Được tạo bởi Blogger.
facebook youtube

Rey & Law

    • Home
    • HỌC LUẬT Ở HLU
    • HỌC LUẬT SƯ
    • HỌC THẠC SĨ
    • CHUYỆN ĐI LÀM
    • TỰ HỌC LUẬT

    Đề bài: 

    Thông qua bài viết: “Thế giới đang biến đổi và tư duy mới về ‘bàn tay nhà nước’” của tác giả Nguyễn Minh Phong (tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 2,3 (139, 140) tháng 1/2009), em hãy:

    1. Tóm tắt nội dung bài viết trong khoảng 1200 từ (không quá 3 trang A4).

    2.  Chỉ ra sự giống nhau và khác nhau trong quan điểm về một số chức năng của nhà nước giữa tác giả bài viết trên với tác giả Nguyễn Đình An trong bài viết “Chức năng của nhà nước trước tác động của xu thế toàn cầu hóa” (Tạp chí Triết học (10), 2013).

    3. Cho biết quan điểm của cá nhân em về việc thực hiện chức năng kinh tế của Nhà nước Việt Nam hiện nay.



    Bài làm

    1. Tóm tắt nội dung bài viết: “Thế giới đang biến đổi và tư duy mới về ‘bàn tay Nhà nước’” – Nguyễn Minh Phong

    Những năm 90 của thế kỉ trước, thế giới chứng kiến sự sụp đổ bất ngờ và nhanh chóng của hệ thống kinh tế kế hoạch hóa tập trung cao độ theo mô hình Xô Viết. Cuối năm 2008, cơn bão khủng hoảng tài chính phố Wall đã làm lung lay tận gốc rễ nền kinh tế Mỹ vốn đề cao khả năng tự điều chỉnh của các thể chế thị trường. Hai sự kiện lịch sử có tầm vóc toàn cầu ấy gióng lên hồi chuông cảnh tỉnh tất cả các quốc gia trên thế giới, đòi hỏi một tư duy mới về “bàn tay quản lý kinh tế của Nhà nước.”

    Trong những năm cuối thế kỷ XX, đầu thế kỷ XXI, thế giới đang chuyển biến mạnh mẽ. Các quốc gia ngày càng tăng cường đối thoại, vừa cạnh tranh, vừa hợp tác, phụ thuộc lẫn nhau. Hệ thống sản xuất, thương mại, tài chính quốc gia ngày càng mở rộng và quốc tế hóa. Xu hướng hội tụ hóa và “đồng nhất hóa” giữa các khối kinh tế, các quốc gia ngày càng đậm nét. Quá trình tái cấu trúc, đa dạng hóa, đa cực hóa, đa phương hóa về trung tâm, mô hình, động lực và mục tiêu phát triển ngày càng được tăng cường. Các sản phẩm đang và sẽ đa dạng, gọn nhẹ, nhiều chức năng hơn và rẻ hơn; do đó, phổ cập hơn và có tính cá nhân hơn. Các công ty một mặt được tổ chức theo quy mô nhỏ, giúp giảm bớt nạn quan liêu và chuyên môn hóa cao hơn; mặt khác lại có xu hướng hợp nhất để trở nên lớn mạnh hơn, toàn cầu hơn. Các ngành khai thác, chế biến nguyên liệu truyền thống ngày càng thu hẹp, các ngành sản xuất mới sẽ xuất hiện và các ngành dịch vụ sẽ chiếm tỷ trọng lớn nhất. Sự phát triển của internet và giao thông vận tải toàn cầu khiến thế giới trở nên “phẳng” hơn. Con người lao động thời đại mới có tri thức toàn diện hơn, năng động hơn, di chuyển chỗ làm việc thường xuyên và trên phạm vi ngày càng rộng hơn. Vai trò can thiệp kinh tế đang chuyển dần từ “nhà nước quốc gia” sang “nhà nước quốc tế” (G7, IMF, WB…). Chu kỳ kinh tế tư bản chủ nghĩa không mất đi và có sự rút ngắn khoảng cách giữa các chu kỳ; khủng hoảng chu kỳ kinh tế và khủng hoảng cơ cấu ngày càng có sự gắn kết sâu đậm, trở nên dày đặc, phổ biến hơn và mang tính quốc tế cao. Khi xảy ra khủng hoảng, tư bản quốc tế sẽ tự do rút chạy, dồn đến ẩn nấp và hoạt động tại những nơi an toàn hơn, thị trường thuận lợi hơn, nhưng điều này lại làm tăng hậu quả của khủng hoảng tại nơi xảy ra do sự ra đi đột ngột, tâm lý và tự phát của tư bản. Chính sự phát triển vô hạn độ khả năng tích tụ, dồn nén, vận chuyển tài chính toàn cầu cho các hoạt động đầu tư quốc tế trong khi thiếu cơ chế giám sát cần thiết đã, đang và sẽ ngày càng trở thành đầu mối của những chấn động kinh tế trong xã hội hiện đại. Ngày nay, quốc tế hóa, toàn cầu hóa và tri thức hóa nền kinh tế toàn cầu là hướng phát triển và lối thoát tự nhiên hữu hiệu và có nhiều triển vọng nhất cho các cuộc khủng hoảng. Việc cung cấp, giám sát thông tin đầy đủ, hệ thống, cập nhật đóng vai trò vô cùng quan trọng, không chỉ cho phép cảnh báo sớm các nguy cơ, định hướng lối thoát cho các doanh nghiệp và chính phủ mà còn có tác dụng ngăn chặn những tác hại của hành vi mù quáng hoặc tính dễ lây lan tâm lý cảm tính đám đông. Trong bối cảnh toàn cầu hóa, biên giới và chủ quyền quốc gia theo nghĩa truyền thống ngày càng mờ nhạt hơn. Các chế định khu vực và quốc tế ngày càng ảnh hưởng và chi phối chính sách, định hướng phát triển của mỗi nước. Các nhân tố văn hóa – xã hội đặc trưng quốc gia ngày càng tạo ra tính cá biệt trong đa dạng về mô thức phát triển. Những cơ hội mới, những thách thức mới đang và sẽ đặt ra ngày càng nhiều và đa dạng hơn cho mỗi doanh nghiệp, quốc gia và toàn thế giới.

    Năm 2008, các thể chế thị trường tự do cao độ, thiên vị lợi ích cá nhân và cục bộ, nới lỏng kiểm soát ở Mỹ là nguyên nhân sâu xa gây ra cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu, và chính bản thân các thể chế này cũng tỏ ra bất lực trước cơn đại hồng thủy. Cuộc khủng hoảng lan rộng ra toàn cầu và nhiều nhà lãnh đạo các quốc gia phát triển trên thế giới tìm thấy tiếng nói chung, cùng nhấn mạnh giải pháp căn bản cho cuộc khủng hoảng là phải “tìm ra được một sự cân bằng mới giữa vai trò của nhà nước và thị trường”. Thế giới đang bước vào thời đại kinh tế mới, kinh tế thị trường có điều tiết thích hợp của chính phủ. Trong đó, sẽ có yêu cầu cao hơn về tăng cường vai trò của luật pháp, chế tài, điều tiết nhà nước, kiểm soát các thể chế thị trường, thắt chặt cho vay tín dụng, thiết lập hệ thống thông tin công khai, minh bạch, phát triển các công cụ dự báo, cảnh báo và trừng phạt các sai trái và gian lận. Tư duy mới về “bàn tay của Nhà nước” trong một thế giới đang biến đổi ngày càng đậm nét với các biểu hiện và yêu cầu sau. Thứ nhất, không duy ý chí, giáo điều, cực đoan, quá nhấn mạnh và tuyệt đối hóa vai trò chỉ huy tập trung, mang tính áp đặt một chiều của Nhà nước hoặc thả nổi hoàn toàn và đặt toàn bộ quá trình phát triển kinh tế theo sự dẫn dắt có tính đầu cơ mù quáng. Nói cách khác, cần phải dùng cả hai “bàn tay” nhà nước và thị trường. Thứ hai, phải chủ động tham khảo, đan xen, phối hợp chính sách giữa các quốc gia trong khu vực và toàn cầu, tăng cường trao đổi quốc tế song phương và đa phương. Thứ ba, vai trò đầu tư trực tiếp, trụ cột của Nhà nước ngày càng giảm, song nhà nước có vai trò ngày càng to lớn trong cuộc chiến với các chấn động cơ cấu hoặc chu kỳ kinh tế bột phát. Thứ tư, “bàn tay” điều chỉnh của Nhà nước cần chuyển dịch theo hướng giảm can thiệp hành chính, trực tiếp, chuyển sang phương thức can thiệp gián tiếp, có tính định hướng và giám sát nhiều hơn, tuân thủ các yêu cầu lợi ích thị trường.

    Ở Việt Nam, “bàn tay Nhà nước” về cơ bản đã đón nhận và bắt nhịp được với các xu thế chung của thế giới, nhờ đó góp phần đưa kinh tế nước nhà vượt qua những khó khăn to lớn. Tuy nhiên, thực tế những chính sách, thể chế, phương thức tổ chức hoạt động của “bàn tay Nhà nước” vẫn còn một số bất cập do những cái cũ vẫn tồn tại, chưa được đổi mới kịp thời. Để nâng cao năng lực, hiệu quả quản lý Nhà nước, vượt qua các cuộc khủng hoảng, liệu pháp “bàn tay Nhà nước” ở Việt Nam cần được hoàn thiện theo các phương hướng sau. Thứ nhất, cần tiếp tục làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn về một số vấn đề lớn và mới trong chủ trương phát triển và quản lý Nhà nước. Cần gạt bỏ những định kiến, ảo tưởng về quyền lực nhà nước, tôn trọng các sáng tạo, đề xuất hợp lý của cấp cơ sở. Đặc biệt, cần thiết lập một chính sách tài chính – tiền tệ thận trọng (không quá lỏng, không quá chặt). Thứ hai, cần tôn trọng yêu cầu khách quan của các quy luật và quy trình quản lý kinh tế, các cam kết hội nhập và sự hài hòa các lợi ích phát triển, không ngừng cải thiện môi trường kinh doanh. Nhà nước cần nâng cao chất lượng công tác xây dựng và quản lý theo quy hoạch; tăng cường phân cấp quản lý kinh tế - xã hội, tăng cường cải cách hành chính; xây dựng, phát triển đồng bộ các thị trường và các thể chế hỗ trợ thị trường và quản lý nhà nước; tuân thủ đúng quy trình quản lý nhà nước về giá theo nguyên tắc thị trường nhằm bảo đảm cạnh tranh thị trường lành mạnh, ngăn chặn các hành vi lạm dụng và độc quyền, đầu cơ, bán phá giá và các gian lận thương mại khác; coi trọng việc chống tham nhũng và trọng dụng người tài. Thứ ba, cần coi trọng công tác dụ báo, thông tin, phản biện chính sách trong quản lý nhà nước. Dự báo cần bám sát, cập nhật và đưa ra các cảnh báo cần thiết về các xu hướng phát triển mới, các nguy cơ tiềm ẩn, các biến động thị trường trong nước và quốc tế. Thứ tư, cần đảm bảo sự gắn kết hài hòa giữa phát triển kinh tế với quan tâm phát triển văn hóa, giải quyết các vấn đề bức xúc xã hội – môi trường, nâng cao chất lượng và yêu cầu phát triển bền vững. Nhà nước cần quan tâm bảo đảm hài hòa các lợi ích trong quá trình phát triển, giảm cách biệt giữa các tầng lớp, các vùng với nhau; ưu tiên phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao…

    Thế giới đang và sẽ biến đổi ngày càng nhanh chóng, ai biết trước được các xu hướng phát triển của tương lai và thích ứng hiệu quả với chúng thì người đó sẽ chiến thắng.

    2. Sự giống nhau và khác nhau trong quan điểm về một số chức năng của nhà nước giữa tác giả Nguyễn Minh Phong với tác giả Nguyễn Đình An trong bài viết “Chức năng của nhà nước trước tác động của xu thế toàn cầu hóa”

    Giữa quan điểm của tác giả Nguyễn Minh Phong trong bài viết “Thế giới đang biến đổi và tư duy mới về ‘bàn tay nhà nước’” và tác giả Nguyễn Đình An trong bài viết “Chức năng của nhà nước trước tác động của xu thế toàn cầu hóa” về một số chức năng của nhà nước có một số điểm giống và khác nhau như sau:

    Về phần giống nhau, cả hai tác giả đều cho rằng toàn cầu hóa là một xu thế tất yếu của thế giới. Trong xu thế toàn cầu hóa, sự quốc tế hóa sản xuất vật chất và phân công lao động quốc tế ngày càng sâu sắc thêm đã trở thành một thực tế không thể bàn cãi. Thực tế này cũng làm cho các quá trình trao đổi, hợp tác kinh tế, tài chính, thương mại của các quốc gia trở nên tích cực hơn, và đồng thời cũng làm thay đổi tư duy trong thực hiện chức năng kinh tế của mỗi nhà nước. Hai tác giả cũng đồng ý rằng: nhà nước cần phải xem xét lại các chính sách xã hội và vai trò của mình trong việc đảm bảo an sinh xã hội cho người lao động. Đó là điều các nhà nước cần hướng tới.

    Tuy nhiên trong quan điểm của hai tác giả có một số điểm khác nhau như sau:

    Tác giả Nguyễn Đình An cho rằng: toàn cầu hóa đòi hỏi sự quốc tế hóa thị trường, sự gia tăng ảnh hưởng của các công ty xuyên quốc gia, sự thống trị của các cơ cấu siêu nhà nước được tạo ra do kết quả hội nhập kinh tế của các nước. Các quá trình này lại thu hẹp khả năng điều hành nền kinh tế quốc gia từ phía nhà nước. Trong khi đó, tư bản xuyên quốc gia lại có sức mạnh điều tiết nền kinh tế toàn cầu và nếu được phép, nó có thể làm khuynh đảo thị trường của một nhà nước nào đó.

    Tác giả Nguyễn Minh Phong lại cho rằng: thị trường tự do thiếu cơ chế giám sát cần thiết là nguyên nhân của những cuộc khủng hoảng và chấn động kinh tế. Khi xảy ra khủng hoảng thì quốc tế hóa, toàn cầu hóa, tìm hướng đi ra thị trường quốc tế là một lối thoát hữu hiệu nhất. Tác giả cho rằng: giải pháp căn bản nhất cho cuộc khủng hoảng đó là nền kinh tế thị trường có sự điều tiết thích hợp của chính phủ. Trong xu thế toàn cầu hóa, sự điều tiết của chính phủ càng ngày càng quan trọng và được nâng cao. Yêu cầu về tăng cường vai trò của luật pháp, chế tài, điều tiết nhà nước, kiểm soát các thể chế thị trường, thắt chặt cho vay tín dụng, thiết lập hệ thống thông tin công khai, minh bạch, phát triển các công cụ dự báo ngày càng tăng cao.

    Trên thực tế, bất chấp sự gia tăng áp lực của các tập đoàn xuyên quốc gia do kết quả của hội nhập kinh tế quốc tế, mối quan tâm của các nước đến sự phát triển ổn định và bền vững của nền kinh tế dân tộc, việc tập trung tối đa khả năng của đất nước cho nhiệm vụ phát triển kinh tế trong nước vẫn được giữ vững. Không chỉ thế, trước tác động của toàn cầu hóa, những nội dung thuộc chức năng kinh tế của nhà nước, như cam kết đảm bảo bình thường hoạt động kinh tế trong điều kiện cạnh tranh (hay độc quyền) gay gắt, việc bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trước các nhà sản xuất thiếu trách nhiệm, việc định ra các cơ sở pháp lý của thị trường,… vẫn được nhiều nước bảo đảm.

    3. Quan điểm của cá nhân em về việc thực hiện chức năng kinh tế của Nhà nước Việt Nam hiện nay.

    Ở Việt Nam, từ sau khi thành lập nhà nước dân chủ nhân dân đầu tiên sau cách mạng tháng Tám 1945, Đảng và Nhà nước ta luôn chú trọng công cuộc xây dựng và phát triển nền kinh tế quốc dân. Ngày nay, trong xu hướng toàn cầu hóa, việc thực hiện chức năng kinh tế càng được coi trọng hơn nữa. Chức năng kinh tế của nhà nước được thực hiện tốt là cơ sở để các chức năng khác được thực hiện.

    Chức năng kinh tế của nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (hay chức năng tổ chức và quản lý kinh tế) được hiểu là những hoạt động chủ yếu, quan trọng nhất mang tính thường xuyên, liên tục thể hiện bản chất của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam nhằm thực hiện các mục tiêu cơ bản của nhà nước trong lĩnh vực kinh tế. Việc thực hiện chức năng tổ chức, quản lý nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam được thực hiện dưới sự lãnh đạo của Đảng.

    Nhà nước thực hiện chức năng quản lý vĩ mô nền kinh tế bằng pháp luật và các công cụ quản lý kinh tế khác. Nền kinh tế thị trường là hệ thống phức tạp và đầy biến động, sự bất ổn, xâm phạm lợi ích lẫn nhau có thể xảy ra bất cứ lúc nào nếu không có những quy tắc đủ mạnh để điều chỉnh. Do đó, pháp luật là công cụ không thể thay thế để đảm bảo cho các quan hệ kinh tế diễn ra theo trật tự nhất định. Bằng pháp luật, nhà nước tạo ra khung pháp lý cho hoạt động sản xuất, kinh doanh. Nhà nước thực hiện vai trò điều chỉnh, ổn định nền kinh tế thông qua các công cụ quản lý kinh tế vĩ mô như chính sách tài chính, tiền tệ, tín dụng nhằm kiểm soát và hạn chế hậu quả trước các biến động bất lợi của thị trường. Nhà nước tiến hành đổi mới chính sách tiền tệ, giá cả cho phù hợp với cơ chế thị trường, kiềm chế lạm phát ở mức thấp nhất, ổn định sức mua đồng tiền Việt Nam, nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn vốn.

    Nhà nước xây dựng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế. Chính phủ đã lần lượt đề ra các chiến lược ổn định và phát triển kinh tế xã hội: Chiến lược ổn định và phát triển kinh tế xã hội 10 năm 1991-2000; chiến lược đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hóa theo định hướng xã hội chủ nghĩa 10 năm 2001-2010; chiến lược phát triển bền vững Việt Nam giai đoạn 2011-2020. Nhà nước cũng đặt ra các kế hoạch 5 năm và kế hoạch từng năm để thực hiện các chiến lược trên.

    Nhà nước xây dựng kết cấu hạ tầng cho nền kinh tế. Nhà nước huy động các nguồn lực trong và ngoài nước cho đầu tư xây dựng hạ tầng cơ sở; ban hành quy hoạch tổng thể về đầu tư, phân vùng phát triển kinh tế, trên cơ sở đó xác định rõ các công trình đầu tư trọng điểm, ưu tiên.

    Nhà nước tiến hành kiểm tra, giám sát nền kinh tế, qua đó kịp thời phát hiện và xử lý những sai sót, ách tắc, khó khăn, vướng mắc nhằm đảm bảo cho nền kinh tế hoạt động hiệu quả và theo đúng định hướng. Các cơ quan nhà nước có thẩm quyền có thể tiến hành kiểm tra định kỳ hoặc bất thường, nhà nước quy định chế độ kiểm tra riêng, chặt chẽ hơn đối với doanh nghiệp hoạt động trên quy mô lớn hoặc kinh doanh trong lĩnh vực kinh tế đặc thù (ngân hàng, bảo hiểm…) hay lĩnh vực kinh doanh dễ phát sinh độc quyền hoặc ảnh hưởng đến môi trường sinh thái.

    Nhà nước đảm bảo bình đẳng xã hội và giải quyết những khuyết tật của nền kinh tế thị trường. Nền kinh tế thị trường nước ta là nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, cần phải hạn chế thấp nhất tình trạng người bóc lột người, bảo đảm sự bình đẳng xã hội. Việc phát triển kinh tế không chỉ đơn thuần là tăng trưởng kinh tế mà phải nhằm phát triển toàn diện con người, giải quyết những vấn đề kinh tế - xã hội, bảo tồn các truyền thống văn hóa của dân tộc và bảo vệ môi trường. Nhà nước đã ban hành và sửa đổi nhiều luật thuế mới đảm bảo sự hài hoà lợi ích giữa ba chủ thể: người lao động - doanh nghiệp - Nhà nước như: Luật thuế giá trị gia tăng, Luật thuế thu nhập doanh nghiệp, Luật thuế thu nhập cá nhân…, đồng thời thực hiện việc điều chỉnh hệ thống tiền lương, thành lập quỹ bảo hiểm xã hội...

    Nhà nước thực hiện chức năng quản lý đối với doanh nghiệp nhà nước và các tập đoàn kinh tế nhà nước. Các doanh nghiệp, tập đoàn kinh tế nhà nước là lực lượng quan trọng, để nhà nước định hướng và điều tiết nền kinh tế quốc dân, cung cấp các sản phẩm thiết yếu cho nền kinh tế, ổn định giá cả, kiềm chế lạm phát, và thực hiện các chương trình an sinh xã hội.

    Sau hơn 30 năm đổi mới tư duy kinh tế ở nước ta, nhờ những chính sách hợp lý của Đảng và nhà nước, nền kinh tế Việt Nam đã thu được những thành tựu to lớn.

    Trong hơn 30 năm, tốc độ tăng trưởng kinh tế nước ta có mức tăng bình quân 7%/năm, cao hơn mức trung bình trong khu vực và trên thế giới. Năm 2018, tăng trưởng kinh tế đạt 7,08%, mức tăng cao nhất kể từ năm 2008 trở về đây.1 Chất lượng tăng trưởng từng bước được cải thiện, trình độ công nghệ trong sản xuất được nâng lên. Kinh tế vĩ mô ổn định, lạm phát được kiểm soát, nợ công có xu hướng giảm dần, dự trữ ngoại tệ tăng, đạt mức an toàn. Thu nhập bình quân đầu người tăng từ khoảng 100 USD/người/năm vào năm 1986 lên 2.587 USD/người/năm vào năm 2018. Hiệu quả sử dụng vốn đầu tư được cải thiện qua chỉ số ICOR giảm từ mức 6,42 năm 2016 xuống 5,97 năm 2018. Cũng trong năm 2018, khu vực doanh nghiệp có nhiều khởi sắc, cả nước có 131.275 doanh nghiệp thành lập mới với số vốn đăng ký là 1.478.101 tỷ đồng, số doanh nghiệp quay trở lại hoạt động là 34.010 doanh nghiệp.2 Đổi mới sáng tạo cũng có nhiều nổi bật, đến hết năm 2018, Việt Nam có khoảng 3000 doanh nghiệp khởi nghiệp đổi mới sáng tạo, tăng gần gấp đôi so với năm 2015. Đây là tín hiện cho thấy khuôn khổ pháp lý đã tạo ra môi trường kinh doanh thuận lợi hơn, tháo gỡ khó khăn cho các doanh nghiệp, tác động tích cực đến niềm tin của nhà đầu tư, tăng sự đóng góp của khối tư nhân cho nền kinh tế. Trong 9 tháng đầu năm 2019, tổng vốn đầu tư toàn xã hội tăng 10,3%, nhất là khu vực ngoài nhà nước chiếm tỉ trọng 45,3%, tăng 16,9%. Vốn FDI thực hiện cao nhất trong nhiều năm trở lại đây, ước đạt 14,2 tỷ USD, tăng 7,3% so với cùng kỳ năm trước.

    Các vấn đề an sinh xã hội cơ bản được bảo đảm, hệ thống an sinh xã hội và phúc lợi cho mọi người được phát triển khá đồng bộ và ngày càng cải thiện. Vấn đề lao động việc làm, năng suất lao động và tỷ lệ thất nghiệp đều phát triển theo hướng tích cực. Chương trình mục tiêu quốc gia việc làm và dạy nghề mỗi năm đã tạo việc làm cho khoảng 320.000 người; nhiều người khuyết tật, người dân tộc, người ở vùng bị chuyển đổi mục đích sử dụng đất nông nghiệp đã được vay vốn phát triển sản xuất kinh doanh, tạo việc làm. Năm 2015, tỷ lệ thất nghiệp trong độ tuổi lao động duy trì ở mức thấp, 2,31%. Năng suất lao động của Việt Nam tăng đều qua các năm, có tốc độ tăng cao nhất trong khu vực ASEAN, đạt 4.512 USD/lao động năm 2018. Tỷ lệ hộ nghèo ở nước ta năm 1993 là 58% giảm xuống còn 6,72% năm 2017. Chính sách xóa đói giảm nghèo ở nước ta được các tổ chức quốc tế đánh giá là thành công.

    Với chủ trương “chủ động và tích cực hội nhập quốc tế”, những năm qua, tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế toàn diện của Việt Nam đã đạt được những kết quả tích cực.

    Xét về mặt kinh tế, Việt Nam là quốc gia thành viên của Liên Hợp Quốc, WTO, IMF, Nhóm Ngân hàng Thế giới, Ngân hàng Phát triển châu Á, Diễn đàn Hợp tác Kinh tế châu Á – Thái Bình Dương, Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương, ASEAN. Việt Nam tham gia các hiệp định thương mại tự do đa phương với các nước ASEAN, Hàn Quốc, Nhật Bản, Trung Quốc và một số nước khác. Việt Nam cũng đã ký với Nhật Bản một hiệp định đối tác kinh tế song phương.

    Hội nhập kinh tế quốc tế thúc đẩy hoạt động thương mại quốc tế của Việt Nam phát triển mạnh, gia tăng kim ngạch xuất nhập khẩu, mở rộng thị trường đa dạng các loại hàng hóa tham gia xuất nhập khẩu. Việt Nam hiện đã có quan hệ thương mại với trên 200 quốc gia và vùng lãnh thổ... Kim ngạch hàng hóa xuất khẩu năm 2018 đạt 2447 tỷ USD, tăng 13,8% so với năm 2017, vượt mục tiêu Quốc hội và Chính phủ đề ra. Cán cân thương mại hàng hóa xuất siêu đạt 7,2 tỷ USD. Thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) của Việt Nam đạt được nhiều kết quả ấn tượng. Tổ chức Thương mại và Phát triển Liên Hợp Quốc đánh giá, Việt Nam nằm trong nhóm 12 quốc gia thành công nhất về thu hút FDI.

    Bên cạnh những thành tựu to lớn trên, việc thực hiện chức năng kinh tế của nhà nước vẫn còn những hạn chế, yếu kém.

    Một là những hạn chế, bất cập của hệ thống pháp luật kinh tế và các công cụ quản lý kinh tế vĩ mô. Hệ thống pháp luật kinh tế vẫn chưa đồng bộ, để thực thi cần rất nhiều các nghị định, thông tư hướng dẫn thi hành; các văn bản pháp luật còn chưa rõ ràng, mâu thuẫn, chồng chéo. Hệ thống pháp luật kinh tế thường xuyên thay đổi, không có tính ổn định cao, không có tính dự báo các diễn biến của thị trường, còn nhiều thủ tục hành chính chưa phù hợp với cơ chế tự do kinh doanh. Các chế tài đối với những hành vi vi phạm các quy định trong hoạt động kinh doanh còn chưa đủ mạnh để răn đe; việc thực thi pháp luật có hiệu quả chưa cao, việc giải quyết các tranh chấp còn kéo dài gây mất niềm tin cho doanh nghiệp. Nhà nước vẫn còn kiểm soát, hạn chế và cấm kinh doanh một số lĩnh vực dẫn đến tổn thất kinh tế, lãng phí tài nguyên, kìm hãm các lực lượng kinh tế phát triển.

    Hai là những hạn chế, bất cập trong tổ chức, hoạt động của các cơ quan thực hiện chức năng kinh tế và đội ngũ cán bộ, công chức quản lý kinh tế. Khi sáp nhập các bộ, ngành để tinh gọn bộ máy đã gây ra sự chồng chéo về chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn giữa các bộ và cơ cấu trong các cơ quan. Sự phối hợp giữa các cơ quan chưa hiệu quả dẫn đến tình trạng vướng mắc, kéo dài trong giải quyết yêu cầu của các cá nhân, doanh nghiệp. Trình độ, năng lực của đội ngũ cán bộ, công chức cũng chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển của kinh tế đất nước.

    Ba là những hạn chế, bất cập trong quản lý các doanh nghiệp nhà nước và tập đoàn kinh tế nhà nước. Các tập đoàn kinh tế nhà nước vẫn còn yếu kém trong quản lý, quen với cơ chế bao cấp, chưa thích nghi với nền kinh tế thị trường, gây thất thoát và lãng phí tài sản quốc gia.

    Để nâng cao hiệu quả thực hiện chức năng kinh tế của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, trước hết cần phải hoàn thiện chức năng xây dựng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế. Cần tập trung cho những mục tiêu hiệu quả và phát triển bền vững, tránh ôm đồm quá nhiều mục tiêu; cần có cơ chế kiểm tra, giám sát và tổ chức thực hiện các kế hoạch. Thứ hai, cần hoàn thiện chức năng xây dựng pháp luật và các công cụ quản lý vĩ mô của nhà nước phù hợp với nền kinh tế thị trường. Cần rà soát lại toàn bộ hệ thống pháp luật và văn bản hiện hành để kịp thời phát hiện, sửa đổi những chồng chéo, chưa phù hợp và bổ sung những văn bản còn thiếu. Thứ ba, cần hoàn thiện chức năng xây dựng hệ thống hạ tầng hỗ trợ cho nền kinh tế. Nhà nước cần ưu tiên phát triển hạ tầng thị trường: hệ thống giao thông, thông tin liên lạc, cơ sở vật chất phục vụ kinh doanh, giao dịch, hệ thống bến bãi, kho hàng và các dịch vụ khác như điện nước, trường học, y tế… Thứ tư, cần hoàn thiện chức năng xây dựng bộ máy nhà nước phục vụ quản lý hiệu quả nền kinh tế thị trường. Cần tiến hành cải cách thủ tục hành chính theo hướng đơn giản, thuận tiện tạo điều kiện thu hút đầu tư nước ngoài. Cần tăng cường trình độ, năng lực, phẩm chất của đội ngũ cán bộ, công chức nhà nước, tổ chức tuyển chọn một cách dân chủ, công khai.

    Xem thêm: TỔNG HỢP BÀI TẬP NHÓM - BÀI TẬP LỚN - BÀI TẬP CÁ NHÂN - TIỂU LUẬN CÁC MÔN HLU

    Nếu bạn thấy những chia sẻ của mình hữu ích thì có thể donate ủng hộ mình 01 ly trà sữa nha: BIDV 4603463395

    Continue Reading


    MỞ ĐẦU

    Có một nhà hiền triết từng nói rằng: “Nếu anh không chịu tìm hiểu vấn đề từ khái quát mà chỉ chăm chăm cái tiểu tiết cụ thể, thì đến một lúc nào đó, anh vẫn phải gặp lại cái khái quát trong chi tiết mà thôi”. Câu nói này thực sự mang rất nhiều hạt nhân hợp lí, nhất là đối với những vấn đề đời sống được  đặt dưới góc nhìn triết học. Triết học - lĩnh vực được tôn vinh là khoa học của mọi khoa học, luôn cho chúng ta cái nhìn toàn vẹn, đa chiều và sâu sắc nhất về mọi sự vật, hiện tượng. Đã bao giờ bạn tự hỏi, liệu rằng vấn đề ùn tắc giao thông tại những thành phố lớn sẽ được phân tích như thế nào khi đặt trong hệ tham chiếu mang tên triết học? 

    Ùn tắc giao thông tại các thành phố lớn, một vấn đề vô cùng nhức nhối trên toàn cầu, đặc biệt là đối với các nước đang phát triển, hệ thống cơ sở hạ tầng chưa đáp ứng được nhu cầu của dân cư. Tắc đường với tần suất dày đặc và liên tục không dừng lại ở mức gây khó chịu mà dần trở thành vấn nạn, yêu cầu bức thiết được giải quyết. Đặt trong góc nhìn triết học, với ý nghĩa phương pháp luận của cặp phạm trù nguyên nhân - kết quả, chúng ta sẽ thấy được một cách toàn diện, từ đó đưa ra những đề xuất giải quyết vấn đề ùn tắc giao thông ở các thành phố lớn. Mong rằng bài phân tích sau đây ít nhiều sẽ đem đến cho bạn đọc nguồn tri thức cũng như cách tư duy, đánh giá về hiện tượng này.

    Trong quá trình hoàn thiện bài tập, do vẫn còn nhiều hạn chế về kiến thức và kinh nghiệm nên không thể tránh khỏi những khiếm khuyết, kính mong sẽ nhận được sự nhận xét và đóng góp ý kiến từ phía các thầy cô trong tổ bộ môn để bài làm của chúng em được hoàn thiện hơn.

    Chúng em xin chân thành cảm ơn!

    NỘI DUNG

    A. Khái niệm cặp phạm trù “Nguyên nhân - Kết quả” và mối quan hệ biện chứng giữa chúng.

    1. Khái niệm

    Phạm trù nguyên nhân và kết quả phản ánh mối quan hệ hình thành của các sự vật, hiện tượng trong hiện thực khách quan.

    Nguyên nhân là phạm trù chỉ sự tác động lẫn nhau giữa các mặt trong một sự vật hoặc giữa các sự vật với nhau, gây ra một biến đổi nhất định nào đó.

    Kết quả là phạm trù chỉ những biến đổi xuất hiện do tác động lẫn nhau giữa các mặt trong một sự vật hoặc giữa các sự vật với nhau gây ra.

    * Phép biện chứng duy vật khẳng định mối liên hệ nhân quả có những tính chất sau:

    Tính khách quan: Mối liên hệ nhân quả là cái vốn có của bản thân sự vật, không phụ thuộc vào ý thức con người.

    Tính phổ biến: mọi sự vật, hiện tượng trong tự nhiên và trong xã hội đều có nguyên nhân nhất định gây ra. Không có hiện tượng nào không có nguyên nhân, chỉ có điều nguyên nhân đó có được nhận thức hay chưa.

    Tính tất yếu: cùng một nguyên nhân nhất định, trong những điều kiện giống nhau sẽ gây ra kết quả như nhau.

    1.1. “Nguyên nhân”, “nguyên cớ” và “điều kiện”

    Nguyên nhân là phạm trù chỉ sự tác động lẫn nhau giữa các mặt trong một sự vật hoặc giữa các sự vật với nhau, gây ra một biến đổi nhất định nào đó. Chẳng hạn, cuộc đấu tranh giữa giai cấp vô sản và giai cấp tư sản là nguyên nhân dẫn đến cuộc cách mạng vô sản nổ ra.

    Nguyên cớ là một sự kiện nào đó trực tiếp xảy ra trước kết quả, có liên hệ với kết quả nhưng chỉ là liên hệ bên ngoài không bản chất. Ví dụ, Mỹ muốn dùng máy bay bắn phá miền Bắc Việt Nam. Nguyên nhân là do bản chất đế quốc nhưng phải tạo cớ để hành động là gây sự kiện Vịnh Bắc Bộ tháng 8 năm 1954.

    Điều kiện là tổng hợp những hiện tượng không phụ thuộc vào nguyên nhân nhưng lại có tác dụng biến khả năng chứa đựng trong nguyên nhân thành kết quả, thành hiện thực. Vì vậy, điều kiện là cái không thể thiếu được cho sự xuất hiện của kết quả. Ví dụ, nguyên nhân của các phản ứng hóa học là sự tương tác của các chất tham gia để hình thanh nên chất mới. Nhưng để đạt được kết quả như vậy cần có điều kiện là các chất xúc tác, điều kiện về nhiệt độ, áp suất, môi trường, …

    Tóm lại, mặc dù xuất hiện cùng nguyên nhân, nguyên cớ và điều kiện không sinh ra kết quả.

    1.2. “Kết quả” và “Hậu quả”

    Kết quả là phạm trù chỉ những biến đổi xuất hiện do tác động lẫn nhau giữa các mặt trong một sự vật hoặc giữa các sự vật với nhau gây ra. Ví dụ, cuộc cách mạng vô sản nổ ra là kết quả của cuộc đấu tranh giữa giai cấp vô sản và giai cấp tư sản.

    Hậu quả là kết quả xấu về sau. (“Hậu” – sau, “Quả” – kết quả). Ví dụ, hậu quả nghiêm trọng do thiên tai đem lại.

    Vậy, có thể nói, hậu quả là một trường hợp nhỏ của kết quả, kết quả mang nghĩa rộng hơn và bao trùm hậu quả. Những biến đổi xuất hiện do tác động lẫn nhau giữa các mặt trong một sự vật hoặc giữa các sự vật với nhau gây ra mà mang tính tiêu cực, không như mong đợi thì có thể được coi là hậu quả.

    2. Mối quan hệ biện chứng giữa nguyên nhân và kết quả

    Nguyên nhân là cái sinh ra kết quả vì vậy nguyên nhân phải có trước kết quả.

    Một nguyên nhân nhất định trong những hoàn cảnh nhất định chỉ có thể gây ra kết quả nhất định và mọi kết quả nhất định bao giờ cũng sinh ra bởi nguyên nhân xác định, nếu các nguyên nhân và hoàn cảnh càng ít khác nhau bao nhiêu thì các kết quả do chúng gây nên cũng càng ít khác nhau bấy nhiêu.

    Mối quan hệ giữa nguyên nhân và kết quả là mối quan hệ phức tạp:

    + Thứ nhất: Cùng một nguyên nhân có thể gây ra nhiều kết quả khác nhau tùy thuộc vào hoàn cảnh cụ thể

    + Thứ hai: Cùng một kết quả có thể gây nên bởi những nguyên nhân khác nhau tác động riêng lẻ hay tác động cùng một lúc lên sự vật thì hiệu quả tác động của từng nguyên nhân với sự hình thành kết quả sẽ khác nhau tùy vào hướng tác động của nó.

    Nếu nguyên nhân tác động lên sự vật cùng môi trường thì chúng sẽ gây nên ảnh hưởng cùng chiều với sự hình thành kết quả.

    Ngược lại nếu các nguyên nhân khác nhau tác động lên sự vật theo các hướng khác nhau thì chúng sẽ làm suy yếu, thậm chí hoàn toàn tiêu diệt tác dụng của nhau.

    Tác động trở lại của kết quả đối với nguyên nhân, kết quả có thể tạo được nguyên nhân. Mối quan hệ nhân quả là một chuỗi những sự nối tiếp giữa nguyên nhân và kết quả. Không có nguyên nhân đầu tiên và không có kết quả cuối cùng.

    Trong những điều kiện nhất định nguyên nhân và kết quả có thể chuyển hóa cho nhau, trong mối quan hệ này là nguyên nhân thì trong mối quan hệ khác lại là kết quả và ngược lại.

    Nếu nguyên nhân tác động lên sự vật cùng môi trường thì chúng sẽ gây nên ảnh hưởng cùng chiều với sự hình thành kết quả.

    Ngược lại nếu các nguyên nhân khác nhau tác động lên sự vật theo các hướng khác nhau thì chúng sẽ làm suy yếu, thậm chí hoàn toàn tiêu diệt tác dụng của nhau.

    Tác động trở lại của kết quả đối với nguyên nhân, kết quả có thể tạo được nguyên nhân. Mối quan hệ nhân quả là một chuỗi những sự nối tiếp giữa nguyên nhân và kết quả. Không có nguyên nhân đầu tiên và không có kết quả cuối cùng.

    Trong những điều kiện nhất định nguyên nhân và kết quả có thể chuyển hóa cho nhau, trong mối quan hệ này là nguyên nhân thì trong mối quan hệ khác lại là kết quả và ngược lại.

    3. Phân loại nguyên nhân

    Vì nguyên nhân luôn có trước kết quả nên muốn tìm nguyên nhân của một hiện tượng nào đấy cần tìm trong những sự kiện những mối liên hệ xay ra trước khi hiện tượng đó xuất hiện.

    Một kết quả có thể do nhiều nguyên nhân sinh ra. Những nguyên nhân này có vai trò khác nhau đối với việc hình thành kết quả. Vì vậy trong các hoạt động thực tiễn chúng ta cần phải phân loại các nguyên nhân.

    Xét theo tính cơ bản của nguyên nhân, ta chia thành nguyên nhân cơ bản và nguyên nhân không cơ bản.

    Xét theo tính chủ yếu của nguyên nhân, ta chia thành nguyên nhân chủ yếu và nguyên nhân không chủ yếu.

    Một kết quả có thể do nhiều nguyên nhân sinh ra. Những nguyên nhân này có vai trò khác nhau đối với việc hình thành kết quả. Vì vậy trong các hoạt động thực tiễn chúng ta cần phải phân loại các nguyên nhân.

    Xét theo tính cơ bản của nguyên nhân, ta chia thành nguyên nhân cơ bản và nguyên nhân không cơ bản.

    Xét theo tính chủ yếu của nguyên nhân, ta chia thành nguyên nhân chủ yếu và nguyên nhân không chủ yếu.

    Xét theo tính tác động của nguyên nhân, ta chia thành nguyên nhân tích cực và nguyên nhân tiêu cực.

    Ngoài ra, ta còn có thể chia thành nguyên nhân bên trong, nguyên nhân bên ngoài; nguyên nhân chủ quan, nguyên nhân khách quan…

    Ta phải nắm được chiều hướng tác động của các nguyên nhân, từ đó có biện pháp thích hợp tạo điều kiện cho nguyên nhân có tác động tích cực đến hoạt động và hạn chế sự hoạt động của nguyên nhân có tác động tiêu cực.

    4. Ý nghĩa phương pháp luận

    Vì mối liên hệ nhân quả là mối liên hệ có tính khách quan, tính tất yếu nên trong nhận thức và thực tiễn không thể phủ nhận quan hệ nhân quả. Trong thế giới hiện thực, không thể tồn tại những sự vật, hiện tượng hay trong quá trình biến đổi không có nguyên nhân; và ngược lại, không có nguyên nhân nào không dẫn tới những kết quả nhất định. Nhưng không phải con người có thể nhận thức ngay được mọi nguyên nhân. 

    Nhiệm vụ của nhận thức khoa học là phải tìm ra nguyên nhân của những hiện tượng trong tự nhiên, xã hội và tư duy để giải thích được những hiện tượng đó. Muốn tìm nguyên nhân phải tìm trong thế giới hiện thực, trong bản thân các sự vật, hiện tượng tồn tại trong thế giới vật chất chứ không được tưởng tượng ra từ đầu óc của con người, tách rời thế giới hiện thực.

    Nguyên nhân sinh ra kết quả vì vậy nguyên nhân luôn có trước kết quả nên muốn tìm nguyên nhân của một hiện tượng nào đó cần tìm trong những sự kiện, những mối liên hệ xảy ra trước khi hiện tượng đó xuất hiện.

    Nguyên nhân sinh ra kết quả rất phức tạp, bởi vì nó còn phụ thuộc vào nhiều điều kiện và hoàn cảnh khác nhau. Một kết quả có thể do nhiều nguyên nhân sinh ra. Những nguyên nhân này có vai trò khác nhau đối với việc hình thành kết quả. Vì vậy trong hoạt động thực tiễn chúng ta cần phân loại các nguyên nhân, tìm ra nguyên nhân cơ, bản nguyên nhân chủ yếu, nguyên nhân bên trong, nguyên nhân bên ngoài, nguyên nhân chủ quan, khách quan... Đồng thời, phải nắm được chiều hướng tác động của các nguyên nhân, từ đó có biện pháp thích hợp tạo điều kiện cho nguyên nhân có tác động tích cực đến hoạt động và hạn chế sự hoạt động của nguyên nhân có tác động tiêu cực.

    Kết quả có tác động trở lại nguyên nhân. Vì vậy trong hoạt động thực tiễn chúng ta cần phải khai thác, tận dụng các kết quả đã đạt được để tạo điều kiện thúc đẩy nguyên nhân phát huy tác dụng.

    B. Vận dụng cặp phạm trù “Nguyên nhân và kết quả” để giải thích nguyên nhân của tình trạng tắc nghẽn giao thông các TP lớn ở Việt Nam 

    1. Thực trạng vấn đề ùn tắc giao thông tại Việt Nam

    Đất nước chúng ta đang ngày càng phát triển, cùng với đó là sự phát triển nhanh chóng của các đô thị lớn như Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Hải Phòng, ... Song song với sự phát triển đô thị ấy là sự gia tăng của người cũng như phương tiện di chuyển trong các thành phố lớn. Điều này đã gây ra tình trạng ùn tắc giao thông vô cùng nghiêm trọng tại các đô thị ở cả nước ta hiện nay.

    Ùn tắc giao thông vẫn đang là một vấn đề nan giải đối với các đô thị lớn trên thế giới trong đó có Việt Nam. Tình trạng ùn tắc sẽ dẫn tới nhiều hậu quả đáng tiếc nếu như không có biện pháp đúng đắn để giải tỏa vấn đề này.

    Tính đến nay, tình trạng ùn tắc của nước ta đang ở con số đáng báo động, hiện trạng ùn tắc đã đạt mức trở thành một trong những vấn nạn nhức nhối trong xã hội. Theo thống kê được báo cáo năm 2012, tình trạng ùn tắc ở nước ta vô cùng nghiêm trọng và phức tạp, đặc biệt là hai thành phố trọng điểm Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh. Cũng theo báo cáo trên, năm 2012, Hà Nội có sáu mươi bảy điểm ùn tắc trong khi đó thành phố Hồ Chí Minh sở hữu bảy mươi sáu điểm ùn tắc giao thông, gây ra nhiều hậu quả xấu. Đến năm 2014, tình trạng ùn tắc điểm được giảm thiểu thì tình trạng ùn tắc cục bộ lại diễn ra khiến cho người dân vô cùng bức xúc cũng như gây thiệt hại lớn tới nền kinh tế nước nhà. Theo thống kê của Cơ quan Hợp tác quốc tế Nhật Bản đáng giá, ùn tắc giao thông ở nước ta là vô cùng trầm trọng đặc biệt vào những giờ cao điểm như sáng sớm và chiều tối.

    Ở Hà Nội, một số tuyến đường chính, nội đô luôn thường xuyên lâm vào tình trạng tắc nghẽn kéo dài, trầm trọng như Đê La Thành, Minh Khai, Kim Liên, Giải Phóng, .... Tính từ năm 2008 đến nay, đã có hơn 1.379 vụ ùn tắc giao thông kéo dài trên một giờ đồng hồ, và trong đó, thủ đô Hà Nội góp 336 vụ, chiếm 24.4%, Sài Gòn là 227 vụ chiếm 16.5%, ...

    Điển hình như đường Lê Văn Lương kéo dài (nay gọi là đường Tố Hữu) khi mới được đưa vào sử dụng, người dân kỳ vọng có đường "thông, thoáng", giảm tải lưu lượng phương tiện cho đường Nguyễn Trãi, đại lộ Thăng Long. Tuy nhiên, hiện nay tuyến đường này là nỗi ám ảnh của các bác tài mỗi khi qua lại khu vực ngã tư Tố Hữu - Trung Văn, ùn tắc giao thông xảy ra thường xuyên, kể cả vào cuối

    Cũng như Thủ đô Hà Nội, ùn tắc giao thông - vấn nạn kẹt xe tại TP HCM, thành phố lớn nhất nước ngày càng hết sức nhức nhối, nan giải với hàng chục điểm đen. Điển hình như vòng xoay Lăng Cha Cả, kết nối trung tâm TP HCM với các quận, huyện ngoại thành (Q.10, 11, 12, Tân Phú, Bình Tân, Gò Vấp, Phú Nhuận, Bình Thạnh, huyện Hóc Môn) và là cửa ngõ quan trọng vào sân bay Tân Sơn Nhất. Với lưu lượng giao thông thường xuyên rơi vào hàng chục ngàn lượt người mỗi ngày, các cung giờ cao điểm thường phát sinh vào buổi sáng và cuối buổi chiều, trùng với thời điểm đi làm và tan sở của các cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp,…nằm tập trung ở vùng lõi của TP HCM (Q.1, 3, 5, 10, Phú Nhuận, Gò Vấp).

    Từ vòng xoay Lăng Cha Cả, tình trạng kẹt xe tiếp tục hành hạ cư dân thành phố qua các ngã ba giao cắt giữa đường Cộng Hòa và đường Tân Kỳ - Tân Quý; ngã tư Phú Nhuận; ngã tư Hoàng Hoa Thám; vòng xoay Nguyễn Thái Sơn; khu vực xung quanh đường dẫn vào các ga của sân bay Tân Sơn Nhất;… Khu vực vòng xoay Hàng Xanh; các cung đường xung quanh bến xe miền Đông và vòng xoay Điện Biên Phủ nằm ở trung tâm (Q.1, Q.Bình Thạnh) thường xuyên trong tình trạng di chuyển chậm, dù thành phố đã xây một cầu thép trên cao tại vòng xoay Hàng Xanh từ nhiều năm nay.

    2. Nguyên nhân dẫn đến tình trạng ùn tắc giao thông

    a. Nguyên nhân khách quan:

    * Sự gia tăng nhanh chóng lượng phương tiện tham gia giao thông:

    Với sự tăng trưởng nóng về kinh tế, quá trình đô thị hóa diễn ra quá nhanh , thiếu quy hoạch rõ ràng đã khiến gia tăng mạnh dân số cơ học, nhiều tòa nhà chung cư cao tầng mọc lên tại các trục đường lớn , tất yếu dẫn đến sự tăng nhanh về mật độ phương tiện tham gia giao thông . Chính sách giảm giá bán các phương tiện cá nhân của các công ty, tập đoàn cung cấp cũng là một nhân tố tác động tới hiện tượng này. Theo số liệu từ Phòng Cảnh sát Giao thông (CSGT) - Công an Hà Nội: “Số liệu đăng ký xe môtô trên 175cm3 đến thời điểm tháng 9/2019 là 9.470; xe môtô từ 50 - 175cm3 là 4.797.782; xe môtô dưới 50cm3 là 82.375, xe máy điện là 155.760 xe. Tổng số xe ôtô con là 485.900; ôtô khách là 47.446; ôtô chuyên dùng là 4.426; ôtô tải là 325.824 xe. Trong đó, đăng ký mới trung bình mỗi tháng là 4.000 ôtô; trên 16.000 xe máy.”

    Trong khi một mặt , hiện tượng này chứng tỏ thu nhập bình quân đầu người của nước ta đang tăng , đời sống người dân cũng đang được cải thiện rõ rệt ; nhưng mặt khác , việc gia tăng các phương tiện giao thông cá nhân , nhất là xe máy , cũng là một sức ép không nhỏ đè nặng lên hạ tầng giao thông của quốc gia .

    * Hệ thống giao thông đường bộ kém hoàn thiện:

    Quả thật không thể phủ nhận sự kém hoàn thiện của hệ thống giao thông đường bộ tại các đô thị lớn của nước ta. Nhiều nguyên nhân có thể được đưa ra để lý giải cho hiện tượng này như : do thiếu nguồn lực tài chính, do thiếu quy hoạch bài bản về phát triển giao thông, do không biết cách tận dụng lợi thế tự nhiên, do trình độ quản lý yếu kém,… Nhưng nguyên nhân quan trọng nhất là thiếu một sự quy hoach bài bản cho giao thông . Thực tế hiện nay, giao thông không phát triển tương xứng với kinh tế - xã hội, các thành phố lớn cũng có một tiềm lực tài chính ít nhất là dồi dào hơn so với mặt bằng chung cả nước, nhưng hạ tầng giao thông vẫn không được đầu tư và phát triển tương đương, chủ yếu là do quy hoạch thiếu đồng bộ ngay từ đầu.

    Đa phần các tuyến đường huyết mạch trong nội đô các thành phố lớn như Hà Nội, TP. HCM đều chung một hiện trạng: mặt đường hẹp, thiếu bãi đỗ xe, có nhiều nút giao thông chật hẹp, không có sự phân làn rõ ràng, quỹ đất dành cho giao thông còn quá ít, tầm nhìn ngắn hạn của đội ngũ quản lý giao thông,… Trong khi phương tiện cá nhân tăng nhanh chóng, thì sự chậm phát triển của hạ tầng giao thông đường bộ là một sự đối nghịch, dẫn đến hiện tượng tắc đường kéo dài nhiều năm ở nội đô các thành phố lớn nước ta.

    b. Nguyên nhân chủ quan:

    * Trình độ quản lý yếu kém của các cơ quan chức năng có thẩm quyền:

    Hiện tượng ùn tắc giao thông đã xuất hiện và tồn tại trong một khoảng thời gian rất dài (khoảng cuối những năm 90 của thế kỷ trước) ngay từ khi đất nước ta bắt đầu chứng kiến sự tăng trưởng kinh tế vượt bậc và mở cửa hội nhập quốc tế, thế nhưng cho đến hiện nay, chính quyền vẫn rất lúng túng trong việc giải quyết tình trạng này. Việc phân luồng giao thông ở những tuyến chưa hợp lý cũng như tình trạng thiếu đèn tín hiệu và các thiết bị điều khiển giao thông, sự bị động, chậm phản ứng của lực lượng cảnh sát giao thông khi chứng kiến tình trạng tắc đường là một minh chứng rõ nét.

    Trong khi đó, các chủ trương chính sách cũng chưa thực sự phát huy được tác dụng: Nhà nước trong khi một mặt, chưa quan tâm đúng mức đến phát triển hệ thống giao thông công cộng như xe bus, tàu điện ngầm, tàu trên cao...; làm cho hệ thống giao thông công cộng trở nên lạc hậu , lỗi thời so với sự phát triển của xã hội và kém hấp dẫn hơn hẳn nhu cầu, đòi hỏi của người dân, đi chậm hơn so với xu thế chung của thế giới cũng như khu vực, mặt khác, lại gần như “thả nổi", “làm ngơ” trước sự gia tăng “như vũ bão” của phương tiện giao thông cá nhân, không có bất cứ một chính sách, quy định nào nhằm hạn chế sự gia tặng lượng ô tô, xe máy vào khu vực nội đô. Từ đó, tình trạng giao thông ngày càng tồi tệ và khó kiếm soát.

    Hành lang pháp lý mặc dù cũng đã được hoàn thiện với Luật Giao thông đường bộ năm 2008 và các văn bản hướng dẫn thi hành liên quan khác, thế nhưng, các chế tài xử phạt vẫn chưa đủ sức răn đe, hơn nữa, sự vào cuộc của lực lượng chức năng nhiều Quận nội thành còn mang tính hình thức, chưa thực sự thay đổi được ý thức người dân, chưa thay đổi được căn bản thực trạng ùn tức giao thông này.

    * Ý thức tham gia giao thông kém của một bộ phận người dân:

    Quả thật không thể phủ nhận rằng, đây là nguyên nhân quan trọng nhất, quyết định nhất đến hiện trạng ùn tắc giao thông ở nước ta.

    Tình trạng lấn chiếm vỉa hè, lòng đường trở nên cực kỳ phổ biến tại các thành phố lớn của Việt Nam. Vỉa hè bị lấn chiếm để kinh doanh, phục vụ giải trí, hoặc thậm chí đôi lúc còn bị chính những lực lượng CSGT sử dụng để đỗ xe. Hệ quả là, người đi bộ buộc phải đi xuống lòng đường, vừa gây nguy hiểm cho chính họ, vừa góp phần làm cho giao thông bị ùn ứ, khó lưu thông, nhất là vào những giờ cao điểm.

    Sự tranh lấn làn đường của các phương tiện cá nhân tham gia giao thông cũng là một nguyên nhân quan trọng. Phần lớn các con đường lớn nhỏ trong nội thành các thành phố lớn nước ta đều không có sự phân làn riêng cho từng phương tiện, mà chủ yếu là kiểu “điền vào chỗ trống”, xe máy đi chung làn, tranh làn với ô tô,... Vào những giờ cao điểm, mọi người đều “không ai nhường ai”, đều cố gắng tranh cướp làn của các phương tiện khác để di chuyển, thậm chí còn sẵn sàng đi lên cả vỉa hè, lấn sang làn của xe ưu tiên, lạng lách qua đầu các phương tiện khác, v.v.. Tất cả những cách hành xử trên cho thấy: trình độ dân trí, văn hóa và văn minh khi tham gia giao thông của một số người vẫn còn rất thấp. Đồng thời, nó cũng là một nguyên nhân lớn dẫn đến sự tắc nghẽn giao thông vào giờ cao điểm ở các thành phố lớn nước ta.

    3. Hậu quả của việc ùn tắc giao thông

    3a. Hậu quả của tắc nghẽn giao thông ở 1 số thành phố hiện nay:

    * Tắc nghẽn giao thông gây ảnh hưởng xấu đến an toàn

    Những nơi ùn tắc thường rất ngột ngạt do có nhiều ô tô, xe máy chen chúc lại với nhau, khí thải (chủ yếu là NO2 và SO2) từ các loại phương tiện này thải ra được con người trực tiếp hít vào không chỉ gây ảnh hưởng tới hệ hô hấp mà còn ảnh hưởng đến tim mạch, tuần hoàn… Theo thống kê của Sở tài nguyên và môi trường, những tụ điểm ùn tắc có lượng khí thải độc hại gấp nhiều lần mức cho phép. Không chỉ có khói bụi mà còn vấn đề ô nhiễm tiếng ồn, an toàn giao thông vì những nơi ùn tắc mọi người thường xô đẩy, ai cũng muốn vượt lên trước, đi xe lên cả vỉa hè dành cho người đi bộ, khi đó, tai nạn giao thông rất dễ xảy ra.

    * Tắc nghẽn giao thông ảnh hưởng tới môi trường.

    Các phương tiện khi di chuyển trong tình trạng tắc nghẽn dường như chỉ đứng im một chỗ nhưng lại không tắt máy, cùng với khi động cơ hoạt động trong một thời gian dài sẽ tích tụ nhiều khí thải độc hại gây ô nhiễm môi trường.

    * Tắc nghẽn giao thông thiệt hại về kinh tế.

    Ùn tắc gây lãng phí thời gian và nhiên liệu trong khi thời gian và nhiên liệu đó lại có thể được dùng với mục đích tốt hơn. Ước tính mỗi năm thiệt hại hơn 30 ngàn tỉ đồng do nghẽn tắc giao thông. Thời gian đi lại của người dân ước tính thiệt hại 1 triệu giờ/năm

    * Tắc nghẽn giao thông ảnh hưởng tới tâm lí, tinh thần.

    Khi phải lưu thông trên các tuyến đường chật trội, người lái xe luôn phải chịu đựng sự đông đúc, tiếng còi xe, động cơ inh ỏi, khói bụi, chậm giờ làm, nóng nực… dễ khiến trở nên bực bội, hấp tấp hơn, căng thẳng hơn, dễ nổi nóng, chửi thề với người khác hay cãi lộn với người đi xung quanh.

    3b. Hậu quả tác động trở lại nguyên nhân:

    * Tắc đường dẫn đến sự gia tăng nhanh chóng của phương tiện giao thông:

    Khi tắc đường, mọi người luôn phải chen chúc chật chội và khó di chuyển lúc này di chuyển bằng xe gắn máy sẽ nhanh chóng và tiện lợi hơn di chuyển bằng ô tô vì xe máy có thể len lỏi vào các khe hở, lạng lách sao cho kịp giờ và thoát khỏi đám đông. Với việc giá thành của xe máy rẻ hơn rất nhiều so với ô tô, mọi người thường có xu hướng và nhu cầu mua xe máy. Cũng do tắc đường nên hầu như cách phương tiện công cộng như bus thường đến rất trễ khiến nhân viên muộn giờ làm, học sinh muộn giờ học nên để chủ động về thời gian, mọi người luôn muốn sở hữu một phương tiện riêng để thuận tiện cho di chuyển.

    * Tắc đường dẫn đến hệ thống giao thông đường bộ kém phát triển:

    Tắc đường luôn tạo ra áp lực lớn cho cả người dân và cơ quan chức năng. Tắc đường là tình trạng tồn tại bấy lâu nay mà vẫn chưa tìm ra được biện pháp giải quyết hiệu quả. Hơn nữa, lượng người đổ về các đô thị ngày càng nhiều dẫn đến tình trạng tắc đường ngày càng nghiêm trọng hơn. Chính tình trạng tắc đường lại là nguyên nhân khiến hệ thống giao thông đường bộ nước ta thuộc vào hãng ngũ những nước có hệ thống giao thông đường bộ kém phát triển nhất.

    * Tắc đường dẫn đến ý thức tham gia giao thông của người dân kém đi:

    Khi tắc đường, tâm lí và tâm trạng của người đi đường rất dễ bị nổi nóng, bực bội, luôn chỉ muốn thật nhanh để thoát ra khỏi đám đông, gây nên tình trạng lạng lách, chen lấn, xô đẩy, vượt đèn đỏ, đi lên cả vỉa hè gây nguy hiểm cho những người xung quanh và người đi bộ trên vỉa hè.

    4. Phương hướng giải quyết

    * Phân luồng giao thông một cách hợp lý:

    Với phương châm phát huy hiệu quả cao nhất những cơ sở vật chất hiện có, đồng thời bổ sung đầu tư một số khâu chủ yếu trong hệ thống giao thông đô thị. Phân luồng giao thông sao cho hợp lý, khoa học nhằm tháo tỡ những ách tắc giao thông không đáng có mà nội dung chính là quy hoạch lại luồng tuyến xe buýt, mạng lưới đường bộ, đường sắt ở thành phố. Một số tuyến đường chỉ đi một chiều, thiết lập bằng được tuyến đường dành cho xe tải để tiến tới cấm không cho xe tải có sức chở hơn 2,5 tấn lưu thông trong nội thành giê cao điểm. Kiên quyết cấm xe 3 bánh chở hàng cồng kềnh chạy trong giê cao điểm.

    Giải pháp điều khiển giao thông sẽ hỗ trợ đắc lực giải pháp phân luồng giao thông: Việc làm đầu tiên là hoàn thiện, bổ sung hệ thống biển báo giao thông, đặc biệt là xây dựng hệ thống báo hiệu vị trí thường xẩy ra ùn tắc giao thông để giảm lượng xe đi vào, và các chốt đèn có tín hiệu giây chạy lùi và phát tín hiệu còi khi đèn chuyển màu. Cần đẩy nhanh tiến độ xây dựng trung tâm điều khiển giao thông bằng camera, lắp đặt tại các nót trọng điểm để kịp thời có biện pháp xử lý khi có triệu chứng.

    Thành phố Hà Nội đã và đang gấp rút triển khai xây dựng các nót giao thông ngã tư sở , xây dựng hàng loạt dải ngăn cách đường bộ …

    * Lập lại kỉ cương quản lý đô thị:

    Đối với những chợ tự phát cần phải giải toả và khuyến khích di dời vào các nhà lồng chợ, xe các chợ đầu mối ở ngoại thành để giảm mật độ lưu thông ở nội bộ. Lập lại trật tự lòng lề đường, vỉa hè, đầu cầu. Tăng cường hiệu lực cưỡng chế của các lực lượng bảo vệ pháp luật và trật tự an toàn giao thông đường bộ và trật tự đô thị cũng là 1 giải pháp quan trọng.

    * Tác động vào ý thức ngươi dân:

    Tuyên truyền giáo dục người nông dân nâng cao ý thức cộng đồng chấphành luật lệ giao thông và quy tắc quản lý trật tự đô thị. Phát động những phong trào quần chúng trong thanh niên, học sinh phối hợp với lực lượng cảnh sát giao thông để giữ gìn trật tự giao thông tại các điểm nót. Giải quyết nạn ùn tắc giao thông ở các khu vực đông người qua lại trong giê cao điểm nh trường học, bệnh viện, chợ, khu vực chơi giải trí.

    KẾT LUẬN

    Mỗi người với mỗi cá tính độc lập riêng biệt sẽ có cách tư duy và đánh giá khác nhau. Trên đây là tổng hợp cách nhìn của mỗi thành viên Nhóm 3 về vấn đề ùn tắc giao thông qua lăng kính cặp phạm trù NN-KQ cùng ý nghĩa PPL. Bằng tri thức tiếp thu từ bài giảng, sách vở cũng như những tìm hiểu từ thực tế đời sống, chúng tôi xin khẳng định ùn tắc giao thông là vấn đề mang tính triết học, cần được phân tích, nghiên cứu một cách nghiêm túc và cụ thể. Những thực trạng, nguyên nhân, kết quả cũng như phương hướng trong bài luận này mang tính chất định hướng, là cái nhìn có lẽ chưa thực sự sâu sắc nhưng đều rất tâm huyết, với mong muốn bày tỏ quan điểm, góp phần nhanh chóng giải quyết nạn ùn tắc giao thông tại các thành phố lớn ngày nay. Vẫn biết rằng vấn đề này không thể ngày một ngày hai mà thông suốt, nhưng, vẫn theo tư duy triết học, mọi thứ cần xuất phát tự cội nguồn, từ ý thức. Muốn cải thiện nạn tắc đường trước hết vẫn cần thay đổi ý thức người tham gia giao thông, ý thức tìm phương hướng giải quyết cũng như ý thức cao trong văn hóa giao thông. Mọi lí thuyết đều màu xám, chỉ có cây đời mãi mãi xanh tươi. Nhưng biết kết hợp tư duy lí thuyết vào thực tiễn sẽ mang đến một kết quả bất ngờ. Một ngày không xa, người dân sẽ phải buồn bã nhìn nhau mà nói rằng “Lâu lắm rồi không tắc đường cứ thấy thiếu thiếu, nhớ nhớ một điều gì...”

    Trong quá trình hoàn thiện bài tập, do vẫn còn nhiều hạn chế về kiến thức và kinh nghiệm nên không thể tránh khỏi những khiếm khuyết, kính mong sẽ nhận được sự nhận xét và đóng góp ý kiến từ phía các thầy cô trong tổ bộ môn để bài làm của chúng em được hoàn thiện hơn.

    Chúng em xin chân thành cảm ơn!

    Xem thêm: TỔNG HỢP BÀI TẬP NHÓM - BÀI TẬP LỚN - BÀI TẬP CÁ NHÂN - TIỂU LUẬN CÁC MÔN HLU

    Nếu bạn thấy những chia sẻ của mình hữu ích thì có thể donate ủng hộ mình 01 ly trà sữa nha: BIDV 4603463395

    Continue Reading


    A. PHẦN MỞ ĐẦU

    Nhà nước và pháp luật là đối tượng nghiên cứu của nhiều bộ môn khoa học xã hội. Muốn hiểu rõ bản chất của nhà nước và pháp luật và những quy luật phát triển của chúng, trước hết cần phải làm sáng tỏ nguyên nhân và giải thích quá trình phát sinh của nhà nước và pháp luật. Việc nghiên cứu về nhà nước và pháp luật không thể hạn chế trong lĩnh vực các khái niệm pháp lý thuần túy mà phải đặt trên cơ sở của hệ thống các tri thức khoa học chung, phải dựa vào lý luận và phương pháp luận của nhiều bộ môn khoa học khác nhau, trong đó có Triết học.

    Vì thế, sau đây em xin trình bày về đề tài: Vận dụng nội dung và ý nghĩa phương pháp luận của “nguyên lý về mối liên hệ phổ biến” để lý giải về sự ra đời của nhà nước và pháp luật.

    B. NỘI DUNG

    I. Cơ sở lý luận: Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến

    1. Khái niệm mối liên hệ

    Các sự vật, các hiện tượng và các quá trình khác nhau của thế giới có mối liên hệ qua lại, tác động, ảnh hưởng lẫn nhau hay chúng tồn tại biệt lập, tách rời nhau? Nếu chúng có mối liên hệ qua lại thì cái gì quy định mối liên hệ đó?

    Trong lịch sử triết học, để trả lời cho những câu hỏi đó, ta thấy có nhiều quan điểm khác nhau, đứng trên các lập trường khác nhau.

    Đứng trên quan điểm biện chứng, để trả lời cho câu hỏi thứ nhất, người ta cho rằng, các sự vật, hiện tượng, các quá trình khác nhau vừa tồn tại độc lập, vừa quy định, tác động qua lại, chuyển hóa lẫn nhau. Trả lời cho câu hỏi thứ hai, người theo quan điểm duy vật biện chứng khẳng định tính thống nhất vật chất của thế giới là cơ sở của mối liên hệ giữa các sự vật, hiện tượng. Các sự vật, hiện tượng tạo thành thế giới, dù có đa dạng, phong phú, có khác nhau bao nhiêu, song chúng đều chỉ là những dạng khác nhau của một thế giới duy nhất, thống nhất – thế giới vật chất. Nhờ có tính thống nhất đó, chúng không thể tồn tại biệt lập, tách rời nhau, mà tồn tại trong sự tác động qua lại, chuyển hóa lẫn nhau theo những quan hệ xác định. Chính trên cơ sở đó, triết học duy vật biện chứng khẳng định rằng, liên hệ là phạm trù triết học dùng để chỉ sự quy định, sự tác động qua lại, sự chuyển hóa lẫn nhau gữa các sự vật, hiện tượng hay giữa các mặt của một sự vật, của hiện tượng trong thế giới.

    2. Các tính chất của mối liên hệ

    Theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng, mối liên hệ có ba tính chất cơ bản: tính khách quan, tính phổ biến và tính đa dạng, phong phú.

    Tính khách quan của mối liên hệ biểu hiện: các mối liên hệ là vốn có của mọi sự vật, hiện tượng; nó không phụ thuộc vào ý thức của con người.

    Tính phổ biến của mối liên hệ biểu hiện: bất kỳ một sự vật, hiện tượng nào; ở bất kỳ không gian nào và ở bất kỳ thời gian nào cũng có mối liên hệ với những sự vật, hiện tượng khác. Ngay trong cùng một sự vật, hiện tượng thì bất kỳ một thành phần nào, một yếu tố nào cũng có mối liên hệ với những thành phần, yếu tố khác.

    Tính đa dạng, phong phú của mối liên hệ biểu hiện: sự vật khác nhau, hiện tượng khác nhau, không gian khác nhau, thời gian khác nhau thì mối liên hệ biểu hiện khác nhau. Có thể chia các mối liên hệ thành nhiều loại: mối liên hệ bên trong, mối liên hệ bên ngoài, mối liên hệ chủ yếu, mối liên hệ thứ yếu,… Các mối liên hệ này có vị trí, vai trò khác nhau đối với sự tồn tại và vận động của sự vật, hiện tượng.

    Sự phân chia từng cặp mối liên hệ chỉ mang tính tương đối, vì mỗi loại mối liên hệ chỉ là một hình thức, một bộ phận, một mắt xích của mối liên hệ phổ biến. Mỗi loại mối liên hệ trong từng cặp có thể chuyển hóa lẫn nhau tùy theo phạm vi bao quát của mối liên hệ hoặc do kết quả vận động và phát triển của chính các sự vật. Tuy sự phân chia thành các loại mối liên hệ chỉ mang tính tương đối nhưng sự phân chia đó lại rất cần thiết, bởi vì mỗi loại mối liên hệ có vị trí và vai trò xác định trong sự vận động và phát triển của sự vật. Con người phải nắm bắt đúng các mối liên hệ đó để có cách tác động phù hợp nhằm đưa lại hiệu quả cao nhất trong hoạt động của mình.

    Phép biện chứng duy vật nghiên cứu các mối liên hệ phổ biến chi phối sự vận động và phát triển của sự vật, hiện tượng.

    3. Ý nghĩa phương pháp luận

    Nghiên cứu nguyên lý về mối liên hệ phổ biến có thể rút ra ý nghĩa về phương pháp luận sau:

    - Vì các mối liên hệ là sự tác động qua lại, chuyển hóa, quy định lẫn nhau giữa các sự vật, hiện tượng và các mối liên hệ mang tính khách quan, mang tính phổ biến nên trong hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn con người phải tôn trọng quan điểm toàn diện, phải tránh cách xem xét phiến diện.

    Quan điểm toàn diện đòi hỏi chúng ta nhận thức về sự vật trong mối liên hệ qua lại giữa các bộ phận, giữa các yếu tố, giữa các mặt của chính sự vật và trong sự tác động qua lại giữa sự vật đó với các sự vật khác, kể cả mối liên hệ trực tiếp và mối liên hệ gián tiếp. Chỉ trên cơ sở đó mới có thể nhận thức được đúng về sự vật.

    Đồng thời, quan điểm toàn diện đòi hỏi chúng ta phải biết phân biệt từng mối liên hệ, phải biết chú ý tới mối liên hệ bên trong, mối liên hệ bản chất, mối liên hệ chủ yếu, mối liên hệ tất nhiên và lưu ý đến sự chuyển hóa lẫn nhau giữa các mối liên hệ để hiểu rõ bản chất của sự vật và có phương pháp tác động phù hợp nhằm đem lại hiệu quả cao nhất trong hoạt động của bản thân.

    Trong hoạt động thực tế, theo quan điểm toàn diện, khi tác động vào sự vật, chúng ta không những phải chú ý tới những mối liên hệ nội tại của nó mà còn phải chú ý tới những mối liên hệ của sự vật ấy với các sự vật khác. Đồng thời, chúng ta phải biết sử dụng đồng bộ các biện pháp, các phương tiện khác nhau để tác động nhằm đem lại hiệu quả cao nhất. Để thực hiện mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”, một mặt chúng ta phải phát huy nội lực của đất nước ta; mặt khác, phải biết tranh thủ thời cơ, vượt qua thử thách do xu hướng quốc tế hóa mọi lĩnh vực của đời sống xã hội và toàn cầu hóa kinh tế đưa lại.

    - Vì các mối liên hệ có tính đa dạng, phong phú – sự vật, hiện tượng khác nhau, không gian, thời gian khác nhau, các mối liên hệ biểu hiện khác nhau nên trong hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn con người phải tôn trọng quan điểm lịch sử - cụ thể.

    Quan điểm lịch sử - cụ thể đòi hỏi chúng ta khi nhận thức về sự vật và tác động vào sự vật phải chú ý điều kiện, hoàn cảnh lịch sử - cụ thể, môi trường cụ thể trong đó sự vật sinh ra, tồn tại và phát triển. Thực tế cho thấy rằng, một luận điểm nào đó là luận điểm khoa học trong điều kiện này, nhưng sẽ không là luận điểm khoa học trong điều kiện khác. Vì vậy, để xác định đúng đường lối, chủ trương của từng giai đoạn cách mạng, của từng thời kỳ xây dựng đất nước, bao giờ Đảng ta cũng phai phân tích tình hình cụ thể của đất nước ta cũng như bối cảnh lịch sử quốc tế diễn ra trong từng giai đoạn và từng thời kỳ đó và trong khi thực hiện đường lối, chủ trương, Đảng ta cũng bổ sung và điều chỉnh cho phù hợp với diễn biến của hoàn cảnh cụ thể.

    II. Vận dụng nội dung và ý nghĩa phương pháp luận của “nguyên lý về mối liên hệ phổ biến” để lý giải về sự ra đời của nhà nước và pháp luật.

    1. Khái niệm và đặc trưng của nhà nước

    Nhà nước là hiện tượng xã hội rất đa dạng và phức tạp, được nhiều ngành khoa học nghiên cứu ở nhiều góc độ, phạm vi khác nhau. Do xuất phát từ những góc độ nghiên cứu khác nhau, năng lực nhận thức khác nhau, lại bị chi phối bởi yếu tố lợi ích, quan điểm chính trí,… vì vậy có nhiều quan niệm khác nhau về nhà nước.

    Theo Giáo trình Lý luận chung về Nhà nước và Pháp luật, Đại học Luật Hà Nội, có thể định nghĩa: Nhà nước là tổ chức quyền lực đặc biệt của xã hội, bao gồm một lớp người được tách ra từ xã hội để chuyên thực thi quyền lực, nhằm tổ chức và quản lý xã hội, phục vụ lợi ích chung của toàn xã hội cũng như lợi ích của lực lượng cầm quyền.

    So với các tổ chức xã hội khác, Nhà nước có những đặc trưng sau đây: 

    - Nhà nước có quyền lực đặc biệt (quyền lực nhà nước).

    - Nhà nước thực hiện việc quản lí dân cư theo lãnh thổ. 

    - Nhà nước thực thi chủ quyền quốc gia. 

    - Nhà nước ban hành pháp luật, dùng pháp luật làm công cụ quản lý xã hội.

    - Nhà nước quy định và thực hiện việc thu thuế, phát hành tiền.

    2. Khái niệm và đặc trưng của pháp luật

    Pháp luật cũng là một khái niệm phức tạp, trải qua các thời đại và ở các khu vực trên thế giới, những vấn đề như bản chất, nguồn gốc, vai trò, phạm vi điều chỉnh của pháp luật… được nhận thức một cách khác nhau.

    Ở Việt Nam hiện nay, trong giáo trình của các cơ sở đào tạo và sách báo pháp lí đều nhìn nhận pháp luật dưới góc độ pháp luật thực định. Từ đó có thể hiểu: Pháp luật là hệ thống các quy tắc xử sự chung do nhà nước đặt ra hoặc thừa nhận và bảo đảm thực hiện để điều chỉnh các quan hệ xã hội theo mục đích, định hướng của nhà nước.

    Pháp luật có các đặc trưng cơ bản sau:

    - Pháp luật có tính quyền lực nhà nước.

    - Pháp luật có tính quy phạm phổ biến.

    - Pháp luật có tính hệ thống.

    - Pháp luật có tính xác định về hình thức.

    3. Nguồn gốc của nhà nước

    Xuất phát từ những quan niệm khác nhau về nhà nước, dẫn đến có nhiều cách giải thích khác nhau về nguồn gốc của nhà nước.

    Các nhà tư tưởng theo thuyết thần học cho rằng, nhà nước là do thượng đế sáng tạo ra. Thượng đế sáng tạo ra con người, sáng tạo ra thế giới, đồng thời sáng tạo ra nhà nước để cai quản con người. Quyền lực nhà nước là do thượng đế ban cho, nhà vua là thiên tử, là sứ giả của thần linh, thay mặt cho thượng đế cai quản xã hội.

    Các nhà tư tưởng theo thuyết gia trưởng coi nhà nước là kết quả của sự phát triển gia đình, nhà nước có trong mọi xã hội. Trong mỗi gia đình đều có người gia trưởng đứng đầu làm nhiệm vụ cai quản gia đình, nhà nước được xem như người đứng đầu xã hội, thực hiện việc cai quản xã hội.

    Thuyết khế ước xã hội giải thích nguồn gốc nhà nước bắt đầu từ xã hội. Nhà nước ra đời do xã hội giao ước, nhà nước thay mặt xã hội quản lý để giữ cho xã hội trật tự. Nếu nhà nước không hoàn thành nhiệm vụ, xã hội sẽ phế truất nhà nước, lập nên nhà nước khác.

    Theo quan điểm chủ nghĩa Mác-Lênin, chế độ cộng sản nguyên thủy là thời kì chưa có nhà nước. Khi mới thoát thai khỏi động vật, con người tụ tập thành từng bầy gọi là bầy người nguyên thủy. Trải qua quá trình phát triển lâu dài, dưới tác động của của nhiều yếu tố, con người dần dần liên kết thành tổ chức thị tộc, bộ lạc… Trong thị tộc duy trì chế độ sở hữu chung, lao động chung và phân phối bình quân. Trong thị tộc không có kẻ giàu, người nghèo, quan hệ giữa người với người là bình đẳng. Người đứng đầu thị tộc không có đặc quyền, đặc lợi gì, họ cùng chung sống, lao động và hưởng thụ như mọi thành viên khác trong thị tộc. Tổ chức thị tộc, bộ lạc tồn tại trong một thời kì lịch sử nhất định rồi dần dần thoái hóa và tan rã. Theo Ăng-ghen có hai nguyên nhân cơ bản làm cho tổ chức thị tộc, bộ lạc tan rã, nhà nước xuất hiện đó là nguyên nhân kinh tế và nguyên nhân xã hội.

    Về nguyên nhân kinh tế, sự phát triển của công cụ lao động làm cho năng suất lao động ngày càng được nâng cao, dần dần đủ cho tiêu dùng và có dư thừa. Một số người trong xã hội có sức mạnh hoặc nắm quyền lực mà xã hội giao cho sử dụng quyền lực ấy chiếm của dư thừa thành của riêng, làm nảy sinh mầm mống của chế độ tư hữu. Cũng do sự phát triển của công cụ lao động đã làm cho sản xuất có thể tiến hành riêng mà không cần phải tiến hành chung theo cả cộng đồng. Do vậy, tư liệu sản xuất của cộng đồng dần được chia nhỏ để tiến hành sản xuất riêng theo mỗi gia đình. Dần dần, tư liệu sản xuất chung của cả cộng đồng trở thành sở hữu riêng trong các gia đình, họ có thể đem bán, trao đổi hay để lại cho con cháu kế thừa.

    Về nguyên nhân xã hội, cùng với sự xuất hiện của chế độ tư hữu, xã hội có sự phân chia thành các giai cấp, có lợi ích đối lập nhau. Do nhu cầu sức lao động ngày càng tăng, tù binh trong các cuộc xung đột giữa các thị tộc trước kia thường bị giết, giờ đây được giữ lại làm nô lệ. Nô lệ trở thành sở hữu trong các gia đình như các loại tài sản khác. Khi phân hóa giàu nghèo trở nên rõ nét, sự tương trợ giữa các gia đình dần mất đi, thay vào đó là cho vay nặng lãi và cầm cố tài sản… Tất cả những yếu tố đó làm cho của cải ngày càng tích tụ và tập trung và trong tay một số ít người, đồng thời thúc đẩy sự bần cùng hóa của số đông người khác. Xã hội thị tộc dần dần bị phân hóa thành các giai cấp, tầng lớp khác nhau, những người giàu có hợp thành tầng lớp quý tộc, chiếm hữu nhiều ruộng đất, của cải,… những người nghèo khổ chiếm số đông trong xã hội do mất dần của cải và tư liệu sản xuất, cuối cùng rơi vào tình trạng bị lệ thuộc vào tầng lớp trên và bị tầng lớp này áp bức, bóc lột nặng nề. Mâu thuẫn và đấu tranh giai cấp vì thế đã xuất hiện và ngày càng trở nên sâu sắc.

    Mâu thuẫn xã hội ngày càng gia tăng, đấu tranh giai cấp ngày càng gay gắt, tổ chức thị tộc, bộ lạc ngày càng trở nên bất lực, không thể đảm nhiệm vai trò tổ chức và quản lý các công việc chung của cộng đồng. Trong hoàn cảnh đó, nhà nước từng bước được hình thành. Nhà nước xuất hiện để tổ chức và quản lý các công việc chung của cộng đồng, những công việc mà trước đây do thị tộc và bộ lạc đảm nhiệm. Đồng thời, nhà nước xuất hiện còn để làm dịu bớt xung đột giai cấp, giữ cho xung đột đó trong vòng “trật tự”, làm cho “những giai cấp có quyền lợi đối lập nhau đó không đi đến chỗ tiêu diệt lẫn nhau và tiêu diệt luôn cả xã hội” . Nhà nước xuất hiện bởi nhu cầu khách quan của đời sống, nhu cầu tổ chức đời sống chung, đảm bảo trật tự chung. Nhà nước ra đời từ yêu cầu phải kiềm chế những đối kháng giai cấp, nhưng vì nhà nước đồng thời cũng ra đời giữa cuộc xung đột của các giai cấp ấy, cho nên, nó là nhà nước của giai cấp có thế lực nhất, giai cấp thống trị về kinh tế và giai cấp này nhờ có nhà nước, mà trở thành giai cấp thống trị về mặt chính trị và do đó có thêm những thủ đoạn mới để trấn áp và bóc lột giai cấp bị áp bức. 

    4. Nguồn gốc của pháp luật

    Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin, pháp luật ra đời cùng với sự ra đời của nhà nước. Những nguyên nhân dẫn đến sự ra đời của nhà nước cũng chính là những nguyên nhân dẫn đến sự ra đời của pháp luật.

    Trong xã hội cộng sản nguyên thủy chưa có nhà nước nên cũng chưa có pháp luật. Để hướng dẫn cho cách xử sự của con người, xã hội nguyên thủy sử dụng phong tục tập quán, đạo đức, tín điều tôn giáo… Các quy tắc xử sự này hình thành một cách tự phát trong cộng đồng trên cơ sở điều kiện kinh tế xã hội cụ thể lúc bấy giờ. Khi điều kiện kinh tế, xã hội thay đổi, trong xã hội xuất hiện các quan hệ xã hội mới, tương đối đa dạng, phức tạp mà các quy tắc đạo đức, phong tục tập quán… không điều chỉnh hết hoặc điều chỉnh không có hiệu quả hoặc không thể điều chỉnh được. Trong điều kiện đó, nhà nước xuất hiện, để tổ chức, quản lý đời sống xã hội phức tạp đó, nhà nước từng bước làm xuất hiện một loại quy tắc ứng xử mới, đó chính là pháp luật. Thông qua nhà nước, pháp luật hình thành bằng các con đường, một là, nhà nước thừa nhận các quy tắc xử sự có sẵn trong xã hội nhưng phù hợp với ý chí của nhà nước, nâng chúng lên thành pháp luật; hai là, nhà nước thừa nhận giải quyết các vụ việc cụ thể trong thực tế, sử dụng làm khuôn mẫu để giải quyết các vụ việc khác có tính tương tự; ba là, nhà nước đặt ra các quy tắc xử sự mới.

    Pháp luật xuất hiện một cách khách quan, là sản phẩm của sự phát triển tự nhiên của đời sống xã hội. Nhà nước không sinh ra pháp luật, trong sự hình thành pháp luật nhà nước chỉ có vai trò như người “bà đỡ”, nhà nước chỉ làm cho pháp luật “hiện diện” trong đời sống với những hình thức xác định.

    5. Mối quan hệ biện chứng giữa nguồn gốc nhà nước và pháp luật

    Nhà nước và pháp luật là hai thành tố của thượng tầng chính trị - pháp lý, luôn có mối quan hệ khăng khít, không thể tách rời. Cả hai hiện tượng pháp luật và nhà nước đều có chung nguồn gốc, cùng phát sinh và phát triển. Nhà nước không thể tồn tại và phát huy quyền lực nếu thiếu pháp luật; ngược lại pháp luật chỉ phát sinh, tồn tại và có hiệu lực khi dựa trên cơ sở sức mạnh của quyền lực nhà nước. Khi xem xét các vấn đề nhà nước và pháp luật, phải đặt chúng trong mối quan hệ tác động qua lại lẫn nhau.

    Về phương diện lịch sử, nhà nước và pháp luật tuy cùng nguyên nhân xuất hiện song không phải hoàn toàn đồng nhất. Xuất hiện như một tất yếu lịch sử, cả nhà nước và pháp luật đều là cái cần phải có để đáp ứng nhu cầu xã hội song những thuộc tính, đặc điểm của pháp luật thì mãi dần về sau mới khẳng định được. Chính những nhu cầu của xã hội mà trước hết là kinh tế đã đặt cơ sở cho sự ra đời của nhà nước và pháp luật. Ngoài nguyên nhân kinh tế, sự hình thành nhà nước và pháp luật còn chịu sự tác động mạnh mẽ của các nhân tố xã hội khác như tôn giáo, dân tộc, văn hóa, đạo đức, tư tưởng… Nếu như nhà nước xuất hiện như một tất yếu để duy trì trật tự xã hội thì pháp luật xác lập cơ chế pháp lí để đạt được mục đích này. Từ thời điểm xuất hiện, nhà nước và pháp luật đã có mối liên hệ nội tại, logic, cùng vận động và phát triển, sự tồn tại biệt lập của chúng là điều không thể xảy ra.

    Khi ta nói pháp luật và nhà nước là “hai người bạn đồng hành” cùng ra đời, điều đó xét về mặt logic tổng thể là đúng song thực ra là một cách nói ước lệ để khẳng định mối quan hệ biện chứng không thể thiếu nhau của chúng mà thôi. Trên thực tế, sự hình thành pháp luật xét về thời gian là muộn hơn nhà nước. Nhiều nơi phải mất hàng thế kỉ, nhà nước mới đưa ra những bộ luật thành văn. Mà các bộ luật đầu tay đó thực chất là những bộ tổng luật bao gồm các quy tắc do nhà nước đặt ra, các quy tắc tôn giáo, đạo đức, tập quán phong tục của thời tiền giai cấp cùng với việc tổng hợp nhiều lĩnh vực pháp luật công và tư.

    III. Nguồn gốc sự ra đời nhà nước và pháp luật ở Việt Nam

    1. Sự ra đời nhà nước

    Từ thuở xa xưa, nhân dân ta đã lưu truyền những huyển thoại về thời Hùng Vương – thời đại hình thành nhà nước đầu tiên trong lịch sử Việt Nam. Dựa vào truyền thuyết dân gian và thư tịch cổ Trung Hoa, nhiều học giả trung và cận đại đã phác họa được một phần bức tranh thời đại Hùng Vương tồn tại khoảng 2000 năm (từ thiên kỉ II TCN đến thế kỉ I-II TCN) ở khu vực Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ ngày nay.

    Vào đầu thời kì Hùng Vương, hay giai đoạn Phùng Nguyên, công cụ bằng đá vẫn hoàn toàn chiến ưu thế, hái lượm, trồng trọt, làm nương rẫy vẫn là chủ yếu so với chăn nuôi và làm nghề thủ công. Qua các giai đoạn Đồng Đậu, Gò Mun, nhất là Đông Sơn, công cụ lao động đã có những bước tiến lớn, chủ yếu là công cụ bằng đồng thau và bắt đầu xuất hiện công cụ bằng sắt. Bước chuyển từ nền nông nghiệp dùng cuốc sang dùng cày đã góp phần nâng cao năng suất lao động và nền kinh tế nhiều ngành nghề ngày càng phát triển. Hái lượm và săn bắt vẫn tồn tại nhưng bị đẩy xuống hàng thứ yếu. Trồng trọt, chăn nuôi và các nghề thủ công phát triển mạnh.

    Sự phát triển của sức sản xuất và kinh tế đã tạo ra sản phẩm thăng dư trong xã hội, từ đó tác động trực tiếp tới phân hóa xã hội, thể hiện nổi bật ở ba hiện tượng:

    Một là vào cuối thời Hùng Vương, những gia đình nhỏ đã ra đời và trở thành tế bào kinh tế xã hội, đồng thời chế độ mẫu hệ cũng chuyển sang chế độ phụ hệ. Những truyền thuyết Sơn Tinh-Thủy Tinh, Chử Đồng Tử-Tiên Dung, trầu cau… đều phản ánh tập tục cư trú bên nhà chồng – hình thức hôn nhân phụ hệ của gia đình nhỏ.

    Hai là sự hình thành và tồn tại bền vững của công xã nông thôn với chế độ sở hữu chung về ruộng đất. Trong công xã nông thôn, tuy ruộng đất vẫn thuộc quyền sở hữu công xã nhưng đã được chia cho các thành viên công xã, những gia đình nhỏ để canh tác và các thành viên được quyền sở hữu sản phẩm lao động của mình.

    Ba là xã hội người Việt cổ bị phân hóa thành các tầng lớp người khác nhau về địa vị kinh tế-xã hội. Theo truyền thuyết dân gian được tập hợp trong Lĩnh Nam chích quái và thư tịch cổ, trong xã hội thời Hùng Vương có lớp người thống trị gồm Hùng Vương, lạc hầu, lạc tướng, bồ chính, quan lang, mị nương… và lớp người lao động thấp kém gọi là thần bộc nữ lệ hay nô tì… Ngoài ra còn có dân Lạc – một lớp dân cư đông đảo trong xã hội, những thành viên của công xã nông thôn. 

    Cuối thời Hùng Vương, sự phân hóa xã hội tuy chưa tới mức cao nhưng cùng với sự phát triển kinh tế đã tạo nên tiền đề vật chất cần thiết cho khả năng ra đời của nhà nước. Ngoài ra, yếu tố thủy lợi và tự vệ đã có những tác động mạnh mẽ, thúc đẩy quá trình hình thành nhà nước sớm hơn trên cơ sở phân hóa xã hội là tiền đề vật chất không thể thiếu được nhưng chưa thật chín muồi. Điều này có thể được chứng minh qua truyền thuyết Sơn Tinh-Thủy Tinh và Thánh Gióng.

    Qua đó, có thể giải thích sự ra đời sớm hơn của nhà nước như sau:

    Một là cơ cấu tổ chức trong chế độ công xã nguyên thủy không thể đảm đương nổi công việc lớn lao trong tự vệ và trị thủy mà đòi hỏi phải có một loại cơ cấu tổ chức mới, đó là nhà nước. Nhà nước là cơ cấu tổ chức rộng lớn bao trùm toàn xã hội và chặt chẽ nhất; nhà nước có khả năng cưỡng chế, có phương tiện tổ chức và quản lí đặc trưng là pháp luật. Vì vậy, nhà nước có khả năng huy động lực lượng lớn sức người, sức của để thực hiện công cuộc đấu tranh để tự về và trị thủy.

    Hai là, các thủ lĩnh ngày càng có địa vị và có vai trò quan trọng trong xã hội, quyền lực và tài sản của họ tích tụ ngày càng lớn, các phương pháp, biện pháp, hình thức hoạt động nhằm duy trì trật tự xã hội cũng như địa vị xã hội, quyền lực và tài sản đó ngày càng thể hiện tính tập trung, độc đoán nhiều hơn, đòi hỏi phải có những cơ cấu tổ chức mới, thôi thúc sự ra đời sớm của nhà nước.

    2. Sự ra đời của pháp luật

    Pháp luật ra đời từ khi nhà nước xuất hiện. Khi nhà nước được hình thành, quốc gia được xác lập, các quan hệ xã hội phát triển cả về phạm vi, mức độ và tính chất thì phong tục, tập quán không còn khả năng để điều chỉnh được tất cả các quan hệ xã hội. Để đáp ứng nhu cầu khách quan đó, một loại quy phạm mới, khác hẳn với phong tục tập quán đã ra đời, đó là pháp luật. Theo đó, vào cuối thời đại Hùng Vương, nhà nước xuất hiện thì đương nhiên pháp luật cũng xuất hiện. Hình thức đầu tiên của pháp luật là tập quán pháp. Tập quán pháp điều chỉnh những quan xã hội như quan hệ sở hữu, chiếm hữu và sử dụng rộng đất, quan hệ về trật tự xã hội… Ngoài ra còn có các tập quán chính trị: tập quán truyền ngôi, tập quán cống nạp…

    Hình thức thứ hai là pháp luật khẩu truyền, ý chí của người thống trị đối với xã hội nhiều khi được ban ra bằng miệng và không được ghi bằng văn bản. Một hình thức nữa là pháp luật thành văn. Mặc dù hiện tại chưa rõ thời đại Hùng Vương có chữ viết hay chưa, nhưng có thể giả định rằng, khi phạm vi lãnh thổ nhà nước được mở rộng thì phải có cách thức thể hiện và truyền mệnh lệnh của người chỉ huy bằng các dấu hiệu đặc thù, ngắn gọn và cụ thể.

    Tóm lại, nhà nước Văn Lang-Âu Lạc đã có pháp luật nhưng đó là hình thức sơ khai và chủ yếu là tập quán pháp, còn mang đậm tàn dư của chế độ nguyên thủy và như Việt sử lược nhận xét, đó là xã hội có “phong tục thuần hậu chất phác”.

    C. KẾT LUẬN

    Như vậy, ta có thể thấy, nhà nước và pháp luật là những vấn đề vô cùng phức tạp, không thể nhìn nhận chúng một cách phiến diện, một chiều mà phải nhìn một cách đa diện đa chiều. Khi xem xét vấn đề nguồn gốc của nhà nước và pháp luật cần xem xét chúng trong các “mối quan hệ phổ biến”, đặt chúng trong mối quan hệ với nhau và trong mối quan hệ với các hiện tượng xã hội khác.

    Xem thêm: TỔNG HỢP BÀI TẬP NHÓM - BÀI TẬP LỚN - BÀI TẬP CÁ NHÂN - TIỂU LUẬN CÁC MÔN HLU

    Nếu bạn thấy những chia sẻ của mình hữu ích thì có thể donate ủng hộ mình 01 ly trà sữa nha: BIDV 4603463395


    Continue Reading



    (C) Bài viết chia sẻ của một chị K40 HLU đăng trên HLU Confession. Bài viết gốc: Link

    Chào các bạn, lại là mình K40 đây (tớ là nữ nhé các bro 😐), mấy bài viết lần trước thấy có nhiều bạn quan tâm, chia sẻ nên tớ có động lực viết tiếp bài này. Chủ đề của bài này là làm thế nào để tìm công việc tốt và biết công ty mình apply có ok không, cách viết CV, gửi mail thế nào cho phù hợp 😁, áp dụng cho tất cả các loại công việc trái ngành nhé. Tớ viết trải nghiệm của bản thân thôi chứ không dám múa rìu qua mắt thợ đâu nên các cậu đừng ném đá tớ 😞.

    Xem thêm:

    - Part 1: Những khó khăn của Sinh viên Luật mới ra trường

    - Part 2: Cơ hội việc làm ngành Luật sau khi tốt nghiệp

    Tớ viết bài này vì tớ nghĩ nhiều bạn K42, K43 cũng y như tớ 2 năm về trước, nằm ở nhà buồn bã, trải CV xin việc mà trong đầu chẳng có cái định hướng gì cho bản thân. Thêm vào đó do ở nhà quá nhiều nên chúng ta stress, suy nghĩ rằng với mức lương như thế này thì sao đủ sống, bao giờ thì công việc ổn định với thăng tiến, bao giờ thì mua được nhà? Không phải tớ muốn an ủi các bạn đâu nhưng thực sự ai cũng trải qua 1 - 2 năm đầu như thế nên đừng căng thẳng quá, cứ bình tĩnh mà tìm việc tốt. Vì thế, tớ sẽ review một số nội dung nhé.

    1. Làm thế nào để tìm được một công việc tốt?

    Nếu bạn nào đã đọc bài trước của tớ thì hẳn biết tớ phân việc ra làm 7 nhóm cơ bản. Khi đi tìm việc, hãy luôn luôn nhớ câu nói “hàng tốt thì thường khó kiếm, cơ hội tốt đồng nghĩa với cạnh tranh cao”. 

    Thật vậy, đừng có vì thất nghiệp mà thấy bài đăng tuyển nào cũng vào apply như đúng rồi nhé, đọc đoạn sau bạn sẽ hiểu. 

    Nếu lúc này bạn chưa có định hướng mình sẽ làm nhóm công việc nào thì tớ khuyên là, cứ công ty to mà apply, không apply vào nhân viên thì apply vào fresher học việc vì fresh công ty to còn hơn trăm lần nhân viên công ty vớ vẩn. Đừng có ngại nộp CV nhiều vì cơ hội không đến nhiều lần, không thử thì sao biết? Làm thế nào để tìm các công ty như tớ nói à? Dạng công ty này thường không đăng tuyển tùm lum trên FB hoặc mấy group diễn đàn đâu nên bạn phải vào website của họ. Tớ sẽ review cho các cậu quy trình phỏng vấn của 1 công ty lớn nhé. Như lần tớ đi phỏng vấn pháp chế ở Honda (mà tớ trượt mới cay) thì có 4 vòng. Vòng 1 là gửi CV thì cái này cũng dễ, Honda không yêu cầu quá cao; Vòng 2 là test IQ và tiếng anh (Honda dùng bài toeic); Vòng 3 và 4 phỏng vấn anh/việt. Nói chung tớ đánh giá là không quá khó đối với bài IQ, toeic, vòng phỏng vấn tiếng anh chủ yếu nói mấy vấn đề về bản thân thôi, nhưng tại tớ trả lời tiếng anh ấp úng quá. Nhưng tớ đảm bảo với các cậu, không khó lắm đâu và mức lương cho fresher là khoảng 10 triệu, mỗi tội làm việc ở Vĩnh Phúc. Ngoài Honda còn có Canon, Samsung, Nestle hoặc một vài công ty ở Khu công nghiệp tớ cũng tham khảo rồi nhưng mấy công ty này hay tuyển HR, hành chính nhiều hơn, vòng test IQ đề cũng khó nữa. Nhưng nói chung mức lương đáng để các cậu thử lắm vì thế rảnh rỗi thì lên hội luyện thi của Samsung, Canon mà tham khảo. Mấy công ty dạng này thì các cậu cứ vào web của họ mà tìm việc phù hợp nha, CV nên viết Tiếng Anh hoặc song ngữ, Tiếng Anh kém quá thì sài google dịch, mấy nữa phỏng vấn thì viết sẵn bài giới thiệu bản thân bằng Tiếng Anh rồi học thuộc.

    Sau đó tới nhóm tìm việc Ngân hàng cũng thế, giờ tuyển chuyên viên QHKH nhiều lắm, mới như tụi mình thì tìm các bank nhỏ trước như Liên Việt (Ngân hàng mình nộp học phí ý), MSB, Bắc Á, An Bình, Sea... Các cậu nhớ vào các group Ngân hàng để học hỏi kinh nghiệm trước nhé vì đi phỏng vấn sẽ hỏi một số câu chuyên ngành đó. Có thể đọc trước Luật các tổ chức tín dụng, tìm hiểu các hình thức cấp tín dụng của Ngân hàng....

    Tại sao tớ lại ưu tiên viết 2 nhóm kia, vì tớ thấy tính chất ổn định của nó cao. Chứ còn nhiều khi chúng mình rất vui vì pass pháp chế nhưng khi đi làm mới biết như cc á vì công ty không ra gì. Kể thật với các cậu là tớ từng làm pháp chế cho một công ty xây dựng xong rồi bị bùng lương, đấy là lý do tại sao tớ rất sợ mấy công ty vớ vẩn, không uy tín. Vì thế các cậu hãy để ý phần 2 mà tớ viết. À nếu mà CV trắng tinh thì chỉ nên apply vào học việc công ty lớn thôi nhé, hoặc làm tạm công ty Luật 1 năm rồi sau đấy mọi thứ sẽ dễ dàng hơn nhiều.

    2. Làm thế nào để biết công ty mình ứng tuyển có ok không.

    Nếu các cậu không may mắn tìm được công ty có tên tuổi nổi bật hẳn thì để biết công ty mình ứng tuyển có ok không, tớ hay làm cách này nhất nè:

    Thứ nhất, tớ vào ngay, vào liền Hội review công ty, group này khoảng 200k thành viên. Sau đó tớ vào mục tìm kiếm, tìm tên công ty xem mọi người có review trước đó không. Nếu không có tớ sẽ đăng bài lên để hỏi. Một lát sau, chúng ta sẽ nhận được 1001 lời tư vấn, mà đa phần những người tư vấn đã thực sự trải nghiệm ở công ty đó rồi. Đối với văn phòng, công ty luật thì có riêng 1 group review riêng, nhưng tỉ lệ phản hồi không cao. 

    Thứ hai, tớ sẽ lên google tìm xem công ty này có website riêng không, có bị bóc phốt gì chưa. Những công ty mà có sẵn web rồi thì làm ăn khá chuyên nghiệp. Nếu công ty không có web, tớ sẽ xem email của HR ở định dạng nào, cách thức mời phỏng vấn ra sao. Email của HR mà là mail cá nhân, thư mời phỏng vấn mà trình bày cẩu thả, nội dung không rõ ràng là thấy nản rồi.

    Thứ ba, công ty tuyển nhiều người hoặc nhiều lần cho một vị trí là thấy tính ổn định không cao rồi. Làm sao để biết họ tuyển nhiều lần hả? Tớ hay vào nhanlucnganhluat xong rồi gõ tên công ty vào phần tìm kiếm xem họ có hay tuyển cho vị trí này không, hoặc nằm vùng trên mấy group tuyển dụng là cũng biết thôi. Một công ty tuyển dụng khó, ít khi tuyển sẽ làm chúng ta cảm thấy trân trọng công việc của mình hơn rất nhiều.

    Thứ tư, né mấy công ty tuyển dụng trên FB, không ghi tên công ty, ghi mỗi địa chỉ là toà nhà ABC, tuyển dụng vị trí nhân viên văn phòng thì cũng né ra, toàn là tuyển sale không mà tuyển hoài không được nên phải tránh viết tên công ty vào.

    Thứ năm, tìm mãi mà không tìm được công việc ưng ý thì tìm đến Headhunter nha, trước tớ cũng hay trao đổi với các chị để tìm việc uy tín, các anh chị nhiệt tình lắm luôn và có việc là phone ngay cho mình gửi CV.

    3. Cách viết CV, gửi email

    Về viết CV thì nếu mà bạn không sáng tạo được thì lấy mẫu CV có sẵn cũng được, trước đấy chưa đi thực tập ở đâu mà để CV trắng thì đáng lo đấy. Như tớ là tớ hay tô vẽ thêm cho câu từ nó hoa mỹ, ví dụ thay vì viết là “thực hiện thủ tục thay đổi ĐKKD” thì tớ sẽ viết là “soạn thảo, kiểm soát các vấn đề pháp lý của các doanh nghiệp liên quan đến cơ cấu tổ chức, thay đổi nội dung đăng ký doanh nghiệp, các quyết định, văn bản hành chính do doanh nghiệp ban hành và làm việc với các cơ quan nhà nước có thẩm quyền”. Với cả là tớ hay đọc kỹ cái mô tả công việc theo yêu cầu của họ, sau đó chỉnh sửa, lái thêm 1 tí. Nhưng mà các bạn tuyệt đối đừng có viết bậy nha, phỏng vấn mà không trả lời được là toang đó. Khi viết email ứng tuyển thì nhớ đổi tên file đính kèm, nhớ viết phần tiêu đề, email chia rõ bố cục. Muốn cụ thể thì các bạn lên mạng đọc hướng dẫn viết email đi, đừng có lười.

    Nói chung là vạn sự khởi đầu nan lắm các cậu, nhưng đừng có nản, công ty tốt còn đầy ngoài kia chỉ chờ các cậu ném CV vào để đi làm. Vì thế nên nếu có chờ việc 1, 2 tháng cũng đừng buồn. Như tớ trước còn ở nhà hơn 1 tháng cơ, xong rồi lại đâu vào đấy cả. Vì thế cố lên nhé các bạn K42, goodluck.

    Có thắc mắc gì thì cứ để lại nhé. Vì thời lượng có hạn nên tớ không thể trình bày hết các vấn đề ra đây được. 

    Continue Reading

     



    - Các biện pháp  ngăn chặn và bảo đảm xử lí vi phạm hành chính.

    Khi phát hiện tổ chức, cá nhân vi phạm hành chính, để ngăn chặn kip thời không cho vi phạm của họ tái diễn, đảm bảo cho việc xử lí cũng như thi hành quyết định xử lí sau này có hiệu quả, người có thẩm quyền tùy từng trường hợp cụ thể do pháp luật quy định, có thể áp dụng các biện pháp theo thủ tục hành chính

    - Các biện pháp phòng ngừa hành chính.

    + Biện pháp phòng ngừa hành chính được ápndụng nhằm phòng ngừa những vi phạm pháp luật trong lĩnh vực hoạt động hành chính, cũng như nhằm đảm bảo trật tự an toàn xã hội trong các trường hợp khẩn cấp, thiên tai, dịch bệnh...

    + Đặc điểm:

    (1) khi chưa xảy ra vi phạm pháp luật hay không liên quan đến vi phạm pháp luật;

    (2) hay khi đã xảy ra vi phạm pháp luật nhưng nhằm mục đích phòng ngừa tiếp theo, phòng ngừa chung

    Nhóm các biện pháp bắt buộc trực tiếp gồm có: kiểm tra giấy tờ, kiểm tra hộ tịch hộ khẩu, kiểm tra hàng hóa, hành lý và người, trưng mua, trưng thu tài sản công dân, kiểm tra bắt buộc sức khỏe;

    Nhóm các biện pháp phòng ngừa hành chính có tính chất hạn chế quyền gồm có: Ngăn cấm hoặc hạn chế xe cộ đi lại trên tuyến đường nào đó khi có nguy cơ mất an toàn giao thông trong các trường hợp sửa lại đường sá, xây cầu cống...; ngăn cấm người vào khu vực đang có dịch bệnh...; quản chế hành chính đối với những người được miễn trách nhiệm hình sự nhưng phải thường xuyên có mặt tại cơ quan công an trình diện, thông báo về chỗ ở....

    - Các biện pháp được áp dụng trong trường hợp cần thiết vì lợi ích quốc gia.

    Xem thêm: 47 CÂU HỎI VẤN ĐÁP LUẬT HÀNH CHÍNH VIỆT NAM

    Nếu bạn thấy những chia sẻ của mình hữu ích thì có thể donate ủng hộ mình 01 ly trà sữa nha: BIDV 4603463395

    Continue Reading

     



    * Khái niệm:

    Pháp chế

    * Phân tích:

    1, Vai trò cua Tòa án nhân dân:

    Thông qua hoạt động xét xử, giải quyết các tranh chấp về quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia các quan hệ pháp luật => Xử lí nghiêm minh các trường hợp vi phạm pháp luật; thực hiện việc kiểm tra, giám sát các hoạt động hành chính của các chủ thể có thẩm quyền quản lí hành chính nhà nước.

    Trong các phiên tòa:

    - Kiểm tra tính hợp hiến, hợp pháp các quyết định hành chính và hành vi hành chính của cơ quan hành chính nhà nước, chủ thể có thẩm quyền.

    - Có thể thấy sự phản kháng của chủ thể, đại diện xã hội với quyết định hành chính, hành vi hành chính của cơ quan hành chính nhà nước. Công dân thực hiện quyền, nghĩa vụ của bản thân.

    - Giải quyết bằng thủ tục tư pháp, nguyên tắc bình đẳng, công khai, dân chủ, tránh hành vi lộng quyền, cửa quyền, thiếu trách nhiệm.

    - Áp dụng biện pháp ra quyết định áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời.

    2, Ý nghĩa:

    - Hủy, sửa đổi nhiều hành vi trái pháp luật, quyết định hành chính => bảo vệ lợi ích của công dân.

    - Kiểm soát quyền lực của cơ quan hành chính nhà nước, của cán bộ, công chức nhà nước trong việc ban hành văn bản pháp luật.

    - Tạo ra yêu cầu và giáo dục cán bộ, công chức của bộ máy hành chính nhà nước phải thận trọng, có trách nhiệm hơn nữa.

    - Đảm bảo tính kịp thời, tránh gây thiệt hại cho các chủ thể.

    Xem thêm: 47 CÂU HỎI VẤN ĐÁP LUẬT HÀNH CHÍNH VIỆT NAM

    Nếu bạn thấy những chia sẻ của mình hữu ích thì có thể donate ủng hộ mình 01 ly trà sữa nha: BIDV 4603463395

    Continue Reading
    Newer
    Stories
    Older
    Stories

    About me

    REY A law practitioner

    Một người trẻ đam mê và đang trên con đường theo đuổi ngành Luật. Tốt nghiệp Cử nhân Luật tại HLU và đang học Luật sư & Thạc sĩ Luật. Read More

    Donate me

    Nếu bạn thấy những chia sẻ của mình hữu ích thì có thể donate ủng hộ mình 01 ly trà sữa nha:
    BIDV

    Follow me on Facebook

    Follow me on Youtube

    Labels

    CHUYỆN ĐI LÀM (3) ĐỀ THI HẾT MÔN (14) HỌC LUẬT Ở HLU (6) HỌC LUẬT SƯ (6) LUẬT HÀNH CHÍNH (47) LÝ LUẬN CHUNG (111) TIỂU LUẬN (50)

    Cảm ơn đã ghé thăm

    recent posts

    Popular Posts

    • Phân tích đặc trưng cơ bản của nhà nước. Trên cơ sở đó, làm sáng tỏ biểu hiện một đặc trưng của nhà nước Việt Nam hiện nay.
    • 80 CÂU VẤN ĐÁP LÝ LUẬN CHUNG VỀ NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT (có đáp án)

    Blog Archive

    • tháng 8 2025 (1)
    • tháng 6 2024 (2)
    • tháng 3 2024 (2)
    • tháng 2 2024 (1)
    • tháng 1 2024 (8)
    • tháng 10 2023 (30)
    • tháng 9 2023 (115)
    • tháng 8 2023 (73)
    facebook youtube

    Created with by BeautyTemplates

    Back to top