Trình bày mô hình hoạt động NHTW trên thế giới. Đánh giá ưu – nhược điểm mỗi mô hình và liên hệ với vị trí, vai trò của NHNN Việt Nam thể hiện trong Luật NHNN năm 2010
tháng 10 09, 2023
MỞ ĐẦU
Ở mỗi quốc gia, NHTW đều có vị thế đặc biệt quan trọng, là ngân hàng đứng đầu hệ thống các ngân hàng. Nếu hệ thống ngân hàng được ví là “huyết mạch” thì NHTW được xem là “trái tim” của nền kinh tế.
Tuy nhiên, do lịch sử phát triển ở mỗi quốc gia khác nhau nên trên thế giới hình thành nên các mô hình NHTW khác nhau. Mỗi mô hình có những đặc trưng và ưu nhược điểm nhất định. Vậy những mô hình ấy có đặc trưng ra sao, nó có mối liên hệ như thế nào với mô hình NHNN Việt Nam hiện nay? Để trả lời cho câu hỏi ấy, sau đây nhóm chúng em xin trình bày về đề tài số 03: “Trình bày mô hình hoạt động NHTW trên thế giới. Đánh giá ưu – nhược điểm mỗi mô hình và liên hệ với vị trí, vai trò của NHNN Việt Nam thể hiện trong Luật NHNN năm 2010”.
NỘI DUNG
I. Một số vấn đề tổng quan về Ngân hàng Trung ương
1. Khái niệm Ngân hàng Trung ương
NHTW là cơ quan đặc trách quản lý hệ thống tiền tệ của quốc gia/nhóm quốc gia/vùng lãnh thổ và chịu trách nhiệm thi hành CSTT. Mục đích hoạt động của NHTW là ổn định thị trường tiền tệ, và hoạt động của các ngân hàng thương mại, là ngân hàng của các ngân hàng và các tổ chức tín dụng khác.
2. Chức năng của Ngân hàng Trung ương
Thứ nhất, NHTW là ngân hàng phát hành. NHTW giữ độc quyền phát hành giấy bạc ngân hàng và tiền kim loại; đồng thời NHTW tham gia và kiểm soát việc tạo tiền chuyển khoản của các ngân hàng thương mại và tổ chức tín dụng.
Thứ hai, NHTW là ngân hàng của các ngân hàng. Bởi lẽ NHTW cũng cung cấp các dịch vụ cho các ngân hàng thương mại và tổ chức tín dụng như các ngân hàng thương mại và tổ chức tín dụng cung cấp cho khách hàng như: mở tài khoản tiền gửi và bảo quản dự trữ tiền tệ, làm trung tâm thanh toán và cấp tín dụng cho các ngân hàng trung gian.
Thứ ba, NHTW là ngân hàng nhà nước. Điều này thể hiện trên phương diện quản lý nhà nước về tiền tệ, tín dụng và ngân hàng như: quản lý nhà nước về các hoạt động tiền tệ, tín dụng và ngân hàng đối nội và đối ngoại, NHTW xây dựng và thực thi CSTT quốc gia, nhận tiền gửi của kho bạc Nhà nước, cho NSNN vay, thay mặt Chính phủ ký kết các hiệp định về tiền tệ, tín dụng, thanh toán với nước ngoài và tổ chức tài chính – tín dụng quốc tế.
3. Mục tiêu chung của Ngân hàng Trung ương
Các NHTW khác nhau có thể có những mục tiêu với thứ tự ưu tiên khác nhau. Tuy nhiên, tựu trung lại, mục tiêu cuối cùng của các NHTW thường rơi vào năm nhóm sau: (i) ổn định giá cả, (ii) ổn định tỷ giá, (iii) tăng trưởng, (iv) việc làm, và (v) ổn định hệ thống tài chính; trong đó bốn nhóm đầu tiên liên quan đến ổn định kinh tế vĩ mô và tăng trưởng, và nhóm cuối cùng liên quan đến giảm rủi ro hệ thống của khu vực tài chính. Trên thực tế, mục tiêu cuối cùng quan trọng nhất của hầu hết các NHTW là ổn định giá cả và đảm bảo an toàn cho hệ thống tài chính.
4. Tính độc lập của Ngân hàng Trung ương
a) Độc lập về nhân sự
Mức độ độc lập về mặt nhân sự được thể hiện qua quyền hạn của Thống đốc NHTW trong việc quyết định các vấn đề liên quan đến nhân sự bên trong tổ chức của mình như bổ nhiệm và miễn nhiệm nhân sự, phân công nhiệm vụ và quyền hạn, chế độ lương bổng và trợ cấp... Tuy nhiên Quốc hội và Chính phủ thường có tiếng nói quyết định trong việc chỉ định các nhân sự chủ chốt của NHTW.
b) Độc lập về chính sách
Sự độc lập về chính sách thể hiện ở hai khía cạnh là độc lập về mục tiêu trung gian và công cụ chính sách của NHTW.
Ở một số quốc gia (như Úc hay Anh), mục tiêu trung gian của CSTT (thường là tỷ lệ lạm phát) do Bộ Tài chính cùng với NHTW quyết định. Ở một số quốc gia khác (như Mỹ hay EU), mục tiêu trung gian này hoàn toàn do NHTW quyết định.
Sau khi có mục tiêu trung gian, NHTW cần có mục tiêu công cụ để thực hiện CSTT. Mục tiêu công cụ thường là lãi suất cơ bản trên thị trường liên ngân hàng, tỷ giá trung tâm hay biên độ dao động của tỷ giá. Những chỉ số này thường được một hội đồng CSTT quốc gia quyết định. Mặc dù hội đồng này trong nhiều trường hợp là một bộ phận của NHTW, các thành viên tham gia có thể bao gồm đại diện Quốc hội, Chính phủ, giới doanh nghiệp bên ngoài, và giới chuyên gia kinh tế.
c) Độc lập về tài chính
Mức độ độc lập về tài chính của NHTW được thể hiện qua ba khía cạnh.
Thứ nhất, NHTW có quyền tự chủ trong việc quyết định phạm vi và mức độ tài trợ cho chi tiêu của Chính phủ một cách trực tiếp hay gián tiếp bằng tín dụng của NHTW.
Thứ hai, NHTW có nguồn tài chính đủ lớn để không phải phụ thuộc vào sự cấp phát tài chính của Chính phủ, mà cụ thể là Bộ Tài chính.
Thứ ba, người đứng đầu của NHTW (thống đốc) có quyền quyết định hầu hết các khoản chi tiêu của tổ chức này trong khuôn khổ dự toán ngân sách đã được phê duyệt.
II. Các mô hình Ngân hàng Trung ương trên thế giới
1. Mô hình Ngân hàng Trung ương độc lập với Chính phủ
Mô hình NHTW độc lập với Chính phủ là mô hình NHTW không nằm trong cơ cấu bộ máy của Chính phủ và không chịu sự lãnh đạo, điều hành của Chính phủ. Quan hệ giữa NHTW và Chính phủ là quan hệ hợp tác. Chính phủ không có quyền can thiệp vào hoạt động của NHTW mặc dù ban lãnh đạo của ngân hàng do Tổng thống hay Thủ tướng bổ nhiệm. Chính quyền không được phế truất thống đốc. NHTW có toàn quyền quyết định việc xây dựng và điều hành CSTT, chính sách tỉ giá, chính sách lãi suất mà không bị ảnh hưởng bởi áp lực chi tiêu của ngân sách hoặc các áp lực chính trị khác. Điển hình cho mô hình này là NHTW ở các nước như Hoa Kỳ, Đức, Nga.
* Mô hình NHTW Hoa Kỳ - Cục dự trữ liên bang Hoa Kỳ (FED)
Đạo luật về Cục dự trữ Liên bang Hoa Kỳ 1913 khẳng định Cục Dự trữ liên bang Hoa Kỳ có vị trí độc lập với Chính phủ, trực thuộc Quốc hội, độc lập trong việc quyết định cung ứng tiền tệ và thực hiện CSTT.
Cục Dự trữ liên bang bao gồm Hội đồng thống đốc đóng tại thủ đô Washington D.C. được chỉ định bởi Tổng thống Hoa Kỳ, Ủy ban thị trường, 12 ngân hàng dự trữ liên bang khu vực và các ngân hàng thành viên có sở hữu một phần ở các ngân hàng dự trữ liên bang khu vực.
Số lượng thành viên của Hội đồng thống đốc không quá 07 người, tổng nhiệm kì của mỗi người không vượt quá 14 năm. Mỗi người trong Hội đồng sẽ do Tổng thống đề cử và Thượng viện thông qua. Chủ tịch Hội đồng và Phó Chủ tịch sẽ do Tổng thống chỉ định trong số 07 người với nhiệm kì 04 năm một lần. Hội đồng thống đốc sẽ giám sát và quản lý hoạt động của 12 ngân hàng dự trữ thành viên và các chi nhánh.
Theo Đạo luật dự trữ liên bang, Hội đồng Thống đốc của FED là cơ quan độc lập của Chính phủ liên bang và 07 thành viên của Hội đồng hoạt động theo cơ chế dân chủ. Thành viên của Hội đồng là độc lập và không phải chấp hành yêu cầu của hệ thống lập pháp cũng như hành pháp. Thành viên của Hội đồng chỉ rời chức vụ khi mãn hạn. Do đó, nhân sự của FED không chịu sự chi phối của Chính phủ. Hội đồng cũng không nhận tài trợ của Quốc hội, từ Bộ Tài chính, do đó, FED không phụ thuộc vào Bộ Tài chính. Hội đồng Thống đốc chịu trách nhiệm về việc hình thành và cụ thể hóa CSTT, do đó mục tiêu và các công cụ CSTT của FED không bị phụ thuộc vào Chính phủ. Trên thực tế, chi tiết các cuộc giao dịch của FED chưa bao giờ được công bố. Chính phủ và Bộ Tài chính Hoa Kỳ chỉ biết chính xác con số mà FED nộp vào ngân sách hàng năm nhưng doanh thu thực sự của FED vẫn là một ẩn số.
* Ưu điểm của mô hình Ngân hàng Trung ương độc lập với Chính phủ
Thứ nhất, NHTW có toàn quyền quyết định việc xây dựng và thực hiện CSTT mà không bị áp lực chi tiêu của ngân sách hoặc các áp lực kinh tế khác. NHTW có thể từ chối các mục tiêu gây thâm hụt ngân sách. Việc NHTW được quyết định trong việc thực thi chính sách làm tăng tính chủ động và giảm độ chậm trễ của CSTT.
Thứ hai, việc NHTW độc lập với Chính phủ sẽ góp phần tăng hiệu quả của mục tiêu kiểm soát lạm phát, tăng trưởng kinh tế giảm thâm hụt ngân sách và ổn định hệ thống tài chính.
* Hạn chế của mô hình Ngân hàng Trung ương độc lập với Chính phủ
Điểm bất lợi chủ yếu của mô hình này là khó có thể kết hợp hài hòa giữa chính sách tiền tệ (do NHTW thực hiện) và chính sách tài khóa (do Chính phủ chi phối) để quản lý vĩ mô một cách hiệu quả. Bên cạnh đó còn có nguy cơ NHTW bị thâu tóm cũng như chịu sự kiểm soát của tư nhân, các nhà tài phiệt ngân hàng, tài chính nếu không có cơ chế phù hợp.
2. Mô hình Ngân hàng Trung ương thuộc Chính phủ
Mô hình NHTW thuộc Chính phủ là mô hình trong đó NHTW là ngân hàng nằm trong cơ cấu bộ máy của Chính phủ và chịu sự lãnh đạo, điều hành trực tiếp của Chính phủ. Chính phủ có quyền can thiệp rất lớn, không chỉ trên phương diện tổ chức, điều hành mà còn trong hoạt động thực hiện CSTT quốc gia. NHTW được ví như công cụ của Chính phủ trong việc điều tiết giá trị đồng tiền và huy động các nguồn tài chính trong nền kinh tế. Mô hình này được áp dụng tại nhiều quốc gia như Pháp, Trung Quốc, Việt Nam, Đài Loan, Hàn Quốc, Singapore...
Mô hình này được hình thành dựa trên cơ sở Chính phủ là cơ quan hành pháp, thực hiện chức năng quản lý vĩ mô đối với nền kinh tế. Với vị trí này, Chính phủ phải nắm trong tay các công cụ kinh tế vĩ mô để sử dụng nó một cách đồng bộ và phối hợp các công cụ nhằm vận hành nền kinh tế trôi chảy và hiệu quả.
* Mô hình NHTW Trung Quốc – Ngân hàng nhân dân Trung Quốc
Luật Ngân hàng nhân dân Trung Quốc quy định: “Ngân hàng nhân dân Trung Quốc là NHTW của nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa. Dưới sự lãnh đạo của Quốc vụ viện, Ngân hàng nhân dân Trung Quốc hoạch định và thực thi CSTTQG, ngăn ngừa và hạn chế rủi ro tài chính và duy trì sự ổn đinh tài chính” (Điều 2); “Toàn bộ vốn của Ngân hàng nhân dân Trung Quốc do nhà nước cấp và thuộc sở hữu của nhà nước” (Điều 8). Như vậy, Ngân hàng Nhân dân Trung Quốc là một cơ quan thuộc Quốc vụ viện Trung Quốc (Chính phủ) và thuộc sở hữu nhà nước.
Người lãnh đạo và điều hành Ngân hàng nhân dân Trung Quốc là Thống đốc, một số Phó Thống đốc và Hội đồng CSTT quốc gia. Thống đốc Ngân hàng phải được Thủ tướng Quốc vụ viện đề cử và Quốc hội quyết định. Khi chưa đến kỳ họp Quốc hội thì Ủy ban Thường vụ Quốc hội quyết định và do Chủ tịch nước bổ nhiệm hoặc miễn nhiệm. Các Phó Thống đốc do Thủ tướng Quốc vụ viện bổ nhiệm hoặc miễn nhiệm (Điều 10).
Hội đồng CSTTQG được thành lập bởi Ngân hàng nhân dân Trung Quốc, có chức năng, nhiệm vụ tổ chức các thủ tục làm việc do Quốc vụ viện quy định và báo cáo lên Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Hội đồng CSTT quốc gia đóng vai trò quan trọng trong quản lý kinh tế vĩ mô cũng như hoạch định và điều hành CSTT quốc gia.
* Ưu điểm của mô hình NHTW thuộc Chính phủ
Thứ nhất, mô hình NHTW thuộc Chính phủ luôn tạo ra sự thống nhất, đồng bộ giữa CSTT quốc gia với chính sách phát triển kinh tế - xã hội bởi cả hai chính sách này đều được kiểm soát bởi một đầu mối là Chính phủ. Trong mô hình này, Chính phủ có thể dễ dàng phối hợp điều hành CSTT của NHTW đồng bộ với các chính sách kinh tế vĩ mô khác nhằm đảm bảo sự tác động hiệu quả của tổng thể các chính sách đối với các mục tiêu vĩ mô trong từng thời kỳ. Mô hình này được xem là phù hợp với yêu cầu cần tập trung quyền lực để khai thác tiềm năng xây dựng kinh tế trong thời kì đang phát triển.
Thứ hai, mối quan hệ trực thuộc giữa NHTW và Chính phủ còn đảm bảo sự giám sát thường xuyên của Chính phủ và kịp thời can thiệp để đảm bảo hài hòa các lợi ích, hạn chế tình trạng NHTW “lạm dụng” vai trò, vị trí của mình và thiếu sự hợp tác với Chính phủ.
Thứ ba, mô hình này giúp Chính phủ nắm trong tay nguồn lực tài chính ổn định và tập trung để thực hiện các mục tiêu mà Chính phủ đặt ra.
* Nhược điểm của mô hình NHTW thuộc Chính phủ
Thứ nhất, mô hình NHTW thuộc Chính phủ làm mất đi sự chủ động trong việc thực hiện CSTT của NHTW, có thể dẫn tới tình trạng Chính phủ lạm quyền trong việc phát hành tiền, cung cấp tín dụng cho ngân sách. Hoạt động phát hành tiền có thể bị lạm dụng để bù đắp thâm hụt ngân sách nhà nước. Do chịu sự lãnh đạo, chi phối của Chính phủ nên NHTW không được quyền tự do hành động trong việc hoạch định cũng như điều hành CSTT quốc gia. Tính độc lập hạn chế này gây khó khăn cho NHTW trong việc bảo vệ các mục tiêu CSTT quốc gia – mục tiêu quan trọng nhất của NHTW.
Thứ hai, sự hạn chế về tính độc lập hạn chế của NHTW có nguy cơ dẫn đến tình trạng lạm phát cao. Về mặt lý thuyết NHTW càng độc lập thì mục tiêu duy trì tỷ lệ lạm phát thấp càng dễ thực hiện.
3. Mô hình Ngân hàng Trung ương thuộc Bộ Tài chính
Lịch sử đã từng ghi nhận mô hình NHTW trực thuộc Bộ Tài chính, đó là một mô hình được xây dựng khi Bộ tài chính còn làm chức năng phát hành tiền. Tuy nhiên, mô hình này được đánh giá là không thành công trong việc điều hành và thực thi CSTT và quản lý vĩ mô đối với nền kinh tế, đặc biệt là nền kinh tế thị trường. Việc phát hành tiền không thể thực hiện một cách tùy tiện, theo ý chí chủ quan của một cá nhân hay tổ chức nào, nó phải tuân theo những nguyên tắc và quy luật khách quan của nền kinh tế, phù hợp với mức tăng trưởng kinh tế và phải điều chỉnh thường xuyên khối lượng tiền cung ứng theo quan hệ cung cầu. Mô hình này xuất hiện đầu tiên ở Pháp, Anh sau đó áp dụng ở một số nước châu Á như Malaysia, Thái Lan, Indonesia... sau đó vì những khiếm khuyết của mô hình này mà hầu hết các quốc gia không còn áp dụng.
Đây là mô hình ít phổ biến, bởi lẽ hoạt động của NHTW phụ thuộc vào Bộ Tài chính, dễ xảy ra khả năng Bộ Tài chính sử dụng công cụ phát hành tiền để bù đắp thiếu hụt ngân sách, gây ra tình trạng lạm phát cao trong nền kinh tế, ảnh hưởng trầm trọng tới đời sống của nhân dân. Mô hình này đã tạo ra mâu thuẫn giữa một cơ quan thực hiện nhiệm vụ ngân sách với một cơ quan phát hành tiền và điều tiết lượng tiền cung ứng.
III. Vị trí pháp lý và vai trò của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
1. Vị trí pháp lý của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
Khoản 1 Điều 2 Luật Ngân hàng nhà nước 2010 quy định:
“Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (sau đây gọi là Ngân hàng Nhà nước) là cơ quan ngang bộ của Chính phủ, là Ngân hàng trung ương của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.”
Như vậy, theo quy định này, NHNN vừa có vị trí là một bộ trong cơ cấu tổ chức của Chính phủ, vừa có vị trí là NHTW.
Với vị trí pháp lí là cơ quan ngang bộ của Chính phủ, theo quy định của Hiến pháp 2013, Luật Tổ chức Chính phủ, Luật Ngân hàng nhà nước Việt Nam, NHNN là cơ quan ngang bộ có chức năng quản lí nhà nước về tiền tệ và ngân hàng.
Với trị trí pháp lí là NHTW, NHNN là ngân hàng phát hành tiền, ngân hàng của các tổ chức tín dụng và ngân hàng làm dịch vụ tiền tệ cho Chính phủ.
Mục tiêu hoạt động của NHNN được quy định tại Điều 4 Luật Ngân hàng nhà nước Việt Nam: hoạt động của Ngân hàng nhà nước nhằm ổn định giá trị đồng tiền; bảo đảm an toàn hoạt động ngân hàng và hệ thống các tổ chức tín dụng, bảo đảm sự an toàn, hiệu quả của hệ thống thanh toán quốc gia, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Mục tiêu hoạt động vì lợi ích quốc gia của Ngân hàng nhà nước là tiêu chí để phân biệt hoạt động của nó với hoạt động ngân hàng của các định chế tài chính – tín dụng khác trong nền kinh tế.
2. Vai trò của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
Thứ nhất, đóng vai trò là cơ quan ngang bộ có chức năng quản lí nhà nước về tiền tệ và ngân hàng, NHNN được pháp luật trao cho các nhiệm vụ và quyền hạn:
- Tham gia xây dựng chiến lược và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.
- Xây dựng chiến lược phát triển ngành ngân hàng trình cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt và tổ chức thực hiện.
- Ban hành hoặc trình cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật về tiền tệ và ngân hàng; tuyên truyền, phổ biến và kiểm tra theo thẩm quyền văn bản quy phạm pháp luật về tiền tệ và ngân hàng.
- Xây dựng chỉ tiêu lạm phát hằng năm để Chính phủ trình Quốc hội quyết định và tổ chức thực hiện.
- Tổ chức, điều hành và phát triển thị trường tiền tệ.
- Cấp, sửa đổi, bổ sung, thu hồi giấy phép thành lập và hoạt động của tổ chức tín dụng, giấy phép thành lập chi nhánh ngân hàng nước ngoài, giấy phép thành lập văn phòng đại diện của tổ chức tín dụng nước ngoài, tổ chức nước ngoài khác có hoạt động ngân hàng; cấp, thu hồi giấy phép hoạt động cung ứng dịch vụ trung gian thanh toán cho các tổ chức không phải là ngân hàng; cấp, thu hồi giấy phép hoạt động cung ứng dịch vụ thông tin tín dụng cho các tổ chức; chấp thuận việc mua, bán, chia, tách, hợp nhất, sáp nhập và giải thể tổ chức tín dụng theo quy định của pháp luật.
- Thực hiện đại diện chủ sở hữu phần vốn của Nhà nước tại doanh nghiệp thực hiện chức năng, nhiệm vụ của NHNN, tổ chức tín dụng có vốn nhà nước theo quy định của pháp luật; được sử dụng vốn pháp định để góp vốn thành lập doanh nghiệp đặc thù nhằm thực hiện chức năng, nhiệm vụ của NHNN theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ.
- Kiểm tra, thanh tra, giám sát ngân hàng; xử lý vi phạm pháp luật về tiền tệ và ngân hàng theo quy định của pháp luật.
- Quyết định áp dụng biện pháp xử lý đặc biệt đối với tổ chức tín dụng vi phạm nghiêm trọng các quy định của pháp luật về tiền tệ và ngân hàng, gặp khó khăn về tài chính, có nguy cơ gây mất an toàn cho hệ thống ngân hàng, gồm mua cổ phần của tổ chức tín dụng; đình chỉ, tạm đình chỉ, miễn nhiệm chức vụ người quản lý, người điều hành của tổ chức tín dụng; quyết định sáp nhập, hợp nhất, giải thể tổ chức tín dụng; đặt tổ chức tín dụng vào tình trạng kiểm soát đặc biệt; thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình theo quy định của pháp luật về phá sản đối với tổ chức tín dụng.
- Chủ trì, phối hợp với các cơ quan hữu quan xây dựng chính sách, kế hoạch và tổ chức thực hiện phòng, chống rửa tiền.
- Thực hiện quản lý nhà nước về bảo hiểm tiền gửi theo quy định của pháp luật về bảo hiểm tiền gửi.
- Chủ trì lập, theo dõi, dự báo và phân tích kết quả thực hiện cán cân thanh toán quốc tế.
- Quản lý nhà nước về ngoại hối, hoạt động ngoại hối và hoạt động kinh doanh vàng.
- Quản lý việc vay, trả nợ, cho vay và thu hồi nợ nước ngoài theo quy định của pháp luật.
- Chủ trì, phối hợp với cơ quan có liên quan chuẩn bị nội dung, tiến hành đàm phán, ký kết điều ước quốc tế với tổ chức tài chính, tiền tệ quốc tế mà NHNN là đại diện và là đại diện chính thức của người vay quy định tại điều ước quốc tế theo phân công, uỷ quyền của Chủ tịch nước hoặc Chính phủ.
- Tổ chức thực hiện hợp tác quốc tế về tiền tệ và ngân hàng.
- Đại diện cho Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam tại các tổ chức tiền tệ và ngân hàng quốc tế.
- Thực hiện chức năng quản lý nhà nước đối với các tổ chức hoạt động thông tin tín dụng.
- Tham gia với Bộ Tài chính về việc phát hành trái phiếu Chính phủ, trái phiếu do Chính phủ bảo lãnh.
- Tổ chức đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ về tiền tệ và ngân hàng; nghiên cứu, ứng dụng khoa học và công nghệ ngân hàng.
Thứ hai, với vai trò NHTW, NHNN được pháp luật trao cho các nhiệm vụ và quyền hạn:
- Tổ chức in, đúc, bảo quản, vận chuyển tiền giấy, tiền kim loại; thực hiện nghiệp vụ phát hành, thu hồi, thay thế và tiêu huỷ tiền giấy, tiền kim loại.
- Làm đại lý và thực hiện các dịch vụ ngân hàng cho Kho bạc Nhà nước.
- Tổ chức hệ thống thông tin tín dụng và cung ứng dịch vụ thông tin tín dụng;
- Quản lý Dự trữ ngoại hối nhà nước.
- Tổ chức hệ thống thống kê, dự báo về tiền tệ và ngân hàng; công khai thông tin về tiền tệ và ngân hàng theo quy định của pháp luật.
- Tổ chức, quản lý, giám sát hệ thống thanh toán quốc gia, cung ứng dịch vụ thanh toán cho các ngân hàng; tham gia tổ chức và giám sát sự vận hành của các hệ thống thanh toán trong nền kinh tế.
3. Mối quan hệ giữa mô hình Ngân hàng Trung ương Việt Nam và vị trí, vai trò của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
Ở Việt Nam, NHTW được thiết lập theo mô hình NHTW trực thuộc Chính phủ.
Với mô hình này, Chính phủ có thể dễ dàng phối hợp điều hành CSTT của NHTW đồng bộ với chính sách tài khóa và các chính sách kinh tế vĩ mô khác nhằm đảm bảo sự tác động hiệu quả của tổng thể các chính sách đối với các mục tiêu vĩ mô trong từng thời kỳ. Mô hình này phù hợp với yêu cầu cần tập trung quyền lực để khai thác tiềm năng xây dựng kinh tế trong thời kì đang phát triển ở nước ta hiện nay. Những quy định của pháp luật hiện hành về địa vị pháp lý của NHNN Việt Nam đã có nhiều điểm tích cực, thể hiện những bước tiến trong mục tiêu xây dựng NHNN trở thành một NHTW hiện đại, có tính tự chủ và độc lập cao theo định hướng của Đảng và Nhà nước, phù hợp với nền kinh tế thị trường và yêu cầu hội nhập.
Tuy nhiên, mô hình này cũng đem đến nhiều hạn chế, bất cập trong việc đảm bảo tính độc lập, hiệu quả của NHTW.
Pháp luật hiện hành cho phép Chính phủ và Thủ tướng được quy định chi tiết cơ cấu tổ chức và hướng dẫn hoạt động của NHNN. Về bản chất, mối quan hệ giữa Chính phủ và NHNN là mối quan hệ giữa cấp trên và cấp dưới. Pháp luật hiện hành cũng cho phép Chính phủ, Thủ tướng áp đặt các mệnh lệnh buộc NHNN phải thực hiện như can thiệp, chi phối trực tiếp vào việc quyết định sử dụng các công cụ và biện pháp điều hành để thực hiện mục tiêu CSTT quốc gia ; Thủ tướng có quyền quyết định NHNN phải bảo lãnh cho tổ chức tín dụng vay vốn nước ngoài ; Thủ tướng có quyền quyết định NHNN phải tạm ứng cho ngân sách trung ương để xử lí thiếu hụt tạm thời quỹ NSNN .
Thực tiễn cho thấy, NHNN mới chỉ chủ yếu giữ chức năng là cơ quan chấp hành trong việc điều hành CSTT cho Chính phủ chứ chưa phải là cơ quan giữ vai trò chính trong việc xây dựng, điều hành CSTT quốc gia. Trên thực tế, NHNN Việt Nam có mức độ độc lập thấp và chịu sự can thiệp hành chính toàn diện của Chính phủ. Đây cũng là một trong những nguyên nhân làm hạn chế hiệu quả hoạt động của NHNN nhất là trong việc thực hiện mục tiêu kiểm soát lạm phát và ổn định thị trường tiền tệ và hệ thống tài chính.
Vì vậy, nâng cao tính độc lập của NHNN là một trong những điều kiện tiên quyết để tạo tiền đề căn bản trong hiệu quả hoạt động và là nền tảng quan trọng bảo đảm NHNN thực sự là NHTW.
Nhằm tăng tính độc lập của NHNN Việt Nam, pháp luật cần được sửa đổi theo hướng:
Thứ nhất, trao quyền cho NHNN được thực sự độc lập trong quyết định thực thi chính sách và việc lựa chọn công cụ điều hành. Thống đốc NHNN phải được trao quyền quyết định trong việc thực thi chính sách tiền tệ và tự chịu trách nhiệm về các quyết định đó mà không cần thông qua Chính phủ.
Thứ hai, pháp luật cần quy định cho Thống đốc NHNN quyền từ chối tạm ứng chi ngân sách hay tài trợ trực tiếp cho thâm hụt NSNN của Chính phủ.
Thứ ba, NHNN cần có sự độc lập tương đối với Chính phủ. Chính phủ chỉ nên quản lý NHNN về mục tiêu, định hướng phát triển, các chỉ tiêu cơ bản mà không can thiệp quá sâu vào nghiệp vụ cụ thể của NHNN. Đặc biệt, các quyết định điều hành CSTT và sử dụng các công cụ CSTT phải thuộc thẩm quyền của NHNN.
Thứ tư, Bên cạnh việc trao quyền chủ động cho NHNN, pháp luật cũng cần quy định về trách nhiệm, nghĩa vụ của NHNN trong việc thực hiện chức năng của mình.
KẾT LUẬN
Qua những phân tích ở trên, chúng ta đã hiểu rõ về đặc trưng cũng như những ưu – nhược điểm của từng mô hình NHTW trên Thế giới. Mỗi đất nước khác nhau với điều kiện chính trị, kinh tế, xã hội khác nhau thì việc lựa chọn mô hình NHTW cũng khác nhau. Hiện nay, NHNN Việt Nam là một cơ quan thuộc Chính phủ đóng những vai trò to lớn trong nền kinh tế. Sự lựa chọn mô hình này là phù hợp với điều kiện đất nước, tuy vậy pháp luật cần tăng cường tính độc lập cho NHNN để NHNN thực hiện đúng vai trò là NHTW của mình.
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Luật Ngân hàng nhà nước 2010
2. Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Luật Ngân hàng Việt Nam, NXB Công an Nhân dân, 2017
3. PGS. TS. Lê Thị Thu Thủy (2013), Tổ chức và hoạt động của Ngân hàng Trung ương các nước và những gợi ý về triển vọng hiến định ở Việt Nam, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp, http://www.lapphap.vn/Pages/TinTuc/207122/To-chuc-va-hoat-dong-cua-ngan-hang-trung-uong-cac-nuoc-va-nhung-goi-y-ve-trien-vong-hien-dinh-o-viet-nam.html (truy cập ngày 07/11/2021)
4. ThS. Nguyễn Văn Thuyết (2020), Nghiên cứu mô hình ngân hàng trung ương hiện đại phù hợp với thực tế Việt nam hiện nay
5. Đỗ Thiên Anh Tuấn - Trần Thanh Hằng - Nguyễn Thanh Nhã (2012), Tính độc lập của ngân hàng trung ương, Tạp chí Tài chính, https://tapchitaichinh.vn/nghien-cuu-trao-doi/tinh-doc-lap-cua-ngan-hang-trung-uong-6843.html (truy cập ngày 07/11/2021)
6. ThS. Tô Mai Thanh (2013), Địa vị pháp lý của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam trong điều hành các công cụ thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia, Tạp chí Nghề luật, số 4/2013, tr. 68-69, 72.
7. Viên Thế Giang (2018), Tính độc lập của ngân hàng nhà nước Việt Nam khi thực hiện chức năng ngân hàng trung ương, Tạp chí Luật học, Số 8/2018, tr. 16 - 27.
8. Somkhen Sengchanh (2016), Địa vị pháp lý của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam – So sánh với địa vị pháp lý của Ngân hàng quốc gia Lào, Luận văn thạc sĩ luật học
Xem thêm: TỔNG HỢP BÀI TẬP NHÓM - BÀI TẬP LỚN - BÀI TẬP CÁ NHÂN - TIỂU LUẬN CÁC MÔN HLU
Nếu bạn thấy những chia sẻ của mình hữu ích thì có thể donate ủng hộ mình 01 ly trà sữa nha: BIDV 4603463395
.png)
0 nhận xét