Được tạo bởi Blogger.
facebook youtube

Rey & Law

    • Home
    • HỌC LUẬT Ở HLU
    • HỌC LUẬT SƯ
    • HỌC THẠC SĨ
    • CHUYỆN ĐI LÀM
    • TỰ HỌC LUẬT



    MỞ ĐẦU

    Đất đai từ xưa tới nay vẫn luôn là yếu tố không thể thiếu được đối với mọi quốc gia. Việc quản lý nhà nước đối với đất đai luôn là mục tiêu quốc gia của mọi thời đại nhằm nắm chắc và quản lý chặt quỹ đất, đảm bảo việc sử dụng đất đai tiết kiệm và có hiệu quả.

    Nhận rõ vấn đề tất yếu khách quan này, Đảng và Nhà nước ta đã và đang từng bước hoàn thiện hệ thống pháp luật về đất đai nhằm quản lý đất đai một cách hiệu quả nhất. Để làm rõ hơn về vấn đề này, sau đây em xin được trình bày về một vài khía cạnh của quản lý nhà nước về đất đai: vấn đề giao đất và vấn đề đăng ký đất đai.

    NỘI DUNG

    Câu 1:

    Tại sao vẫn tồn tại hình thức giao đất không thu tiền sử dụng đất trong khi Nhà nước đã tiền tệ hóa quyền sử dụng đất từ năm 1993? Giao đất không thu tiền và giao đất có thu tiền sử dụng đất khác nhau như thế nào?

    1. Hình thức giao đất không thu tiền sử dụng đất

    Hình thức sử dụng đất thông qua việc được Nhà nước giao đất đã tồn tại từ lâu trong hệ thống pháp luật đất đai ở nước ta. Ngay từ Luật đất đai đầu tiên, Luật đất đai 1987 đã quy định về hình thức giao đất. Vào thời điểm đó, được Nhà nước giao đất không thu tiền sử dụng đất là hình thức sử dụng đất duy nhất của người sử dụng đất. Điều 1 Luật Đất đai 1987 quy định: “Nhà nước giao đất cho các nông trường, lâm trường, hợp tác xã, tập đoàn sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, xí nghiệp, đơn vị vũ trang nhân dân, cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội và cá nhân - dưới đây gọi là người sử dụng đất - để sử dụng ổn định, lâu dài. Nhà nước còn giao đất để sử dụng có thời hạn hoặc tạm thời.”

    Đến Luật Đất đai 1993, nhà nước đã bắt đầu tiền tệ hóa quyền sử dụng đất thông qua việc bổ sung thêm hình thức cho thuê đất và giao đất có thu tiền. Các Luật đất đai sau này, mới nhất là Luật đất đai 2013 vẫn tiếp tục kế thừa các hình thức về giao đất và cho thuê đất, trong đó vẫn giữ nguyên hai hình thức giao đất là giao đất không thu tiền sử dụng đất và giao đất có thu tiền sử dụng đất.

    Tuy vậy, Luật Đất đai 2013 đã có nhiều đổi mới trong công tác giao đất, cho thuê đất. Một trong những điểm mới đáng chú ý là thu hẹp các trường hợp được Nhà nước giao đất không thu tiền sử dụng đất và cơ bản chuyển sang thuê đất. Quy định này nhằm đảm bảo sự bình đẳng trong việc tiếp cận đất đai của các thành phần kinh tế, đặc biệt là giữa nhà đầu tư trong nước và nhà đầu tư nước ngoài, đảm bảo sử dụng đất tiết kiệm, hiệu quả, tiếp tục xóa bao cấp trong sử đụng đất. 

    Mặc dù hướng tới xóa bỏ bao cấp trong sử dụng đất, Điều 54 Luật đất đai 2013 vẫn tiếp tục quy định các trường hợp Nhà nước giao đất không thu tiền sử dụng bao gồm:

    (1) Hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản, làm muối được giao đất nông nghiệp trong hạn mức;

    (2) Người sử dụng đất rừng phòng hộ, đất rừng đặc dụng, đất rừng sản xuất là rừng tự nhiên, đất xây dựng trụ sở cơ quan, đất sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh; đất sử dụng vào mục đích công cộng không nhằm mục đích kinh doanh; đất làm nghĩa trang, nghĩa địa không thuộc trường hợp quy định tại khoản 4 Điều 55 của Luật đai 2013;

    (3) Tổ chức sự nghiệp công lập chưa tự chủ tài chính sử dụng đất xây dựng công trình sự nghiệp;

    (4) Tổ chức sử dụng đất để xây dựng nhà ở phục vụ tái định cư theo dự án của Nhà nước;

    (5) Cộng đồng dân cư sử dụng đất nông nghiệp; cơ sở tôn giáo sử dụng đất phi nông nghiệp quy định tại khoản 1 Điều 159 của Luật đất đai 2013.

    So với Luật đất đai 2003, Luật đất đai 2013 đã thu hẹp đối tượng được giao đất không thu tiền sử dụng đất, chuyển sang thuê đất đối với 3 đối tượng là:

    (1) Tổ chức sử dụng đất vào mục đích nghiên cứu, thí nghiệm, thực nghiệm về nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản, làm muối;

    (2) Đơn vị vũ trang nhân dân được Nhà nước giao đất để sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản, làm muối hoặc sản xuất kết hợp với nhiệm vụ quốc phòng, an ninh;

    (3) Đơn vị sự nghiệp công lập tự chủ toàn bộ.

    Việc quy định như vậy là hợp lý. 

    Thứ nhất, việc giao đất nông nghiệp không thu tiền sử dụng đất trong hạn mức cho hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản, làm muối thể hiện chính sách khuyến khích hộ gia đình, cá nhân sản xuất nông nghiệp, ưu tiên bảo vệ và phát triển quỹ đất nông nghiệp của nhà nước ta. Có bảo vệ và phát triển quỹ đất nông nghiệp thì mới có thể đảm bảo an ninh lương thực quốc gia, đáp ứng nhu cầu về lương thực, thực phẩm cho toàn xã hội, góp phần quan trọng trong sự nghiệp pháp triển đất nước.

    Thứ hai, việc giao đất rừng phòng hộ, đất rừng đặc dụng, đất rừng sản xuất là rừng tự nhiên không thu tiền sử dụng đất thể hiện chính sách khuyến khích phát triển và bảo vệ rừng của nhà nước. Từ đó giúp quản lý rừng bền vững, nâng cao tỉ lệ che phủ rừng, hạn chế được tình trạng phá rừng, khai thác rừng trái phép, bảo tồn, phát triển hệ sinh thái động thực vật rừng.

    Thứ ba, đối với đất xây dựng cơ quan, đơn vị sự nghiệp công lập chưa tự chủ tài chính, đất quốc phòng an ninh, các cơ quan này đều được ngân sách nhà nước cung cấp tài chính để hoạt động. Do đó, việc thu tiền sử dụng đất của các cơ quan, đơn vị này thực chất là lấy tiền ngân sách để đưa vào ngân sách. Điều này là không cần thiết và chỉ gây thêm khó khăn và mất thời gian trong việc quản lý ngân sách.

    Thứ tư, đối với các trường hợp đất nghĩa trang, nghĩa địa, đất cơ sở tôn giáo, đất nông nghiệp của cộng đồng dân cư, đất sử dụng vào mục đích công cộng không nhằm mục đích kinh doanh, trong các trường hợp này, đất đai đều được sử dụng vào mục đích chung của cộng đồng, đáp ứng nhu cầu chung của cộng đồng dân cư, đồng thời cũng không nhằm mục đích kinh doanh thu lời, do đó, việc nhà nước giao đất không thu tiền sử dụng đất trong trường hợp này thể hiện sự quan tâm tới đời sống của nhân dân, đồng thời cũng thực hiện chức năng xã hội của nhà nước.

    Vì những lý do trên, pháp luật đất đai nước ta vẫn tồn tại hình thức giao đất không thu tiền sử dụng đất trong khi Nhà nước đã tiền tệ hóa quyền sử dụng đất từ năm 1993.

    2. Sự khác biệt giữa giao đất không thu tiền và giao đất có thu tiền sử dụng đất

     

    Giao đất không thu tiền sử dụng đất

    Giao đất có thu tiền sử dụng đất

    Đối tượng được giao đất

    Điều 54 Luật đất đai 2013:

    (1) Hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản, làm muối được giao đất nông nghiệp trong hạn mức quy định tại Điều 129 của Luật đai 2013;

    (2) Người sử dụng đất rừng phòng hộ, đất rừng đặc dụng, đất rừng sản xuất là rừng tự nhiên, đất xây dựng trụ sở cơ quan, đất sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh; đất sử dụng vào mục đích công cộng không nhằm mục đích kinh doanh; đất làm nghĩa trang, nghĩa địa không thuộc trường hợp quy định tại khoản 4 Điều 55 của Luật đai 2013;

    (3) Tổ chức sự nghiệp công lập chưa tự chủ tài chính sử dụng đất xây dựng công trình sự nghiệp;

    (4) Tổ chức sử dụng đất để xây dựng nhà ở phục vụ tái định cư theo dự án của Nhà nước;

    (5) Cộng đồng dân cư sử dụng đất nông nghiệp; cơ sở tôn giáo sử dụng đất phi nông nghiệp quy định tại khoản 1 Điều 159 của Luật đất đai 2013.

    Điều 55 Luật đất đai 2013:

    (1) Hộ gia đình, cá nhân được giao đất ở;

    (2) Tổ chức kinh tế được giao đất để thực hiện dự án đầu tư xây dựng nhà ở để bán hoặc để bán kết hợp cho thuê;

    (3) Người Việt Nam định cư ở nước ngoài, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được giao đất để thực hiện dự án đầu tư xây dựng nhà ở để bán hoặc để bán kết hợp cho thuê;

    (4) Tổ chức kinh tế được giao đất thực hiện dự án đầu tư hạ tầng nghĩa trang, nghĩa địa để chuyển nhượng quyền sử dụng đất gắn với hạ tầng.

    Quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất

    - Hộ gia đình, cá nhân được Nhà nước giao đất nông nghiệp trong hạn mức có các quyền sau:

    + Chuyển đổi quyền sử dụng đất nông nghiệp;

    + Chuyển nhượng quyền sử dụng đất;

    + Cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhân khác, người Việt Nam định cư ở nước ngoài đầu tư tại Việt Nam thuê quyền sử dụng đất;

    + Để thừa kế quyền sử dụng đất của mình theo di chúc hoặc theo pháp luật.

    + Tặng cho quyền sử dụng đất theo quy định pháp luật;

    + Thế chấp quyền sử dụng đất;

    + Góp vốn bằng quyền sử dụng đất;

    + Trường hợp đất thuộc diện thu hồi để thực hiện dự án thì có quyền tự đầu tư trên đất hoặc cho chủ đầu tư dự án thuê quyền sử dụng đất, góp vốn bằng quyền sử dụng đất với chủ đầu tư dự án để thực hiện dự án theo quy định của Chính phủ.

    - Tổ chức được nhà nước giao đất không thu tiền, cộng đồng dân cư, cơ sở tôn giáo được nhà nước giao đất không thu tiền không có quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, để thừa kế, tặng cho, thế chấp, góp vốn quyền sử dụng đất.

    - Hộ gia đình, cá nhân được Nhà nước giao đất ở có thu tiền sử dụng đất có các quyền sau:

    + Chuyển đổi quyền sử dụng đất nông nghiệp;

    + Chuyển nhượng quyền sử dụng đất;

    + Cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhân khác, người Việt Nam định cư ở nước ngoài đầu tư tại Việt Nam thuê quyền sử dụng đất;

    + Để thừa kế quyền sử dụng đất của mình theo di chúc hoặc theo pháp luật.

    + Tặng cho quyền sử dụng đất theo quy định pháp luật;

    + Thế chấp quyền sử dụng đất;

    + Góp vốn bằng quyền sử dụng đất;

    + Trường hợp đất thuộc diện thu hồi để thực hiện dự án thì có quyền tự đầu tư trên đất hoặc cho chủ đầu tư dự án thuê quyền sử dụng đất, góp vốn bằng quyền sử dụng đất với chủ đầu tư dự án để thực hiện dự án theo quy định của Chính phủ.

    - Tổ chức kinh tế, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được giao đất có thu tiền có các quyền chuyển nhượng, cho thuê, tặng cho theo quy định pháp luật, thế chấp, góp vốn quyền sử dụng đất.

    Thời hạn sử dụng đất

    - Hầu hết có thời hạn sử dụng đất ổn định lâu dài:

    + Đất nông nghiệp của cộng đồng dân cư

    + Đất rừng là rừng tự nhiên

    + Đất xây dựng cơ quan, tổ chức sự nghiệp công lập chưa tự chủ

    + Đất quốc phòng an ninh

    + Đất cơ sở tôn giáo

    + Đất xây dựng các công trình công cộng không có mục đích kinh doanh

    + Đất nghĩa trang nghĩa địa

    - Đất sử dụng có thời hạn:

    + Đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp: thời hạn 50 năm

    - Hầu hết là đất sử dụng có thời hạn:

    + Tổ chức kinh tế, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được giao đất để thực hiện dự án đầu tư: thời hạn sử dụng đất không quá 50 năm (hoặc không quá 70 năm nếu dự án có vốn đầu tư lớn khó thu hồi, dự án đầu tư tại địa bàn khó khăn, đặc biệt khó khăn)

    - Đất ở của hộ gia đình, cá nhân có thời hạn sử dụng đất ổn định, lâu dài.

    Hạn mức sử dụng đất

    - Đất nông nghiệp được giao cho hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản, làm muối: có hạn mức giao đất

    - Các loại đất còn lại không có hạn mức giao đất

    - Đất ở được giao cho hộ gia đình, cá nhân: có hạn mức sử dụng đất

    - Các loại đất còn lại: không có hạn mức giao đất

    Bồi thường khi thu hồi đất

    - Tổ chức trong nước, cộng đồng dân cư, cơ sở tôn giáo: Được bồi thường chi phí đầu tư vào đất còn lại

    - Hộ gia đình, cá nhân: được bồi thường về đất

    - Được bồi thường về đất

    Câu 2:

    Phân biệt giữa đăng ký đất đai ban đầu với đăng ký biến động? Mối quan hệ giữa các loại đăng ký đó với việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất?

    1. Phân biệt giữa đăng ký đất đai ban đầu với đăng ký biến động

    Đăng ký quyền sử dụng đất là một biện pháp của Nhà nước nhằm theo dõi tình hình sử dụng và biến động thường xuyên của đất đai. Đăng ký quyền sử dụng đất là nghĩa vụ, trách nhiệm của từng chủ sử dụng và cơ quan nhà nước làm nhiệm vụ quản lý đất đai. 

    Đăng ký quyền sử dụng đất được chia thành hai loại: đăng ký ban đầu khi chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và đăng ký biến động khi người sử dụng đất đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cần cập nhật các thông tin mới.

     

    Đăng ký đất đai ban đầu

    Đăng ký biến động

    Định nghĩa

    Đăng ký đất đai, tài sản gắn liền với đất lần đầu là việc thực hiện thủ tục lần đầu để ghi nhận tình trạng pháp lý về quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở, tài sản khác gắn liền với đất và quyền quản lý đất đối với một thửa đất vào hồ sơ địa chính.

    (Khoản 2 Điều 3 Thông tư 24/2014/TT-BTNMT)

    Đăng ký biến động đất đai, tài sản gắn liền với đất là việc thực hiện thủ tục để ghi nhận sự thay đổi về một hoặc một số thông tin đã đăng ký vào hồ sơ địa chính theo quy định của pháp luật.

    (Khoản 3 Điều 3 Thông tư 24/2014/TT-BTNMT)

    Các trường hợp tiến hành đăng ký

    Các trường hợp tiến hành đăng ký đất đai lần đầu được quy định tại  Khoản 3 Điều 95 Luật đất đai 2013

    Các trường hợp tiến hành đăng ký biến động được quy định tại  Khoản 4 Điều 95 Luật đất đai 2013

    Thời điểm tiến hành

    Đăng ký ban đầu được thực hiện khi người sử dụng đất chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc người được sử dụng đất theo bản án hoặc quyết định của tòa án nhân dân, quyết định giải quyết tranh chấp đất đai của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đã được thi hành.

    → Đăng ký đất đai ban đầu bao giờ cũng được thực hiện trước.

    Đăng ký biến động đất đai được thực hiện đối với trường hợp đã được cấp Giấy chứng nhận hoặc đã đăng ký mà có thay đổi thông tin về địa lý của thửa đất (diện tích đất; hình dạng, kích thước…) hoặc thay đổi về tình trạng pháp lý của thửa đất (mục đích sử dụng, thời hạn sử dụng, chuyển quyền sử dụng đất; thay đổi quyền sử dụng đất, chia, tách…).

    → Đăng ký đất đai biến động được thực hiện trên cơ sở đăng ký đất đai ban đầu.

    Mục đích

    Đăng ký đất đai ban đầu là việc đăng ký nhằm xác lập quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất.

    Đăng ký đất đai biến động nhằm cung cấp thông tin biến động trong quá trình sử dụng đất cho cơ quan quản lý nhà nước nhằm quản lý đất đai chặt chẽ, hiệu quả.

    Hồ sơ

    - Đơn đăng ký, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất

    - Một trong các loại giấy tờ về quyền sử dụng đất

    - Chứng từ thực hiện nghĩa vụ tài chính

    - Đơn đăng ký biến động đất đai, tài sản gắn liền với đất

    - Bản gốc Giấy chứng nhận đã cấp

    - Một trong các giấy tờ liên quan đến nội dung biến động đất đai

    Kết quả

    Người sử dụng đất được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất.

    Người sử dụng đất được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất hoặc được chứng nhận biến động vào Giấy chứng nhận đã cấp.

    2. Mối quan hệ giữa đăng ký đất đai với việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất

    Đăng ký đất đai là công cụ hiệu quả để Nhà nước quản lý chặt chẽ quỹ đất trên phạm vi cả nước. Trên cơ sở đăng ký đất đai, Nhà nước kiểm soát được tình hình sử dụng đất (chủ thể nào sử dụng, nếu chưa sử dụng thì cơ quan nào có trách nhiệm quản lý, thời hạn sử dụng đất là bao lâu, mục đích sử dụng đất là gì, diện tích sử dụng đất là bao nhiêu… chi tiết tới từng thửa đất). Từ đó, Nhà nước có thể đảm bảo nguồn tài nguyên đất không bị sử dụng lãng phí mà được sử dụng hợp lý, tiết kiệm và hiệu quả.

    Khoản 2 Điều 3 Thông tư 24/2014/TT-BTNMT quy định: “Đăng ký đất đai, tài sản gắn liền với đất lần đầu (sau đây gọi là đăng ký lần đầu) là việc thực hiện thủ tục lần đầu để ghi nhận tình trạng pháp lý về quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở, tài sản khác gắn liền với đất và quyền quản lý đất đối với một thửa đất vào hồ sơ địa chính.”

    Đăng ký đất đai lần đầu được thực hiện đối với thửa đất đang có người sử dụng, chưa đăng ký, chưa được cấp một loại Giấy chứng nhận nào (Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất).

    Kết quả đăng ký đất đai lần đầu là việc Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền cấp cho người sử dụng đất Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất là chứng thư pháp lý để Nhà nước xác nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất một các hợp pháp của người có quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất. Do đó, sau khi có Giấy chứng nhận thì người sử dụng đất được Nhà nước công nhận quyền sử dụng đất và được thực hiện các giao dịch liên quan đến thửa đất đó.

    Đối với người sử dụng đất, chủ sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, đăng ký đất đai và tài sản khác gắn liền với đất có ý nghĩa vô cùng quan trọng. Đây là cơ sở để người sử dụng đất được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất – căn cứ để được Nhà nước bảo hộ các quyền và lợi ích hợp pháp đối với đất đai và các tài sản gắn liền với đất, chống lại sự tranh chấp, xâm phạm từ các chủ thể khác, đồng thời cũng là cơ sở để xác định các nghĩa vụ mà người sử dụng đất phải tuân thủ, nhất là các nghĩa vụ tài chính và nghĩa vụ sử dụng đất đúng ranh giới.

    Sau khi được Nhà nước cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và các tài sản khác gắn liền với đất, nếu có đủ các điều kiện quy định tại Điều 188 Luật đất đai 2013 thì người sử dụng đất cũng phải thực hiện thủ tục đăng ký biến động khi thực hiện các quyền của mình đã được Luật đất đai quy định (quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, thế chấp quyền sử dụng đất, tặng cho, góp vốn bằng giá trị quyền sử dụng đất).

    Khoản 3 Điều 3 Thông tư 34/2014/TT-BTNMT quy định: “Đăng ký biến động đất đai, tài sản gắn liền với đất là việc thực hiện thủ tục để ghi nhận sự thay đổi về một hoặc một số thông tin đã đăng ký vào hồ sơ địa chính theo quy định của pháp luật.”

    Đăng ký biến động về quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất thực hiện với một thửa đất, tài sản khác gắn liền với đất đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và các tài sản khác gắn liền với đất mà có thay đổi về một hay một số thông tin trong quá trình quản lý và sử dụng đất đã đăng ký vào hồ sơ địa chính theo quy định của pháp luật. Điều kiện để đăng ký biến động đất đai là người sử dụng đất đã tiến hành việc đăng ký lần đầu. 

    Tóm lại, đăng ký đất đai lần đầu sẽ chính thức công nhận quyền sử dụng đất hợp pháp của người sử dụng đất thông qua việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất. Việc được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất là điều kiện đã thực hiện đăng ký biến động đất đai.

    KẾT LUẬN

    Hiện nay, trong công cuộc đổi mới đất nước, phát triển kinh tế - xã hội, Nhà nước ta ngày càng chú trọng và đề cao quyền tài sản về đất đai của người sử dụng đất. Nhà nước cũng đã liên tục hoàn thiện pháp luật về đất đai để quản lý một cách hiệu quả và sử dụng tiết kiệm đất đai. Tuy nhiên, để có thể quản lý và sử dụng đất đai hiệu quả trên thực tế, hệ thống pháp luật vẫn cần tiếp tục hoàn thiện, đồng thời việc thực thi pháp luật phải được tiến hành một cách nghiêm minh và phải được giám sát một cách chặt chẽ. 

    DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

    * Văn bản pháp luật: 

    1. Luật đất đai 2013 (sửa đổi, bổ sung năm 2018)

    2. Luật đất đai 2003

    3. Luật đất đai 1993

    4. Luật đất đai 1987

    5. Nghị định 43/2014/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật đất đai

    6. Thông tư 24/2014/TT-BTNMT quy định về hồ sơ địa chính

    * Giáo trình:

    7. Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Luật đất đai, Nhà xuất bản Công an nhân dân, Hà Nội, 2016

    * Đề tài khoa học:

    8. Trường Đại học Luật Hà Nội, Bình luận chế độ quản lý nhà nước về đất đai theo Luật Đất đai 2013, đề tài nghiên cứu khoa học cấp trường, Hà Nội, 2015

    * Luận văn:

    9. Lò Thanh Thủy (2016), Pháp luật về đăng ký quyền sử dụng đất và thực tiễn thực hiện tại huyện Quỳnh Nhai, tỉnh Sơn La, Luận văn thạc sĩ Luật học, Hà Nội: Đại học Luật Hà Nội

    10. Nguyễn Việt Dũng (2016), Pháp luật đăng ký quyền sử dụng đất ở Việt Nam, Luận văn thạc sĩ Luật học, Hà Nội: Đại học Luật Hà Nội

    11. Quách Thúy Hằng (2020), Pháp luật đăng ký quyền sử dụng đất và thực tiễn áp dụng tại thành phố Sơn La, Luận văn thạc sĩ Luật học, Hà Nội: Đại học Luật Hà Nội

    12. Trịnh Đức Thuận (2020), Pháp luật về đăng ký đất đai, nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất và thực tiễn thi hành, Luận văn thạc sĩ Luật học, Hà Nội: Đại học Luật Hà Nội

    * Bài tạp chí:

    13. Nguyễn Văn Khánh (2013), Nghiên cứu về quyền sở hữu đất đai ở Việt Nam, Tạp chí Khoa học ĐHQGHN, Khoa học Xã hội và Nhân văn, Tập 29, Số 1 (2013), tr. 1 – 16 

    14. Nguyễn Xuân Trọng (2014), Quy định mới về giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất trong Luật Đất đai năm 2013 và các văn bản hướng dẫn thi hành, Tạp chí Luật học, Đặc san về Luật đất đai năm 2013, tr. 72 – 77

    15. Trần Thị Tuyết, Lê Thu Quỳnh, Nguyễn Thị Loan (2019), Giao đất, giao rừng: Công cụ quản lý rừng bền vững, Tạp chí Nghiên cứu Địa lý nhân văn, số 1(24) – Tháng 3/2019

    * Website:

    16. Báo Tài nguyên và Môi trường (2018), Phân biệt giữa đăng ký biến động đất đai và QSDĐ lần đầu, https://baotainguyenmoitruong.vn/phan-biet-giua-dang-ky-bien-dong-dat-dai-va-qsdd-lan-dau-292001.html (truy cập lần cuối ngày 4/7/2021)

    17. ĐBND (2017), Hội đồng Dân tộc tổ chức Hội thảo về giao đất, giao rừng, https://quochoi.vn/pages/tim-kiem.aspx?ItemID=33905 (truy cập lần cuối ngày 4/7/2021)

    18. Lê Thanh Khuyến (2014), Nhiều điểm mới về giao đất, cho thuê đất, Báo điện tử Chính phủ, http://baochinhphu.vn/Tra-loi-cong-dan/Nhieu-diem-moi-ve-giao-dat-cho-thue-dat/192302.vgp (truy cập lần cuối ngày 3/7/2021)

    19. Ngọc Thành (2012), Luật Đất đai sửa đổi thu hẹp đối tượng được giao đất, Cổng thông tin điện tử Quốc hội, https://quochoi.vn/pages/tim-kiem.aspx?ItemID=5326 (truy cập lần cuối ngày 3/7/2021)

    20. ThS. Trần Thị Lệ Thu (2017), Một số vấn đề về đăng ký đất đai và định hướng hoàn thiện, Tạp chí Công thương, http://tapchicongthuong.vn/bai-viet/mot-so-van-de-ve-dang-ky-dat-dai-va-dinh-huong-hoan-thien-56982.htm (truy cập lần cuối ngày 4/7/2021)

    Xem thêm: TỔNG HỢP BÀI TẬP NHÓM - BÀI TẬP LỚN - BÀI TẬP CÁ NHÂN - TIỂU LUẬN CÁC MÔN HLU

    Nếu bạn thấy những chia sẻ của mình hữu ích thì có thể donate ủng hộ mình 01 ly trà sữa nha: BIDV 4603463395


    Continue Reading

     

    MỞ ĐẦU

    Hiện nay, hệ thống ngân sách nhà nước (NSNN) ở Việt Nam gồm hai bộ phận (ngân sách trung ương và ngân sách địa phương) với 4 cấp NSNN tương ứng với 4 cấp chính quyền địa phương. Cùng với ngân sách trung ương, ngân sách địa phương cũng có những vị trí, vai trò rất to lớn trong việc đảm bảo thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của bộ máy nhà nước ở địa phương... Nhằm để hiểu rõ hơn các quy định liên quan đến xây dựng dự toán ngân sách địa phương theo Luật Ngân sách Nhà nước 2015, đồng thời tìm hiểu về vai trò của Hội đồng Nhân dân (HĐND) các cấp trong việc xây dựng dự toán ngân sách địa phương, nhóm chúng em xin chọn đề số 4 làm đề tài nghiên cứu bài tập nhóm lần này. 

    Trong quá trình làm bài vẫn còn nhiều thiếu sót, chúng em rất mong nhận được sự góp ý của thầy cô để bài làm hoàn thiện hơn nữa.

    Chúng em xin chân thành cảm ơn!

    NỘI DUNG

    I. CÁC KHÁI NIỆM CHUNG VỀ XÂY DỰNG DỰ TOÁN NSNN THEO QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT HIỆN NAY 

    1. Khái niệm NSNN, ngân sách địa phương

    Theo khoản 14 Điều 4 Luật Ngân sách nhà nước năm 2015: “Ngân sách nhà nước là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước được dự toán và thực hiện trong một khoảng thời gian nhất định do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định để bảo đảm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước”

    Điều 6 Luật Ngân sách nhà nước 2015 có quy định về hệ thống ngân sách nhà nước, theo đó: 

    “1. Ngân sách nhà nước gồm ngân sách trung ương và ngân sách địa phương. 

    2. Ngân sách địa phương gồm ngân sách của các cấp chính quyền địa phương.”

    Khái niệm ngân sách địa phương được quy định tại khoản 13 Điều 4 Luật ngân sách nhà nước: “Ngân sách địa phương là các khoản thu ngân sách nhà nước phân cấp cho cấp địa phương hưởng, thu bổ sung từ ngân sách trung ương cho ngân sách địa phương và các khoản chi ngân sách nhà nước thuộc nhiệm vụ chi của cấp địa phương.”

    2. Khái niệm hoạt động xây dựng dự toán ngân sách nhà nước

    a. Khái niệm

    Xét dưới góc độ pháp lí thì lập dự toán NSNN có thể được hiểu là tập hợp các quy phạm pháp luật do Nhà nước ban hành nhằm quy định thẩm quyền, trình tự, thủ tục xây dựng và quyết định dự toán NSNN hằng năm. 

    Như vậy, lập dự toán NSNN bao gồm 2 loại công việc chính: 

    Một là, xây dựng dự toán NSNN (đây là công việc thuộc trách nhiệm của hệ thống cơ quan quản lý nhà nước – đứng đầu là Chính phủ, cùng các Bộ, cơ quan ngang bộ và UBND các cấp cùng các cơ quan chuyên môn); 

    Hai là, quyết định dự toán NSNN (đây là công việc thuộc trách nhiệm của hệ thống cơ quan quyền lực nhà nước – bao gồm Quốc hội và HĐND các cấp). 

    b. Đặc điểm

    Thứ nhất, hoạt động lập dự toán ngân sách nhà nước được tiến hành hàng năm và vào trước năm ngân sách

    Thứ hai, lập dự toán ngân sách nhà nước là giai đoạn thể hiện rõ nhất sự tập trung quyền lực nhà nước vào các cơ quan quyền lực nhà nước, trên cơ sở có sự phân công nhiệm vụ giữa hệ thống cơ quan quyền lực nhà nước với hệ thống cơ quan quản lí nhà nước trong hoạt động ngân sách.

    Thứ ba, trong giai đoạn lập dự toán ngân sách có sự tham gia của nhiều chủ thể khác nhau và giữa các chủ thể đó có sự phân định trách nhiệm, quyền hạn một cách rõ ràng.

    Thứ tư, hoạt động lập dự toán ngân sách nhà nước được tiến hành theo một quy trình với thủ tục chặt chẽ được luật hóa.

    II. QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ LẬP DỰ TOÁN NGÂN SÁCH ĐỊA PHƯƠNG

    1. Quy định của pháp luật về thẩm quyền của các chủ thể trong quá trình lập dự toán ngân sách địa phương

    a) Thẩm quyền của cơ quan quản lý nhà nước

    * Thẩm quyền của UBND các cấp:

    Ủy ban nhân dân các cấp là cơ quan chấp hành của cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương và là cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương. Trong lĩnh vực lập dự toán ngân sách nhà nước, ủy ban nhân dân các cấp có các thẩm quyền sau: 

    - Lập dự toán ngân sách địa phương, phương án phân bổ ngân sách cấp mình; dự toán điều chỉnh ngân sách địa phương trong trường hợp cần thiết, trình Hội đồng nhân dân cùng cấp quyết định và báo cáo cơ quan hành chính nhà nước, cơ quan tài chính cấp trên trực tiếp. (theo Khoản 1 Điều 31 Luật NSNN 2015)

    - Kiểm tra nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp dưới về lĩnh vực tài chính - ngân sách. (theo Khoản 3 Điều 31 Luật NSNN 2015)

    -  Căn cứ vào nghị quyết của Hội đồng nhân dân cùng cấp, quyết định giao nhiệm vụ thu, chi ngân sách cho từng cơ quan, đơn vị trực thuộc; nhiệm vụ thu, chi, mức bổ sung cho ngân sách cấp dưới và tỷ lệ phần trăm (%) phân chia giữa các cấp ngân sách ở địa phương đối với các khoản thu phân chia. (theo Khoản 4 Điều 31 Luật NSNN 2015)

    Đối với ủy ban nhân dân cấp tỉnh, ngoài các nhiệm vụ, quyền hạn trên còn có nhiệm vụ: 

    - Lập và trình Hội đồng nhân dân cùng cấp quyết định: 

    + Kế hoạch tài chính 05 năm; 

    + Bội chi ngân sách địa phương và nguồn bù đắp bội chi ngân sách địa phương hằng năm; 

    + Việc phân cấp nguồn thu, nhiệm vụ chi cho từng cấp ngân sách ở địa phương; 

    + Tỷ lệ phần trăm (%) phân chia giữa ngân sách các cấp chính quyền địa phương đối với phần ngân sách địa phương được hưởng từ các khoản thu phân chia theo tỷ lệ phần trăm (%) giữa ngân sách trung ương và ngân sách địa phương và các khoản thu phân chia giữa các cấp ngân sách ở địa phương; 

    + Phí, lệ phí và các khoản đóng góp của nhân dân; 

    + Nguyên tắc, tiêu chí và định mức phân bổ ngân sách ở địa phương; 

    + Cụ thể hóa một số chế độ, tiêu chuẩn, định mức chi ngân sách theo quy định khung của Chính phủ; 

    + Các chế độ chi ngân sách đối với một số nhiệm vụ chi có tính chất đặc thù ở địa phương ngoài các chế độ, tiêu chuẩn, định mức chi ngân sách do Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Tài chính ban hành để thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội trên địa bàn, phù hợp với khả năng cân đối của ngân sách địa phương.

    -  Lập kế hoạch tài chính - ngân sách nhà nước 03 năm 

    * Thẩm quyền của các đơn vị dự toán ngân sách: 

    Căn cứ theo Khoản 1 Điều 32 Luật NSNN 2015, trong quá trình lập dự toán ngân sách, các đơn vị dự toán ngân sách có các quyền hạn và trách nhiệm sau:

    - Lập dự toán thu, chi ngân sách hằng năm; thực hiện phân bổ dự toán ngân sách được cấp có thẩm quyền giao cho các đơn vị trực thuộc và điều chỉnh phân bổ dự toán theo thẩm quyền. 

    - Lập kế hoạch tài chính - ngân sách nhà nước 03 năm thuộc phạm vi quản lý.

    b) Thẩm quyền của cơ quan quyền lực nhà nước: 

    Cơ quan quyền lực nhà nước tham gia quá trình lập dự toán ngân sách địa phương là HĐND các cấp. 

    HĐND là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, đại diện cho ý chí, nguyện vọng của nhân dân, do nhân dân ở địa phương bầu ra, chịu trách nhiệm trước nhân dân địa phương và cơ quan nhà nước cấp trên. 

    Thẩm quyền của HĐND các cấp trong hoạt động lập dự toán ngân sách địa phương được quy định như sau: 

    - Căn cứ vào nhiệm vụ thu, chi ngân sách được cấp trên giao và tình hình thực tế tại địa phương, quyết định: 

    + Dự toán thu ngân sách nhà nước trên địa bàn, bao gồm thu nội địa, thu dầu thô, thu từ hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu, thu viện trợ không hoàn lại, bảo đảm không thấp hơn dự toán thu ngân sách nhà nước được cấp trên giao;

    + Dự toán thu ngân sách địa phương, bao gồm các khoản thu ngân sách địa phương hưởng 100%, phần ngân sách địa phương được hưởng từ các khoản thu phân chia theo tỷ lệ phần trăm (%), thu bổ sung từ ngân sách cấp trên;

    + Dự toán chi ngân sách địa phương, bao gồm chi ngân sách cấp mình và chi ngân sách địa phương cấp dưới, chi tiết theo chi đầu tư phát triển, chi thường xuyên, chi trả nợ lãi, chi bổ sung quỹ dự trữ tài chính, dự phòng ngân sách. Trong chi đầu tư phát triển và chi thường xuyên có mức chi cụ thể cho các lĩnh vực giáo dục - đào tạo và dạy nghề, khoa học và công nghệ;

    + Tổng mức vay của ngân sách địa phương, bao gồm vay để bù đắp bội chi ngân sách địa phương và vay để trả nợ gốc của ngân sách địa phương.

    - Quyết định phân bổ dự toán ngân sách cấp mình:

    + Tổng số; chi đầu tư phát triển và chi thường xuyên theo từng lĩnh vực; chi bổ sung quỹ dự trữ tài chính địa phương; dự phòng ngân sách;

    + Dự toán chi đầu tư phát triển, chi thường xuyên của từng cơ quan, đơn vị thuộc cấp mình theo từng lĩnh vực;

    + Mức bổ sung cho ngân sách từng địa phương cấp dưới trực tiếp, gồm bổ sung cân đối ngân sách, bổ sung có mục tiêu.

    - Quyết định các chủ trương, biện pháp để triển khai thực hiện ngân sách địa phương.

    - Quyết định điều chỉnh dự toán ngân sách địa phương trong trường hợp cần thiết.

    - Quyết định danh mục các chương trình, dự án thuộc kế hoạch đầu tư trung hạn nguồn ngân sách nhà nước của ngân sách cấp mình; quyết định chương trình, dự án đầu tư quan trọng của địa phương được đầu tư từ nguồn vốn ngân sách nhà nước.

    Đối với HĐND cấp tỉnh còn có thêm các nhiệm vụ, quyền hạn:

    -  Quyết định kế hoạch tài chính 05 năm 

    - Quyết định bội chi ngân sách địa phương và nguồn bù đắp bội chi ngân sách địa phương hằng năm

    - Quyết định việc phân cấp nguồn thu, nhiệm vụ chi cho từng cấp ngân sách ở địa phương 

    - Quyết định tỷ lệ phần trăm (%) phân chia giữa ngân sách các cấp chính quyền địa phương đối với phần ngân sách địa phương được hưởng từ các khoản thu phân chia theo tỷ lệ phần trăm (%) giữa ngân sách trung ương và ngân sách địa phương và các khoản thu phân chia giữa các cấp ngân sách ở địa phương;

    - Quyết định thu phí, lệ phí và các khoản đóng góp của nhân dân theo quy định của pháp luật;

    - Quyết định nguyên tắc, tiêu chí và định mức phân bổ ngân sách ở địa phương;

    - Quyết định cụ thể đối với một số chế độ, tiêu chuẩn, định mức chi ngân sách theo quy định khung của Chính phủ;

    - Quyết định các chế độ chi ngân sách đối với một số nhiệm vụ chi có tính chất đặc thù ở địa phương ngoài các chế độ, tiêu chuẩn, định mức chi ngân sách do Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Tài chính ban hành để thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội trên địa bàn, phù hợp với khả năng cân đối của ngân sách địa phương.

    2. Quy định của pháp luật về trình tự, thủ tục lập dự toán ngân sách địa phương

    a) Hướng dẫn lập dự toán ngân sách và thông báo số kiểm tra dự toán ngân sách hàng năm

    Trước ngày 15 tháng 5, Thủ tướng Chính phủ ban hành quy định về việc xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, dự toán ngân sách nhà nước năm sau.

    Căn cứ vào quy định của Thủ tướng Chính phủ, Bộ Tài chính ban hành thông tư hướng dẫn về yêu cầu, nội dung, thời hạn lập dự toán ngân sách nhà nước; thông báo số kiểm tra dựa toán về tổng số thu, chi một số lĩnh vực chi quan trọng đối với từng tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương.

    Căn cứ vào văn bản hướng dẫn, số kiểm tra về dự toán ngân sách và yêu cầu nhiệm vụ chi cụ thể của địa phương mình, ủy ban nhân dân cấp tỉnh tổ chức hướng dẫn và thông báo số kiểm tra về dự toán ngân sách cho các đơn vị trực thuộc và ủy ban nhân dân cấp huyện; ủy ban nhân dân cấp huyện thông báo số kiểm tra về dự toán ngân sách cho các đơn vị trực thuộc và ủy ban nhân dân cấp xã.

    * Căn cứ lập dự toán ngân sách địa phương

    Việc lập dự toán ngân sách địa phương phải dựa trên các căn cứ chủ yếu sau đây: 

    - Nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội và bảo đảm quốc phòng, an ninh, đối ngoại, bình đẳng giới.

    - Nhiệm vụ cụ thể của các cơ quan, tổ chức, đơn vị ở địa phương.

    - Quy định của pháp luật về thuế, phí, lệ phí và chế độ thu ngân sách nhà nước; định mức phân bổ ngân sách, chế độ, tiêu chuẩn, định mức chi ngân sách nhà nước.

    - Phân cấp nguồn thu, nhiệm vụ chi ngân sách và tỷ lệ phần trăm (%) phân chia đối với các khoản thu phân chia và mức bổ sung cân đối ngân sách của ngân sách cấp trên cho ngân sách cấp dưới.

    - Văn bản pháp luật của các cấp, cơ quan nhà nước có thẩm quyền hướng dẫn xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và dự toán ngân sách nhà nước năm sau.

    - Kế hoạch tài chính 05 năm, kế hoạch tài chính - ngân sách nhà nước 03 năm, kế hoạch đầu tư trung hạn nguồn ngân sách nhà nước.

    - Tình hình thực hiện ngân sách nhà nước năm trước.

    - Số kiểm tra dự toán thu, chi ngân sách thông báo cho các cấp, các cơ quan, tổ chức, đơn vị có liên quan.

    Kế hoạch tài chính 05 năm là kế hoạch tài chính được lập trong thời hạn 05 năm cùng với kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 05 năm. Kế hoạch tài chính 05 năm xác định mục tiêu tổng quát, mục tiêu cụ thể về tài chính - ngân sách nhà nước; các định hướng lớn về tài chính, ngân sách nhà nước; số thu và cơ cấu thu nội địa, thu dầu thô, thu cân đối từ hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu; số chi và cơ cấu chi đầu tư phát triển, chi trả nợ, chi thường xuyên; định hướng về bội chi ngân sách; giới hạn nợ nước ngoài của quốc gia, nợ công, nợ chính phủ; các giải pháp chủ yếu để thực hiện kế hoạch. 

    Kế hoạch tài chính 05 năm được sử dụng để:

    - Thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia, ngành, lĩnh vực và địa phương; cân đối, sử dụng có hiệu quả nguồn lực tài chính công và ngân sách nhà nước trong trung hạn; thúc đẩy việc công khai, minh bạch ngân sách nhà nước;

    - Làm cơ sở để cấp có thẩm quyền xem xét, quyết định kế hoạch đầu tư trung hạn nguồn ngân sách nhà nước;

    - Định hướng cho công tác lập dự toán ngân sách nhà nước hằng năm, kế hoạch tài chính - ngân sách nhà nước 03 năm.

    Sở Tài chính có trách nhiệm xây dựng kế hoạch tài chính 05 năm của địa phương mình trình Ủy ban nhân dân cùng cấp báo cáo Hội đồng nhân dân xem xét, quyết định cùng với thời điểm trình dự toán ngân sách năm đầu kỳ kế hoạch.

    Kế hoạch tài chính - ngân sách nhà nước 03 năm là kế hoạch tài chính - ngân sách nhà nước được lập hằng năm cho thời gian 03 năm, trên cơ sở kế hoạch tài chính 05 năm, được lập kể từ năm dự toán ngân sách và 02 năm tiếp theo, theo phương thức cuốn chiếu. Kế hoạch này được lập cùng thời điểm lập dự toán ngân sách nhà nước hằng năm nhằm định hướng cho công tác lập dự toán ngân sách nhà nước hằng năm; định hướng thứ tự ưu tiên phân bổ nguồn lực cho từng lĩnh vực và từng nhiệm vụ, hoạt động, chế độ, chính sách cho từng lĩnh vực trong trung hạn. 

    Nội dung kế hoạch tài chính - ngân sách nhà nước 03 năm tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương gồm: dự báo về các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô, những chính sách ngân sách quan trọng; dự báo về số thu, chi và cơ cấu thu, chi; dự báo về số bội chi ngân sách; xác định các nguyên tắc cân đối ngân sách nhà nước và thứ tự ưu tiên phân bổ nguồn lực ngân sách, trần chi tiêu cho các lĩnh vực, nhiệm vụ chi đầu tư phát triển, chi trả nợ, chi thường xuyên; dự báo về nghĩa vụ nợ dự phòng và các giải pháp chủ yếu để thực hiện kế hoạch trong thời hạn 03 năm.

    Các cơ quan, đơn vị ở cấp tỉnh lập kế hoạch tài chính - ngân sách nhà nước 03 năm, nội dung gồm: mục tiêu, nhiệm vụ, chế độ, chính sách chủ yếu của ngành, cơ quan, đơn vị; dự báo các nguồn lực tài chính, trong đó dự báo về số thu được giao quản lý, yêu cầu về chi ngân sách để thực hiện; thể hiện nguyên tắc và cách thức xác định, sắp xếp thứ tự ưu tiên thực hiện các nhiệm vụ, hoạt động, chế độ, chính sách và dự kiến phân bổ kinh phí trong tổng mức trần chi tiêu được cơ quan có thẩm quyền xác định trước; các giải pháp chủ yếu để cân đối giữa nhu cầu chi ngân sách và trần chi tiêu trong thời hạn 03 năm.

    Sở Tài chính chủ trì, phối hợp với Sở Kế hoạch và Đầu tư tổng hợp kế hoạch tài chính - ngân sách nhà nước 03 năm tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương báo cáo Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trình Hội đồng nhân dân cùng cấp để tham khảo khi thảo luận, xem xét, thông qua dự toán ngân sách và phương án phân bổ ngân sách nhà nước hằng năm.

    * Yêu cầu lập dự toán ngân sách địa phương

    Việc lập dự toán ngân sách địa phương hàng năm phải bảo đảm các yêu cầu cơ bản sau: 

    Thứ nhất, dự toán ngân sách nhà nước phải tổng hợp theo từng khoản thu, chi và theo cơ cấu chi đầu tư phát triển, chi thường xuyên, chi dự trữ quốc gia, chi trả nợ và viện trợ, chi bổ sung quỹ dự trữ tài chính, dự phòng ngân sách.

    Thứ hai, dự toán ngân sách của đơn vị dự toán ngân sách các cấp được lập phải thể hiện đầy đủ các khoản thu, chi theo đúng biểu mẫu, thời hạn do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định. Trong đó:

    - Dự toán thu ngân sách được lập trên cơ sở dự báo các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô và các chỉ tiêu có liên quan, các quy định của pháp luật về thuế, phí, lệ phí và chế độ thu ngân sách;

    - Dự toán chi đầu tư phát triển được lập trên cơ sở quy hoạch, kế hoạch, chương trình, dự án đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt; kế hoạch tài chính 05 năm, kế hoạch đầu tư trung hạn nguồn ngân sách nhà nước, khả năng cân đối các nguồn lực trong năm dự toán, quy định của pháp luật về đầu tư công, xây dựng và quy định khác của pháp luật có liên quan;

    - Dự toán chi thường xuyên được lập trên cơ sở nhiệm vụ được giao, nhiệm vụ được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt, chế độ, tiêu chuẩn, định mức chi do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định. Việc lập dự toán ngân sách của các cơ quan nhà nước thực hiện chế độ tự chủ, tự chịu trách nhiệm về sử dụng biên chế và kinh phí quản lý hành chính; đơn vị sự nghiệp công lập thực hiện quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính thực hiện theo quy định của Chính phủ;

    - Dự toán chi ngân sách nhà nước đối với lĩnh vực giáo dục - đào tạo và dạy nghề, khoa học và công nghệ bảo đảm tỷ lệ theo quy định của pháp luật có liên quan;

    - Dự toán chi thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia được lập căn cứ vào danh mục các chương trình, tổng mức kinh phí thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia trong từng giai đoạn do Quốc hội quyết định, mục tiêu, nội dung, nhiệm vụ và chi tiết các dự án thành phần đối với từng chương trình mục tiêu quốc gia;

    - Dự toán chi trả nợ được lập trên cơ sở bảo đảm trả các khoản nợ đến hạn của năm dự toán ngân sách;

    - Dự toán vay bù đắp bội chi ngân sách nhà nước phải căn cứ vào cân đối ngân sách nhà nước, khả năng từng nguồn vay, khả năng trả nợ và trong giới hạn an toàn về nợ theo nghị quyết của Quốc hội.

    b) Lập và xét duyệt, tổng hợp dự án ngân sách địa phương

    Thứ nhất, về trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, đơn vị trong việc lập dự toán ngân sách địa phương. 

    Cơ quan thu các cấp ở địa phương xây dựng dự toán thu ngân sách nhà nước trên địa bàn gửi cơ quan thu cấp trên, cơ quan tài chính cùng cấp.

    Cơ quan tài chính các cấp ở địa phương xem xét dự toán ngân sách của các cơ quan, tổ chức, đơn vị cùng cấp, dự toán ngân sách địa phương cấp dưới; chủ trì phối hợp với cơ quan liên quan trong việc tổng hợp, lập dự toán ngân sách địa phương, phương án phân bổ ngân sách cấp mình theo các chỉ tiêu quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 30 của Luật này, báo cáo Uỷ ban nhân dân cùng cấp.

    Sở Tài chính chủ trì, phối hợp với Sở Kế hoạch và Đầu tư xem xét dự toán thu ngân sách nhà nước trên địa bàn do các cơ quan thu ngân sách lập, dự toán thu, chi ngân sách của đơn vị dự toán cấp I thuộc phạm vi quản lý và dự toán thu, chi ngân sách của cấp huyện; lập dự toán thu ngân sách nhà nước trên địa bàn, dự toán thu, chi ngân sách địa phương báo cáo Ủy ban nhân dân cấp tỉnh để trình Thường trực Hội đồng nhân dân cấp tỉnh xem xét, cho ý kiến. 

    Sau khi có ý kiến của Thường trực Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh gửi báo cáo dự toán ngân sách địa phương đến Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, các cơ quan quản lý chương trình mục tiêu quốc gia, chương trình mục tiêu đối với phần dự toán chi chương trình mục tiêu quốc gia, chương trình mục tiêu.

    Thứ hai, về tài liệu kèm theo, Chính phủ quy định tài liệu Uỷ ban nhân dân trình Hội đồng nhân dân cùng cấp về dự toán ngân sách và phương án phân bổ ngân sách địa phương.   

    Thứ ba, về lập lại dự toán ngân sách địa phương, trường hợp dự toán ngân sách địa phương, phương án phân bổ ngân sách cấp mình chưa được Hội đồng nhân dân quyết định, Uỷ ban nhân dân lập lại dự toán ngân sách địa phương, phương án phân bổ ngân sách cấp mình, trình Hội đồng nhân dân vào thời gian do Hội đồng nhân dân quyết định, nhưng không được chậm hơn thời hạn Chính phủ quy định.

    c) Thảo luận, quyết định dự toán ngân sách địa phương, phương án phân bổ ngân sách hàng năm và giao dự toán ngân sách nhà nước 

    Thứ nhất, về quyết định, giao dự toán ngân sách địa phương. Căn cứ quyết định giao dự toán ngân sách của Thủ tướng Chính phủ, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trình Hội đồng nhân dân cùng cấp quyết định dự toán ngân sách địa phương, phương án phân bổ dự toán ngân sách cấp tỉnh, mức bổ sung từ ngân sách cấp tỉnh cho ngân sách cấp dưới và tỷ lệ phần trăm (%) phân chia các khoản thu giữa ngân sách các cấp chính quyền địa phương trước ngày 10 tháng 12 năm trước; báo cáo Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch và Đầu tư dự toán ngân sách địa phương và kết quả phân bổ dự toán ngân sách cấp tỉnh đã được Hội đồng nhân dân cấp tỉnh quyết định. Sau khi nhận được quyết định giao dự toán ngân sách của Ủy ban nhân dân cấp trên, Ủy ban nhân dân trình Hội đồng nhân dân cùng cấp quyết định dự toán ngân sách địa phương và phương án phân bổ ngân sách cấp mình, bảo đảm dự toán ngân sách cấp xã được quyết định trước ngày 31 tháng 12 năm trước. Sau khi dự toán ngân sách được Hội đồng nhân dân quyết định, Ủy ban nhân dân cùng cấp báo cáo Ủy ban nhân dân và cơ quan tài chính cấp trên trực tiếp về dự toán ngân sách đã được Hội đồng nhân dân quyết định.

    Thứ hai, về thời gian quyết định và giao dự toán ngân sách địa phương.

    Trước ngày 20 tháng 11, Thủ tướng Chính phủ giao dự toán thu, chi ngân sách năm sau cho từng bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, cơ quan khác ở trung ương và từng tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương. 

    Trước ngày 10 tháng 12, Hội đồng nhân dân cấp tỉnh quyết định dự toán ngân sách địa phương, phân bổ ngân sách cấp tỉnh năm sau. Hội đồng nhân dân cấp dưới quyết định dự toán ngân sách địa phương, phân bổ ngân sách năm sau của cấp mình chậm nhất là 10 ngày, kể từ ngày Hội đồng nhân dân cấp trên trực tiếp quyết định dự toán và phân bổ ngân sách. 

    Chậm nhất là 05 ngày làm việc, kể từ ngày Hội đồng nhân dân quyết định dự toán ngân sách, Uỷ ban nhân dân cùng cấp giao dự toán ngân sách năm sau cho từng cơ quan, đơn vị thuộc cấp mình và cấp dưới; đồng thời, báo cáo Uỷ ban nhân dân và cơ quan tài chính cấp trên trực tiếp, Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh báo cáo Bộ Tài chính về dự toán ngân sách đã được Hội đồng nhân dân cấp tỉnh quyết định.

    Trước ngày 31 tháng 12, các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, cơ quan khác ở trung ương, Uỷ ban nhân dân các cấp phải hoàn thành việc giao dự toán ngân sách cho từng cơ quan, đơn vị trực thuộc và Ủy ban nhân dân cấp dưới.  

    Thứ ba, việc xem xét, quyết định dự toán ngân sách địa phương và phương án phân bổ ngân sách địa phương thực hiện theo quy định của Chính phủ.  

    Thứ tư, Chính phủ quy định tài liệu Uỷ ban nhân dân trình Hội đồng nhân dân cùng cấp về dự toán ngân sách và phương án phân bổ ngân sách địa phương.   

    III. BÌNH LUẬN VÀ LẤY VÍ DỤ THỰC TIỄN ĐỂ MINH HỌA VỀ VAI TRÒ CỦA HĐND CẤP TỈNH TRONG XÂY DỰNG DỰ TOÁN NGÂN SÁCH ĐỊA PHƯƠNG

    Theo Điều 30 Luật NSNN 2015 quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của HĐND cấp tỉnh đối với hoạt động xây dựng dự toán NSĐP: 

    1. Căn cứ vào nhiệm vụ thu, chi ngân sách được cấp trên giao và tình hình thực tế tại địa phương, quyết định:

    a) Dự toán thu ngân sách nhà nước trên địa bàn, bao gồm thu nội địa, thu dầu thô, thu từ hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu, thu viện trợ không hoàn lại, bảo đảm không thấp hơn dự toán thu ngân sách nhà nước được cấp trên giao;

    b) Dự toán thu ngân sách địa phương, bao gồm các khoản thu ngân sách địa phương hưởng 100%, phần ngân sách địa phương được hưởng từ các khoản thu phân chia theo tỷ lệ phần trăm (%), thu bổ sung từ ngân sách cấp trên;

    c) Dự toán chi ngân sách địa phương, bao gồm chi ngân sách cấp mình và chi ngân sách địa phương cấp dưới, chi tiết theo chi đầu tư phát triển, chi thường xuyên, chi trả nợ lãi, chi bổ sung quỹ dự trữ tài chính, dự phòng ngân sách. Trong chi đầu tư phát triển và chi thường xuyên có mức chi cụ thể cho các lĩnh vực giáo dục - đào tạo và dạy nghề, khoa học và công nghệ;

    d) Tổng mức vay của ngân sách địa phương, bao gồm vay để bù đắp bội chi ngân sách địa phương và vay để trả nợ gốc của ngân sách địa phương.

    2. Quyết định phân bổ dự toán ngân sách cấp mình:

    a) Tổng số; chi đầu tư phát triển và chi thường xuyên theo từng lĩnh vực; chi bổ sung quỹ dự trữ tài chính địa phương; dự phòng ngân sách;

    b) Dự toán chi đầu tư phát triển, chi thường xuyên của từng cơ quan, đơn vị thuộc cấp mình theo từng lĩnh vực;

    c) Mức bổ sung cho ngân sách từng địa phương cấp dưới trực tiếp, gồm bổ sung cân đối ngân sách, bổ sung có mục tiêu.

    3. Quyết định các chủ trương, biện pháp để triển khai thực hiện ngân sách địa phương.

    4. Quyết định điều chỉnh dự toán ngân sách địa phương trong trường hợp cần thiết.

    5. Quyết định danh mục các chương trình, dự án thuộc kế hoạch đầu tư trung hạn nguồn ngân sách nhà nước của ngân sách cấp mình; quyết định chương trình, dự án đầu tư quan trọng của địa phương được đầu tư từ nguồn vốn ngân sách nhà nước.

    6. Quyết định kế hoạch tài chính 05 năm gồm các nội dung: mục tiêu tổng quát, mục tiêu cụ thể của kế hoạch tài chính 05 năm; khả năng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn; thu, chi ngân sách địa phương, bội chi ngân sách địa phương và giới hạn mức vay của ngân sách địa phương; giải pháp chủ yếu để thực hiện kế hoạch; Bội chi ngân sách địa phương và nguồn bù đắp bội chi ngân sách địa phương hằng năm;

    7. Quyết định việc phân cấp nguồn thu, nhiệm vụ chi cho từng cấp ngân sách ở địa phương theo quy định tại khoản 3 Điều 9 của Luật này;

    8. Quyết định tỷ lệ phần trăm (%) phân chia giữa ngân sách các cấp chính quyền địa phương đối với phần ngân sách địa phương được hưởng từ các khoản thu quy định tại khoản 2 Điều 37 của Luật này và các khoản thu phân chia giữa các cấp ngân sách ở địa phương;

    9. Quyết định thu phí, lệ phí và các khoản đóng góp của nhân dân theo quy định của pháp luật;

    10. Quyết định nguyên tắc, tiêu chí và định mức phân bổ ngân sách ở địa phương;

    11. Quyết định cụ thể đối với một số chế độ, tiêu chuẩn, định mức chi ngân sách theo quy định khung của Chính phủ;

    12. Quyết định các chế độ chi ngân sách đối với một số nhiệm vụ chi có tính chất đặc thù ở địa phương ngoài các chế độ, tiêu chuẩn, định mức chi ngân sách do Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Tài chính ban hành để thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội trên địa bàn, phù hợp với khả năng cân đối của ngân sách địa phương.

    Mặt khác, theo điểm b khoản 3 Điều 19 Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 quy định Hội đồng nhân dân tỉnh có nhiệm vụ, quyền hạn: “Quyết định dự toán thu ngân sách nhà nước trên địa bàn; dự toán thu, chi ngân sách địa phương và phân bổ dự toán ngân sách cấp mình; điều chỉnh dự toán ngân sách địa phương trong trường hợp cần thiết; phê chuẩn quyết toán ngân sách địa phương. Quyết định chủ trương đầu tư, chương trình dự án của tỉnh theo quy định của pháp luật”. 

    Như vậy, lập dự toán ngân sách nhà nước là quá trình phân tích đánh giá giữa khả năng thu và nhu cầu chi để từ đó xác định các chỉ tiêu thu chi dự trữ ngân sách sao cho phù hợp trên cơ sở đó xác lập các biện pháp lớn về mặt kinh tế xã hội và các biện pháp hành chính nhằm đảm bảo các chỉ tiêu thu chi đề ra được thực hiện trong thực tế. Các khoản thu và chi của NSNN có mối quan hệ biện chứng, mật thiết với nhau. Chúng là hai hoạt động quan trọng để nhà nước thực hiện vai trò của mình đối với xã hội. Quốc hội trao quyền cho HĐND cấp tỉnh quyết định nhiệm vụ chi cho các địa phương ở địa bàn tỉnh.

    Trên cơ sở căn cứ vào các quy định của pháp luật hiện nay về hoạt động xây dựng dự toán NSNN, có thể rút ra một số bình luận về vai trò của HĐND cấp tỉnh trong hoạt động này như sau: 

    Thứ nhất, vai trò lãnh đạo, chỉ đạo cân đối thu chi. Do HĐND cấp tỉnh là cơ quan quyền lực cao nhất ở địa phương, đại diện cho ý chí, nguyện vọng của nhân dân và chịu trách nhiệm trước nhân dân địa phương và cơ quan nhà nước cấp trên nên việc giao phó trách nhiệm quyết định nhiệm vụ chi cho HĐND cấp tỉnh sẽ mang tính cưỡng chế cao, phù hợp với việc tạo lập, quản lý và sử dụng nguồn ngân sách một cách đúng đắn và hiệu quả.HĐND cấp tỉnh có vai trò giao nhiệm vụ thu để cung ứng nhu cầu chi. 

    Ví dụ như năm 2020, Báo cáo của Cục Thuế Ninh Bình cho thấy, tổng thu nội địa trên địa bàn ước đạt 18.300 tỷ đồng, bằng 202% dự toán phấn đấu, tăng 46% so với số thu thực hiện năm 2019. Đáng chú ý, các khoản thuế, phí, lệ phí cục thuế thu đạt 11.746 tỷ đồng, tăng 33% so với năm trước, vượt cao so với dự toán HĐND tỉnh giao. Dù tình hình dịch bệnh khó khăn nhưng nhờ vai trò chỉ đạo cân đối thu-chi của HĐND tỉnh, thu ngân sách tỉnh Ninh Bình vẫn đảm bảo và còn vượt chỉ tiêu.  

    Thứ hai, vai trò phân bổ dự toán một cách công khai và minh bạch, đảm bảo thu-chi đúng đối tượng, đúng mục đích. HĐND cấp tỉnh biết rõ về mức độ và đối tượng chi của địa phương mình nên cân nhắc và quyết định phân bổ ngân sách cho mục tiêu nào mà địa phương đang cần tập trung phát triển và tiến hành sử dụng ngân sách như công cụ để điều tiết kinh tế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở địa phương một cách ổn định và bền vững. Bên cạnh đó, HĐND tỉnh sẽ nẵm rõ tình hình địa phương mình hơn cơ quan nhà nước ở trung ương khi muốn đầu tư thực hiện các dự án vì mục đich chung cộng đồng với mức ngân sách phù hợp.

    Chẳng hạn ở Quảng Nam, bước vào thời kỳ ổn định ngân sách nhà nước, HĐND tỉnh đã ban hành nghị quyết về phân cấp nguồn thu, nhiệm vụ chi và định mức phân bổ dự toán chi thường xuyên ngân sách các cấp, thuộc ngân sách địa phương. HĐND cũng ban hành nghị quyết về các nguyên tắc, tiêu chí và định mức phân bổ chi đầu tư phát triển từ nguồn đầu tư XDCB tập trung. Bên cạnh đó, để đáp ứng yêu cầu phát triển, trong những năm qua, HĐND tỉnh đã ban hành nhiều nghị quyết chuyên đề như: Kiên cố hóa kênh mương, phát triển kinh tế vườn, kinh tế trang trại; Chiến lược phát triển khoa học công nghệ; Kinh tế thủy sản... Trên cơ sở những tiêu chí, định mức và các nhiệm vụ chi theo nghị quyết chuyên đề đã ban hành, hàng năm, HĐND tỉnh quyết định phân bổ ngân sách và vốn đầu tư XDCB tập trung cho các ngành, địa phương, bảo đảm công khai, minh bạch, đáp ứng kịp thời các nhiệm vụ chi cần thiết.  

    Thứ ba, HĐND cấp tỉnh còn có vai trò cân đối ngân sách. Từ hiểu biết cụ thể và rõ ràng về từng khu vực, ngành nghề, đối tượng trong địa phương mà cân đối được cả trong thu và chi ngân sách. Dưới cấp tỉnh còn các huyện và xã. Việc trao quyền cho HĐND cấp tỉnh giúp đảm bảo sự công bằng trong việc chia ngân sách về các cấp huyện và xã. Đảm bảo mỗi địa phương đều có được ngân sách phù hợp cho phát triển đặc trưng vùng miền. 

    LỜI KẾT

    Như vậy, có thể thấy rằng xây dựng dự toán ngân sách địa phương đóng một vai trò rất lớn trong việc ổn định nền kinh tế nước nhà. Ngoài ra, thông qua các phân tích và minh chứng cụ thể, chúng ta đều nhân thấy rằng Hội đồng nhân dân cũng có những vai trò nhất định đối với việc xây dựng dự toán ngân sách địa phương. Để phát huy tối đa vai trò của HĐND cấp tỉnh trong việc xây dựng dự toán NSNN ở địa phương, đòi hỏi cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất ở cấp tỉnh này cần phải thực sự phát huy tối đa vai trò của mình trong khuôn khổ luật định. Từ đó, mới có thể giúp đưa ra bản dự toán NSĐP phù hợp với đặc điểm kinh tế - xã hội của địa phương, và từ đó, giúp phát huy tối đa tiềm lực của địa phương trong phát triển kinh tế và nâng cao đời sống của người dân địa phương.  

    DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

    1. Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình luật ngân sách nhà nước, Nxb công an nhân dân, 2020.

    2. Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2015), Luật Ngân sách Nhà nước

    3. Thời báo Tài chính Online, Bộ Tài chính, Bài viết Cục Thuế Ninh Bình: Tiếp tục lập ‘kỷ lục’ thu ngân sách, xem 01/03/2021

    http://thoibaotaichinhvietnam.vn/pages/thue-voi-cuoc-song/2021-01-05/cuc-thue-ninh-binh-tiep-tuc-lap-ky-luc-thu-ngan-sach-97888.aspx>,   

    4. Báo Điện tử Đại biểu Nhân dân, Bài viết Hội đồng nhân dân quyết định ngân sách, xem 01/03/2021

    https://daibieunhandan.vn/hoi-dong-nhan-dan-quyet-dinh-ngan-sach-32910

    Xem thêm: TỔNG HỢP BÀI TẬP NHÓM - BÀI TẬP LỚN - BÀI TẬP CÁ NHÂN - TIỂU LUẬN CÁC MÔN HLU

    Nếu bạn thấy những chia sẻ của mình hữu ích thì có thể donate ủng hộ mình 01 ly trà sữa nha: BIDV 4603463395

    Continue Reading
    Newer
    Stories
    Older
    Stories

    About me

    REY A law practitioner

    Một người trẻ đam mê và đang trên con đường theo đuổi ngành Luật. Tốt nghiệp Cử nhân Luật tại HLU và đang học Luật sư & Thạc sĩ Luật. Read More

    Donate me

    Nếu bạn thấy những chia sẻ của mình hữu ích thì có thể donate ủng hộ mình 01 ly trà sữa nha:
    BIDV

    Follow me on Facebook

    Follow me on Youtube

    Labels

    CHUYỆN ĐI LÀM (3) ĐỀ THI HẾT MÔN (14) HỌC LUẬT Ở HLU (6) HỌC LUẬT SƯ (6) LUẬT HÀNH CHÍNH (47) LÝ LUẬN CHUNG (111) TIỂU LUẬN (50)

    Cảm ơn đã ghé thăm

    recent posts

    Popular Posts

    • Phân tích đặc trưng cơ bản của nhà nước. Trên cơ sở đó, làm sáng tỏ biểu hiện một đặc trưng của nhà nước Việt Nam hiện nay.
    • 80 CÂU VẤN ĐÁP LÝ LUẬN CHUNG VỀ NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT (có đáp án)

    Blog Archive

    • tháng 8 2025 (1)
    • tháng 6 2024 (2)
    • tháng 3 2024 (2)
    • tháng 2 2024 (1)
    • tháng 1 2024 (8)
    • tháng 10 2023 (30)
    • tháng 9 2023 (115)
    • tháng 8 2023 (73)
    facebook youtube

    Created with by BeautyTemplates

    Back to top