn quá ít, tầm nhìn ngắn hạn của đội ngũ quản lý giao thông,… Trong khi phương tiện cá nhân tăng nhanh chóng, thì sự chậm phát triển của hạ tầng giao thông đường bộ là một sự đối nghịch, dẫn đến hiện tượng tắc đường kéo dài nhiều năm ở nội đô các thành phố lớn nước ta.
b. Nguyên nhân chủ quan:
* Trình độ quản lý yếu kém của các cơ quan chức năng có thẩm quyền:
Hiện tượng ùn tắc giao thông đã xuất hiện và tồn tại trong một khoảng thời gian rất dài (khoảng cuối những năm 90 của thế kỷ trước) ngay từ khi đất nước ta bắt đầu chứng kiến sự tăng trưởng kinh tế vượt bậc và mở cửa hội nhập quốc tế, thế nhưng cho đến hiện nay, chính quyền vẫn rất lúng túng trong việc giải quyết tình trạng này. Việc phân luồng giao thông ở những tuyến chưa hợp lý cũng như tình trạng thiếu đèn tín hiệu và các thiết bị điều khiển giao thông, sự bị động, chậm phản ứng của lực lượng cảnh sát giao thông khi chứng kiến tình trạng tắc đường là một minh chứng rõ nét.
Trong khi đó, các chủ trương chính sách cũng chưa thực sự phát huy được tác dụng: Nhà nước trong khi một mặt, chưa quan tâm đúng mức đến phát triển hệ thống giao thông công cộng như xe bus, tàu điện ngầm, tàu trên cao...; làm cho hệ thống giao thông công cộng trở nên lạc hậu , lỗi thời so với sự phát triển của xã hội và kém hấp dẫn hơn hẳn nhu cầu, đòi hỏi của người dân, đi chậm hơn so với xu thế chung của thế giới cũng như khu vực, mặt khác, lại gần như “thả nổi", “làm ngơ” trước sự gia tăng “như vũ bão” của phương tiện giao thông cá nhân, không có bất cứ một chính sách, quy định nào nhằm hạn chế sự gia tặng lượng ô tô, xe máy vào khu vực nội đô. Từ đó, tình trạng giao thông ngày càng tồi tệ và khó kiếm soát.
Hành lang pháp lý mặc dù cũng đã được hoàn thiện với Luật Giao thông đường bộ năm 2008 và các văn bản hướng dẫn thi hành liên quan khác, thế nhưng, các chế tài xử phạt vẫn chưa đủ sức răn đe, hơn nữa, sự vào cuộc của lực lượng chức năng nhiều Quận nội thành còn mang tính hình thức, chưa thực sự thay đổi được ý thức người dân, chưa thay đổi được căn bản thực trạng ùn tức giao thông này.
* Ý thức tham gia giao thông kém của một bộ phận người dân:
Quả thật không thể phủ nhận rằng, đây là nguyên nhân quan trọng nhất, quyết định nhất đến hiện trạng ùn tắc giao thông ở nước ta.
Tình trạng lấn chiếm vỉa hè, lòng đường trở nên cực kỳ phổ biến tại các thành phố lớn của Việt Nam. Vỉa hè bị lấn chiếm để kinh doanh, phục vụ giải trí, hoặc thậm chí đôi lúc còn bị chính những lực lượng CSGT sử dụng để đỗ xe. Hệ quả là, người đi bộ buộc phải đi xuống lòng đường, vừa gây nguy hiểm cho chính họ, vừa góp phần làm cho giao thông bị ùn ứ, khó lưu thông, nhất là vào những giờ cao điểm.
Sự tranh lấn làn đường của các phương tiện cá nhân tham gia giao thông cũng là một nguyên nhân quan trọng. Phần lớn các con đường lớn nhỏ trong nội thành các thành phố lớn nước ta đều không có sự phân làn riêng cho từng phương tiện, mà chủ yếu là kiểu “điền vào chỗ trống”, xe máy đi chung làn, tranh làn với ô tô,... Vào những giờ cao điểm, mọi người đều “không ai nhường ai”, đều cố gắng tranh cướp làn của các phương tiện khác để di chuyển, thậm chí còn sẵn sàng đi lên cả vỉa hè, lấn sang làn của xe ưu tiên, lạng lách qua đầu các phương tiện khác, v.v.. Tất cả những cách hành xử trên cho thấy: trình độ dân trí, văn hóa và văn minh khi tham gia giao thông của một số người vẫn còn rất thấp. Đồng thời, nó cũng là một nguyên nhân lớn dẫn đến sự tắc nghẽn giao thông vào giờ cao điểm ở các thành phố lớn nước ta.
3. Hậu quả của việc ùn tắc giao thông
3a. Hậu quả của tắc nghẽn giao thông ở 1 số thành phố hiện nay:
* Tắc nghẽn giao thông gây ảnh hưởng xấu đến an toàn
Những nơi ùn tắc thường rất ngột ngạt do có nhiều ô tô, xe máy chen chúc lại với nhau, khí thải (chủ yếu là NO2 và SO2) từ các loại phương tiện này thải ra được con người trực tiếp hít vào không chỉ gây ảnh hưởng tới hệ hô hấp mà còn ảnh hưởng đến tim mạch, tuần hoàn… Theo thống kê của Sở tài nguyên và môi trường, những tụ điểm ùn tắc có lượng khí thải độc hại gấp nhiều lần mức cho phép. Không chỉ có khói bụi mà còn vấn đề ô nhiễm tiếng ồn, an toàn giao thông vì những nơi ùn tắc mọi người thường xô đẩy, ai cũng muốn vượt lên trước, đi xe lên cả vỉa hè dành cho người đi bộ, khi đó, tai nạn giao thông rất dễ xảy ra.
* Tắc nghẽn giao thông ảnh hưởng tới môi trường.
Các phương tiện khi di chuyển trong tình trạng tắc nghẽn dường như chỉ đứng im một chỗ nhưng lại không tắt máy, cùng với khi động cơ hoạt động trong một thời gian dài sẽ tích tụ nhiều khí thải độc hại gây ô nhiễm môi trường.
* Tắc nghẽn giao thông thiệt hại về kinh tế.
Ùn tắc gây lãng phí thời gian và nhiên liệu trong khi thời gian và nhiên liệu đó lại có thể được dùng với mục đích tốt hơn. Ước tính mỗi năm thiệt hại hơn 30 ngàn tỉ đồng do nghẽn tắc giao thông. Thời gian đi lại của người dân ước tính thiệt hại 1 triệu giờ/năm
* Tắc nghẽn giao thông ảnh hưởng tới tâm lí, tinh thần.
Khi phải lưu thông trên các tuyến đường chật trội, người lái xe luôn phải chịu đựng sự đông đúc, tiếng còi xe, động cơ inh ỏi, khói bụi, chậm giờ làm, nóng nực… dễ khiến trở nên bực bội, hấp tấp hơn, căng thẳng hơn, dễ nổi nóng, chửi thề với người khác hay cãi lộn với người đi xung quanh.
3b. Hậu quả tác động trở lại nguyên nhân:
* Tắc đường dẫn đến sự gia tăng nhanh chóng của phương tiện giao thông:
Khi tắc đường, mọi người luôn phải chen chúc chật chội và khó di chuyển lúc này di chuyển bằng xe gắn máy sẽ nhanh chóng và tiện lợi hơn di chuyển bằng ô tô vì xe máy có thể len lỏi vào các khe hở, lạng lách sao cho kịp giờ và thoát khỏi đám đông. Với việc giá thành của xe máy rẻ hơn rất nhiều so với ô tô, mọi người thường có xu hướng và nhu cầu mua xe máy. Cũng do tắc đường nên hầu như cách phương tiện công cộng như bus thường đến rất trễ khiến nhân viên muộn giờ làm, học sinh muộn giờ học nên để chủ động về thời gian, mọi người luôn muốn sở hữu một phương tiện riêng để thuận tiện cho di chuyển.
* Tắc đường dẫn đến hệ thống giao thông đường bộ kém phát triển:
Tắc đường luôn tạo ra áp lực lớn cho cả người dân và cơ quan chức năng. Tắc đường là tình trạng tồn tại bấy lâu nay mà vẫn chưa tìm ra được biện pháp giải quyết hiệu quả. Hơn nữa, lượng người đổ về các đô thị ngày càng nhiều dẫn đến tình trạng tắc đường ngày càng nghiêm trọng hơn. Chính tình trạng tắc đường lại là nguyên nhân khiến hệ thống giao thông đường bộ nước ta thuộc vào hãng ngũ những nước có hệ thống giao thông đường bộ kém phát triển nhất.
* Tắc đường dẫn đến ý thức tham gia giao thông của người dân kém đi:
Khi tắc đường, tâm lí và tâm trạng của người đi đường rất dễ bị nổi nóng, bực bội, luôn chỉ muốn thật nhanh để thoát ra khỏi đám đông, gây nên tình trạng lạng lách, chen lấn, xô đẩy, vượt đèn đỏ, đi lên cả vỉa hè gây nguy hiểm cho những người xung quanh và người đi bộ trên vỉa hè.
4. Phương hướng giải quyết
* Phân luồng giao thông một cách hợp lý:
Với phương châm phát huy hiệu quả cao nhất những cơ sở vật chất hiện có, đồng thời bổ sung đầu tư một số khâu chủ yếu trong hệ thống giao thông đô thị. Phân luồng giao thông sao cho hợp lý, khoa học nhằm tháo tỡ những ách tắc giao thông không đáng có mà nội dung chính là quy hoạch lại luồng tuyến xe buýt, mạng lưới đường bộ, đường sắt ở thành phố. Một số tuyến đường chỉ đi một chiều, thiết lập bằng được tuyến đường dành cho xe tải để tiến tới cấm không cho xe tải có sức chở hơn 2,5 tấn lưu thông trong nội thành giê cao điểm. Kiên quyết cấm xe 3 bánh chở hàng cồng kềnh chạy trong giê cao điểm.
Giải pháp điều khiển giao thông sẽ hỗ trợ đắc lực giải pháp phân luồng giao thông: Việc làm đầu tiên là hoàn thiện, bổ sung hệ thống biển báo giao thông, đặc biệt là xây dựng hệ thống báo hiệu vị trí thường xẩy ra ùn tắc giao thông để giảm lượng xe đi vào, và các chốt đèn có tín hiệu giây chạy lùi và phát tín hiệu còi khi đèn chuyển màu. Cần đẩy nhanh tiến độ xây dựng trung tâm điều khiển giao thông bằng camera, lắp đặt tại các nót trọng điểm để kịp thời có biện pháp xử lý khi có triệu chứng.
Thành phố Hà Nội đã và đang gấp rút triển khai xây dựng các nót giao thông ngã tư sở , xây dựng hàng loạt dải ngăn cách đường bộ …
* Lập lại kỉ cương quản lý đô thị:
Đối với những chợ tự phát cần phải giải toả và khuyến khích di dời vào các nhà lồng chợ, xe các chợ đầu mối ở ngoại thành để giảm mật độ lưu thông ở nội bộ. Lập lại trật tự lòng lề đường, vỉa hè, đầu cầu. Tăng cường hiệu lực cưỡng chế của các lực lượng bảo vệ pháp luật và trật tự an toàn giao thông đường bộ và trật tự đô thị cũng là 1 giải pháp quan trọng.
* Tác động vào ý thức ngươi dân:
Tuyên truyền giáo dục người nông dân nâng cao ý thức cộng đồng chấphành luật lệ giao thông và quy tắc quản lý trật tự đô thị. Phát động những phong trào quần chúng trong thanh niên, học sinh phối hợp với lực lượng cảnh sát giao thông để giữ gìn trật tự giao thông tại các điểm nót. Giải quyết nạn ùn tắc giao thông ở các khu vực đông người qua lại trong giê cao điểm nh trường học, bệnh viện, chợ, khu vực chơi giải trí.
KẾT LUẬN
Mỗi người với mỗi cá tính độc lập riêng biệt sẽ có cách tư duy và đánh giá khác nhau. Trên đây là tổng hợp cách nhìn của mỗi thành viên Nhóm 3 về vấn đề ùn tắc giao thông qua lăng kính cặp phạm trù NN-KQ cùng ý nghĩa PPL. Bằng tri thức tiếp thu từ bài giảng, sách vở cũng như những tìm hiểu từ thực tế đời sống, chúng tôi xin khẳng định ùn tắc giao thông là vấn đề mang tính triết học, cần được phân tích, nghiên cứu một cách nghiêm túc và cụ thể. Những thực trạng, nguyên nhân, kết quả cũng như phương hướng trong bài luận này mang tính chất định hướng, là cái nhìn có lẽ chưa thực sự sâu sắc nhưng đều rất tâm huyết, với mong muốn bày tỏ quan điểm, góp phần nhanh chóng giải quyết nạn ùn tắc giao thông tại các thành phố lớn ngày nay. Vẫn biết rằng vấn đề này không thể ngày một ngày hai mà thông suốt, nhưng, vẫn theo tư duy triết học, mọi thứ cần xuất phát tự cội nguồn, từ ý thức. Muốn cải thiện nạn tắc đường trước hết vẫn cần thay đổi ý thức người tham gia giao thông, ý thức tìm phương hướng giải quyết cũng như ý thức cao trong văn hóa giao thông. Mọi lí thuyết đều màu xám, chỉ có cây đời mãi mãi xanh tươi. Nhưng biết kết hợp tư duy lí thuyết vào thực tiễn sẽ mang đến một kết quả bất ngờ. Một ngày không xa, người dân sẽ phải buồn bã nhìn nhau mà nói rằng “Lâu lắm rồi không tắc đường cứ thấy thiếu thiếu, nhớ nhớ một điều gì...”
Trong quá trình hoàn thiện bài tập, do vẫn còn nhiều hạn chế về kiến thức và kinh nghiệm nên không thể tránh khỏi những khiếm khuyết, kính mong sẽ nhận được sự nhận xét và đóng góp ý kiến từ phía các thầy cô trong tổ bộ môn để bài làm của chúng em được hoàn thiện hơn.
Chúng em xin chân thành cảm ơn!
Xem thêm: TỔNG HỢP BÀI TẬP NHÓM - BÀI TẬP LỚN - BÀI TẬP CÁ NHÂN - TIỂU LUẬN CÁC MÔN HLU
Nếu bạn thấy những chia sẻ của mình hữu ích thì có thể donate ủng hộ mình 01 ly trà sữa nha: BIDV 4603463395
.png)
0 nhận xét