Được tạo bởi Blogger.
facebook youtube

Rey & Law

    • Home
    • HỌC LUẬT Ở HLU
    • HỌC LUẬT SƯ
    • HỌC THẠC SĨ
    • CHUYỆN ĐI LÀM
    • TỰ HỌC LUẬT

     

    A. MỞ ĐẦU

    Kinh tế luôn là nhân tố quan trọng đối với sự phát triển của mỗi quốc gia. Không một quốc gia nào có thể tồn tại và phát triển mà không đề cao vai trò của kinh tế. Theo lý thuyết kinh tế của Keynes, thị trường cần có sự tham gia của chính phủ với những chính sách phù hợp để điều tiết nền kinh tế. Thực tế cũng cho thấy, mọi quốc gia trên thế giới dù theo thể chế chính trị nào thì vẫn phải thực hiện những chính sách điều tiết thị trường phù hợp. Một trong những chính sách quan trọng nhất là CSTT. 

    Ở Việt Nam những năm gần đây, nền kinh tế đang dần khởi sắc. Ngược thời gian trở lại những năm đất nước rơi vào khủng hoảng với lạm phát phi mã ba chữ số mới thấy được hết tầm quan trọng của chính phủ trong điều hành CSTT. Lạm phát cao gây ra hàng loạt tác động tiêu cực cho xã hội, làm biến dạng cơ cấu sản xuất và việc làm... 

    Chính vì vậy, kiểm soát lạm phát là nhiệm vụ tất yếu. Và CSTT là công cụ quan trọng để thực hiện mục tiêu này. Sau đây, nhóm chúng em xin trình bày về vấn đề: “Chính sách tiền tệ với mục tiêu kiểm soát lạm phát của Việt Nam giai đoạn 2015 – 2019” để có được cái nhìn xác đáng nhất.

    B. NỘI DUNG

    I. Cơ sở lý thuyết

    1. Chính sách tiền tệ

    a) Khái niệm

    Chính sách tiền tệ là một chính sách kinh tế vĩ mô do NHTW xây dựng và tổ chức thực hiện. Mục tiêu của CSTT là: Kiểm soát lạm phát, ổn định thị trường ngoại hối, tăng trưởng kinh tế và giảm tỉ lệ thất nghiệp.

    b) Các công cụ của chính sách tiền tệ

    Ta có: MS=mM.H

    Trong đó: 

    MS: Mức cung tiền

    mM: Số nhân tiền trong nền kinh tế

    H: Tiền cơ sở

    NHTW thực hiện chính sách tiền tệ thông qua các công cụ:

    * Nghiệp vụ thị trường mở: Là những nghiệp vụ mà NHTW sử dụng để thay đổi lượng tiền cơ sở thông qua việc mua bán các chứng khoán có giá trên thị trường mở.

    - Cơ chế tác động:

    + NHTW mua chứng khoán => H tăng => MS tăng

    + NHTW bán chứng khoán => H giảm => MS giảm

    * Tỷ lệ dự trữ bắt buộc: Là tỷ lệ tiền dự trữ tối thiểu do NHTW quy định

    - rb giảm => rr giảm => Cho vay tăng => D tăng => MS tăng

    * Lãi suất chiết khấu: Là lãi suất mà NHTW áp dụng khi cho các NHTM vay tiền

    - Lãi suất chiết khấu càng cao thì NHTM ít vay tiền của NHTW => NHTM tăng dự trữ để đáp ứng nhu cầu rút tiền của khách hàng => rr tăng => mM giảm và do đó MS giảm

    - Lãi suất chiết khấu càng thấp thì khuyến khích các NHTM vay tiền từ NHTW => NHTM giảm dự trữ => rr giảm, mH tăng và do đó cung tiền tăng.

    * Các công cụ điều tiết khác: Quy định trần lãi suất; quy định về dư nợ tín dụng, quy định về tỷ lệ cơ cấu tín dụng…

    c) Các dạng của chính sách tiền tệ

    * Chính sách tiền tệ mở rộng: NHTW mở rộng mức cung tiền trong nền kinh tế, làm i giảm xuống, qua đó làm tăng AD dẫn tới quy mô nền kinh tế được mở rộng, thu nhập tăng và tỉ lệ thất nghiệp giảm. Các biện pháp làm tăng mức cung tiền là:

    - Mua vào trên thị trường chứng khoán

    - Hạ thấp tỷ lệ dự trữ bắt buộc

    - Hạ thấp mức lãi suất chiết khấu

    - Các biện pháp hành chính làm tăng trưởng tín dụng tăng lên

    * Chính sách tiền tệ thắt chặt: NHTW tác động nhằm giảm bớt mức cung tiền trong nền kinh tế làm cho lãi suất thị trường tăng lên. Thông qua đó giúp thu hẹp tổng cầu làm mức giá chung giảm xuống. Các biện pháp làm giảm mức cung tiền là:

    - Bán ra trên thị trường chứng khoán

    - Tăng mức dự trữ bắt buộc

    - Tăng lãi suất chiết khấu

    - Các biện pháp hành chính làm giảm tăng trưởng tín dụng

    * Mô hình về chính sách tiền tệ (Phụ lục 1)

    2. Lạm phát

    a) Khái niệm

    Lạm phát là sự tăng lên của mức giá chung trong nền kinh tế trong một khoảng thời gian nhất định. 

    b) Các nguyên nhân gây ra lạm phát

    Thứ nhất, lạm phát do cầu kéo. Lạm phát do cầu kéo xảy ra khi tổng cầu tăng lên mạnh mẽ tại mức sản lượng hoặc vượt quá sản lượng tiềm năng. Bản chất của cầu kéo là chi tiêu quá nhiều tiền để mua một lượng cung hạn chế về hàng hóa có thể sản xuất được trong điều kiện thị trường lao động đã đạt cân bằng. Những đồng tiền của cầu đó sẽ cạnh tranh với nhau trước cung hàng hóa có hạn và đẩy giá chúng lên. Đồng thời, khi thị trường lao động đã đạt cân bằng, tỷ lệ thất nghiệp giảm, nhân công trở nên khan hiếm, lương cũng bị đẩy lên và quá trình lạm phát gia tăng.

    Thứ hai, lạm phát do chi phí đẩy. Lạm phát do chi phí đẩy xảy ra khi chi phí sản xuất tăng đột ngột. Chi phí đẩy của các doanh nghiệp bao gồm tiền lương, giá cả nguyên liệu đầu vào, máy móc, thuế… Khi giá cả của một hoặc vài yếu tố này tăng lên thì tổng chi phí sản xuất của các xí nghiệp cũng tăng lên, vì thế mà giá thành sản phẩm cũng sẽ tăng lên nhằm bảo toàn lợi nhuận.

    Thứ ba, lạm phát do cơ cấu. Với ngành kinh doanh có hiệu quả, doanh nghiệp tăng tiền công “danh nghĩa” cho người lao động. Nhưng cũng có những nhóm ngành kinh doanh không hiệu quả, doanh nghiệp cũng theo xu thế, buộc phải tăng tiền công cho người lao động. Nhưng vì những doanh nghiệp này kinh doanh kém hiệu quả, nên khi phải tăng tiền công, các doanh nghiệp này buộc phải tăng giá sản phẩm để đảm bảo mức lợi nhuận và làm phát sinh lạm phát.

    Thứ tư, lạm phát do cầu thay đổi. Khi thị trường giảm cầu một mặt hàng nào đó, trong khi lượng cầu về mặt hàng khác lại tăng lên. Nếu thị trường có người cung cấp độc quyền và giá cả có tính chất cứng nhắc phía dưới (chỉ có thể tăng mà không thể giảm, như giá điện ở Việt Nam), thì mặt hàng mà lượng cầu giảm vẫn không giảm giá. Trong khi đó mặt hàng có lượng cầu tăng thì lại tăng giá. Kết quả là mức giá chung tăng lên, dẫn đến lạm phát.

    Thứ năm, lạm phát do xuất khẩu. Khi xuất khẩu tăng, tổng cầu tăng cao hơn tổng cung, khi đó sản phẩm được thu gom cho xuất khẩu khiến lượng hàng cung cho thị trường trong nước giảm, khiến tổng cung trong nước thấp hơn tổng cầu. Khi tổng cung và tổng cầu mất cân bằng sẽ nảy sinh lạm phát.

    Thứ sáu, lạm phát do nhập khẩu. Khi giá hàng hóa nhập khẩu tăng thì giá bán sản phẩm trong nước sẽ tăng lên. Khi mức giá chung bị giá nhập khẩu đội lên sẽ hình thành lạm phát.

    Thứ bảy, lạm phát tiền tệ. Khi cung tiền trong nước tăng, chẳng hạn do NHTW mua ngoại tệ để giữ cho đồng tiền trong nước khỏi mất giá so với ngoại tệ; hay do NHTW mua công trái làm cho lượng tiền trong lưu thông tăng lên cũng là nguyên nhân gây ra lạm phát.

    c) Ảnh hưởng của lạm phát đến kinh tế

    Lạm phát tác động đến nền kinh tế của một đất nước theo nhiều mặt gồm cả tích cực và tiêu cực. 

    Lạm phát không phải bao giờ cũng gây hại cho nền kinh tế. Khi tốc độ lạm phát vừa phải (2-5%) ở các nước phát triển và dưới 10% ở các nước đang phát triển sẽ mang lại một số lợi ích cho nền kinh tế như: Kích thích tiêu dùng, vay nợ, đầu tư, giảm thất nghiệp; cho phép chính phủ có thêm khả năng lựa chọn các công cụ kích thích đầu tư vào những lĩnh vực kém ưu tiên thông qua mở rộng tín dụng, giúp phân phối lại thu nhập và các nguồn lực trong xã hội.

    Tuy nhiên, lạm phát cũng gây ra nhiều tác động tiêu cực.

    Khi tỷ lệ lạm phát tăng cao, muốn cho lãi suất ổn định và dương thì lãi suất danh nghĩa phải tăng lên theo tỷ lệ lạm phát. Việc tăng lãi suất danh nghĩa sẽ dẫn đến hậu quả là suy thoái kinh tế và thất nghiệp gia tăng.

    Khi lạm phát tăng lên mà thu nhập danh nghĩa không thay đổi thì làm cho thu nhập thực tế giảm xuống. Lạm phát không chỉ làm giảm giá trị thật của những tài sản không có lãi mà nó còn làm hao mòn giá trị của những tài sản có lãi. Từ đó, thu nhập ròng của của người cho vay bị giảm xuống, ảnh hưởng rất lớn đến kinh tế xã hội: suy thoái kinh tế, thất nghiệp gia tăng, đời sống của người lao động trở nên khó khăn hơn, làm giảm lòng tin của dân chúng đối với Chính phủ...

    Khi lạm phát tăng lên, giá trị của đồng tiền giảm xuống, người đi vay sẽ có lợi trong việc vay vốn trả góp để đầu cơ kiếm lợi. Do vậy càng tăng thêm nhu cầu tiền vay trong nền kinh tế, đẩy lãi suất lên cao. Lạm phát tăng cao còn khiến những người giàu có dùng tiền vơ vét hàng hoá, tài sản, nạn đầu cơ xuất hiện, giá hàng hoá càng đẩy lên cao hơn. Cuối cùng, những người dân nghèo vốn đã nghèo càng trở nên khốn khó hơn. Tình trạng lạm phát như vậy có thể gây rối loạn trong nền kinh tế và tạo ra khoảng cách lớn về thu nhập, về mức sống giữa người giàu và người nghèo.

    Lạm phát cao làm cho Chính phủ được lợi do thuế thu nhập đánh vào người dân, nhưng những khoản nợ nước ngoài sẽ trở nên trầm trọng hơn. 

    3. Mối quan hệ giữa tiền tệ và lạm phát

    Khi thị trường tiền tệ cân bằng thì: 

    Xét trong dài hạn lãi suất thực tế (i) và sản lượng thực tế (Y) đạt mức cân bằng, cầu tiền thực tế (MDr) không đổi, do vậy cũng sẽ không thay đổi. Nếu lượng cung tiền danh nghĩa (MSn) tăng lên thì giá cả (P) cũng sẽ tăng lên với tỉ lệ tương ứng, tức là có lạm phát và tỷ lệ lạm phát bằng tỷ lệ tăng tiền danh nghĩa. Như vậy, lạm phát là một hiện tượng tiền tệ. Điều này xảy ra trong thực tế khi nền kinh tế gặp phải cơn sốc như giá của các yếu tố đầu vào tăng lên làm cho lượng cung tiền thực tế (MSr) nhất thời giảm xuống. 

    4. Kiểm sát lạm phát bằng chính sách tiền tệ

    Công cụ chủ yếu để kiềm chế lạm phát là thực thi một CSTT hợp lí: tăng lượng cung tiền hàng năm với mức thích hợp, xây dựng và sử dụng ngày càng có hiệu quả hơn các công cụ CSTT (NVTTM, tái chiết khấu...), kiên quyết không bù đắp thâm hụt ngân sách bằng biện pháp phát hành tiền.

    Dự trữ bắt buộc

    Khi lạm phát cao, NHTW nâng tỷ lệ dự trữ bắt buộc, khả năng cho vay và khả năng thanh toán của các ngân hàng bị thu hẹp (do số nhân tiền tệ giảm), khối lượng tín dụng trong nền kinh tế giảm (cung tiền giảm) dẫn tới lãi suất tăng, đầu tư giảm do đó tổng cầu giảm và làm cho giá giảm (tỷ lệ lạm phát giảm). 

    Ngược lại, nếu NHTW hạ tỷ lệ dự trữ bắt buộc, thì cung về tín dụng của các NHTM tăng lên, khối lượng tín dụng và khối lượng thanh toán có xu hướng tăng, đồng thời tăng xu hướng mở rộng khối lượng tiền. Việc tăng cung tiền dẫn tới tăng giá (tỷ lệ lạm phát tăng).

    Công cụ dự trữ bắt buộc mang tính hành chính áp đặt trực tiếp, đầy quyền lực và cực kỳ quan trọng để cắt cơn sốt lạm phát, khôi phục hoạt động kinh tế trong trường hợp nền kinh tế phát triển chưa ổn định và khi các công cụ thị trường mở, tái chiết khấu chưa đủ mạnh để có thể đảm trách điều hoà mức cung tiền tệ cho nền kinh tế. 

    Lãi suất chiết khấu

    Lãi suất chiết khấu đặt ra trong từng thời kỳ có tác dụng hướng dẫn, chỉ đạo lãi suất tín dụng trong nền kinh tế giai đoạn đó. Khi NHTW nâng lãi suất chiết khấu buộc các NHTM cũng phải nâng lãi suất tín dụng của mình lên để không bị lỗ vốn. Do lãi suất tín dụng tăng lên, cầu về tín dụng giảm và kéo theo giảm cầu về tiền tệ (nhu cầu về giữ tiền của người dân giảm đi). Do đó, đầu tư giảm đi dẫn tới tổng cầu giảm và làm cho giá giảm (tỷ lệ lạm phát giảm). 

    Ngược lại, NHTW kích thích tăng cầu tiền tệ và làm cho giá tăng (tỷ lệ lạm phát tăng).

    Nghiệp vụ thị trường mở

    Qua nghiệp vụ thị trường mở, NHTW chủ động phát hành tiền vào lưu thông hoặc rút bớt tiền khỏi lưu thông bằng cách mua bán các loại trái phiếu ngân hàng quốc gia nhằm tác động đến khối lượng tiền dự trữ trong quỹ dự trữ của các NHTM và các tổ chức tài chính, hạn chế tiềm năng tín dụng và thanh toán của các ngân hàng này, qua đó điều khiển khối lượng tiền trong thị trường tiền tệ. Khối lượng tiền tệ ảnh hưởng trực tiếp tới tỷ lệ lạm phát, việc thay đổi cung tiền tệ sẽ làm thay đổi tỷ lệ lạm phát.

    Đây là công cụ cực kỳ quan trọng của nhiều NHTW, và được coi là vũ khí sắc bén nhất đem lại sự ổn định kinh tế nói chung, ổn định lạm phát nói riêng.

    Lãi suất

    Khi có lạm phát, NHTW tăng lãi suất tiền gửi. Vì thế người dân và các công ty sẽ thấy gửi tiền vào ngân hàng có lợi hơn là đầu tư vào sản xuất kinh doanh. Từ đó giảm cầu tiền, dẫn đến giảm lạm phát.

    Hạn mức tín dụng

    Hạn mức tín dụng là khối lượng tín dụng tối đa mà NHTW có thể cung ứng cho tất cả các NHTM trong thời kỳ nhất định phù hợp với mức tăng trưởng kinh tế của thời kỳ.

    Khi hạn mức tín dụng giảm, cung tiền giảm, do đó tổng đầu tư giảm làm cho tổng cầu giảm và cuối cùng là giá giảm. 

    II. Thực tiễn chính sách tiền tệ với mục tiêu kiểm soát lạm phát của Việt Nam trong giai đoạn 2015 – 2019

    1. Mục tiêu kiểm soát lạm phát của Việt Nam giai đoạn 2015 – 2019

    Kiểm soát lạm phát luôn là một mục tiêu quan trọng của Quốc hội và Chính phủ Việt Nam trong những năm qua. Lạm phát đứng thứ hai trong “tứ giác mục tiêu” kinh tế: tăng trưởng nhanh, lạm phát thấp, cán cân thanh toán có số dư, thất nghiệp ít. Kiểm soát được lạm phát giúp ổn định nền kinh tế vĩ mô, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và sản xuất phát triển. Thực tế đã chứng minh, mỗi lần lạm phát tăng cao, đều xảy ra bất ổn về kinh tế, kéo theo những bất ổn về xã hội. 

    Trước Đổi mới 1986, nền kinh tế nước ta đã trải qua một cuộc khủng hoảng nghiêm trọng. Lạm phát phi mã kéo dài. Bội chi ngân sách dẫn đến phải in thêm tiền và những sai lầm trong cải cách “giá-lương-tiền” năm 1985 đã làm cho siêu lạm phát xuất hiện, lên tới 774,7% (1986) và kéo dài với mức 3, rồi 2 chữ số cho đến đầu thập niên 90.

    Năm 2007, do chi phí sản xuất và giá lương thực, thực phẩm tăng cao, cộng thêm CSTK và CSTT liên tục mở rộng trong những năm 2001 – 2006 khiến cho lạm phát tăng lên mức 12,63%. Lạm phát cao kỉ lục vào năm 2008 với mức tăng 22,97%.

    Do tác động của khủng hoảng kinh tế toàn cầu 2008 – 2009, lạm phát năm 2009 giảm xuống 6,88%. Tuy nhiên, thời gian sau đó đã tăng mạnh trở lại, đạt khoảng 11,75% năm 2010 và 18,52% năm 2011, sau khi Việt Nam và nhiều nước trên thế giới tung ra gói kích cầu nhằm phục hồi kinh tế sau khủng hoảng, đẩy giá trong nước tăng cao.

    Từ năm 2012 đến nay, lạm phát đã giảm mạnh, sau khi Chính phủ thực hiện quyết liệt chính sách kiềm chế lạm phát, ổn định nền kinh tế vĩ mô, trong đó chủ chốt là CSTT thắt chặt và CSTK thu hẹp.

    Trong giai đoạn 2015 – 2019, với tư duy “kiểm soát lạm phát theo mục tiêu” (trên cơ sở mục tiêu được xác định một cách hợp lý như thấp hơn tốc độ tăng trưởng kinh tế, thấp hơn lãi suất tiết kiệm…), Chính phủ đã bám sát mục tiêu cả năm, theo dõi chặt chẽ diễn biến, tốc độ tăng giảm CPI theo thời gian trong năm để chủ động, linh hoạt điều hành các giải pháp từ tăng trưởng tín dụng, điều hành tỉ giá, mua ngoại tệ, tăng dự trữ ngoại hối, điều hành giá dịch vụ…

    Theo Hiến pháp nước CHXHCNVN 2013, thẩm quyền quyết định mục tiêu, chỉ tiêu, chính sách, nhiệm vụ cơ bản phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, quyết định chính sách cơ bản về tài chính, tiền tệ quốc gia thuộc về Quốc hội.  

    Khoản 4 điều 3 Luật NHNN Việt Nam 2010 quy định: “Chính phủ trình Quốc hội quyết định chỉ tiêu lạm phát hằng năm. Thủ tướng Chính phủ, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước quyết định việc sử dụng các công cụ và biện pháp điều hành để thực hiện mục tiêu chính sách tiền tệ quốc gia theo quy định của Chính phủ.”

    Theo kiến nghị của Chính phủ, hằng năm, tại kỳ họp Quốc hội cuối năm, Quốc hội thông qua Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của năm kế tiếp, trong đó có quy định mức chỉ tiêu tốc độ tăng giá tiêu dùng bình quân của cả năm. 

    Trong nghị quyết số 77/2014/QH13 về kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 2015, Quốc hội đã đề ra chỉ tiêu “Tốc độ tăng giá tiêu dùng (CPI) khoảng 5%” trong năm 2015.

    Tại kỳ họp thứ X, Quốc hội khóa XIII tháng 4/2016, Quốc hội đã thông qua nghị quyết số 142/2016/QH13 về kế hoạch phát triển kinh tế xã hội 5 năm 2016 – 2020. Một trong số những nhiệm vụ được đề ra là: “Phối hợp hiệu quả giữa chính sách tiền tệ, chính sách tài khóa và các chính sách khác để bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô và các cân đối lớn của nền kinh tế. Thực hiện chính sách tiền tệ linh hoạt, đảm bảo giá trị đồng tiền Việt Nam, phấn đấu kiểm soát lạm phát dưới 4% các năm đầu kỳ kế hoạch và 3% vào năm 2020, điều hành lãi suất linh hoạt theo diễn biến lạm phát, điều hành tỷ giá theo tín hiệu thị trường.”

    Trong các năm 2016, 2017, 2018, 2019, mỗi năm Quốc hội đều đề ra mức chỉ tiêu tốc độ tăng giá tiêu dùng bình quân, lần lượt là: dưới 5% (năm 2016) , khoảng 4% (năm 2017) , khoảng 4% (năm 2018) , khoảng 4% (năm 2019) 

    2. Chính sách tiền tệ của Việt Nam giai đoạn 2015 – 2019

    a) Công cụ nghiệp vụ thị trường mở

    Năm 2015, việc ban hành Thông tư 42/2015/TT-NHNN quy định về NVTTM và các văn bản pháp luật có liên quan trước đó đã góp phần hoàn thiện khung pháp lý cho các giao dịch trên NVTTM, đảm bảo phù hợp với quy định tại Luật NHNN 2010 và thông lệ chung quốc tế. 

    Việc không giới hạn thời hạn giao dịch trên NVTTM (có thể giao dịch với kỳ hạn ngắn hạn, trung và dài hạn), tùy thuộc theo mục tiêu điều hành CSTT đã làm tăng tính chủ động và hiệu lực của công cụ NVTTM trong việc điều tiết thanh khoản trên thị trường tiền tệ, qua đó tăng khả năng điều tiết và định hướng thị trường của NHNN.

    Hạ tầng công nghệ trên NVTTM được NHNN đầu tư đổi mới và cải tiến nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động, đảm bảo phù hợp với xu hướng công nghệ hóa toàn cầu. Từ chỗ thu thập thông tin để đánh giá, dự báo vốn khả dụng và tổ chức đấu thầu bằng thủ công mất nhiều thời gian, NHNN đã chuyển sang ứng dụng công nghệ thông tin, cho phép giao dịch kết nối trực tuyến giữa NHNN và các thành viên thị trường. Phần mềm hệ thống giao dịch FSMIMS được đưa vào vận hành từ tháng 6/2016 đã tạo điều kiện cho các thành viên tham gia giao dịch nhanh chóng, thuận tiện, các giao dịch chuyển quyền sở hữu GTCG, chuyển tiền mua - bán được xử lý ngay sau khi giao dịch với khối lượng lớn.

    Hàng hóa giao dịch rất đa dạng và phong phú, gồm các GTCG có tính thanh khoản cao, phù hợp với thông lệ chung của thế giới, chủ yếu là Trái phiếu Kho bạc, Tín phiếu Kho bạc, Tín phiếu NHNN, Trái phiếu Chính phủ bảo lãnh (do Ngân hàng Phát triển Việt Nam và Ngân hàng Chính sách xã hội phát hành); Trái phiếu Chính quyền địa phương của một số tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và các GTCG khác được phép giao dịch theo quy định của NHNN. 

    NVTTM phát triển đã thu hút nhiều TCTD tham gia, giúp tăng khả năng lan tỏa tác động của CSTT đến thị trường tiền tệ và hệ thống TCTD. 

    b) Công cụ tỉ lệ dự trữ bắt buộc

    Năm 2015, tỷ lệ DTBB được quy định tại Quyết định số 379/QĐ-NHNN ngày 24/02/2009 về tỷ lệ DTBB của các TCTD và Quyết định số 1925/QĐ-NHNN ngày 26/08/2011 về điều chỉnh tỷ lệ DTBB bằng ngoại tệ đối với các TCTD. (Phụ lục 2)

    Cuối năm 2015, NHNN đã ban hành Thông tư số 23/2015/TT-NHNN về điều chỉnh tỷ lệ DTBB đối với các TCTD có hiệu lực từ ngày 28/1/2016. Theo thông tư này, bắt đầu từ quý I/2016, các nhóm TCTD thuộc diện kiểm soát đặc biệt, tỷ lệ DTBB sẽ được xem xét giảm về mức tối thiểu 0%. Các TCTD đang thực hiện phương án cơ cấu lại đã được phê duyệt, TCTD tham gia cơ cấu lại TCTD yếu kém được chỉ định, NHNN sẽ xem xét giảm tỷ lệ DTBB theo từng TCTD cụ thể.

    Ngày 29/05/2018, NHNN đã ban hành quyết định 1158/QĐ-NHNN về tỷ lệ DTBB đối với TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, áp dụng từ ngày 01/06/2018. (Phụ lục 3)

    Cuối năm 2019, NHNN ban hành Thông tư 30/2019/TT-NHNN, quy định về thực hiện DTBB của các TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài. Thông tư này quy định cụ thể cơ chế cho phép những trường hợp TCTD không phải thực hiện DTBB, hoặc được giảm tỷ lệ thực hiện. Điều 3 Thông tư 30 quy định rõ ba nhóm TCTD không thực hiện DTBB: các TCTD được kiểm soát đặc biệt, TCTD chưa khai trương hoạt động và TCTD được chấp thuận giải thể hoặc có quyết định mở thủ tục phá sản hoặc có quyết định thu hồi Giấy phép của cơ quan có thẩm quyền. TCTD hỗ trợ tham gia hỗ trợ tái cơ cấu hệ thống được giảm 50% tỷ lệ DTBB. 

    c) Công cụ lãi suất chiết khấu

    Năm 2015, các mức lãi suất điều hành được giữ nguyên theo Quyết định số 496/QĐ-NHNN ngày 14/03/2014 về lãi suất tái cấp vốn, lãi suất tái chiết khấu, lãi suất cho vay qua đêm trong thanh toán điện tử liên ngân hàng và cho vay bù đắp thiếu hụt vốn trong thanh toán bù trừ của NHNN Việt Nam đối với các ngân hàng. Theo đó, mức lãi suất chiết khấu là 4,5%/năm.

    Năm 2016, mức lãi suất chiết khấu vẫn giữ nguyên 4,5%/năm nhưng lại cao hơn nhiều so với lãi suất trên thị trường liên ngân hàng. Một số TCTD yếu kém gặp khó khăn trong việc vay vốn trên thị trường liên ngân hàng (TT2) do thiếu tín nhiệm và không đủ tài sản đảm bảo để thực hiện vay đối ứng. Do đó, các ngân hàng này phải huy động trên thị trường tín dụng (TT1) với lãi suất cao hơn các NHTM lớn từ 1,5% đến 2%.

    Sang năm 2017, Thống đốc NHNN đã ra quyết định giảm lãi suất điều hành từ ngày 10/7/2017. Cụ thể, theo Quyết định số 1424/QĐ-NHNN ngày 7/7/2017, lãi suất chiết khấu giảm còn 4,25%/năm. Ngay sau chỉ đạo của Thống đốc, lãi suất cho vay của các TCTD đã đồng loạt giảm. Mặt bằng lãi suất cho vay đối với các lĩnh vực ưu tiên ở mức 6-6,5%/năm với ngắn hạn, lãi suất cho vay trung và dài hạn phổ biến với các lĩnh vực ưu tiên ở mức 9-10%/năm. Lãi suất cho vay các lĩnh vực sản xuất kinh doanh thông thường ở mức 6,8-9%/năm đối với ngắn hạn; 9,3-11%/năm đối với trung và dài hạn. 

    Năm 2018, lãi suất chiết khấu vẫn giữ nguyên ở mức 4,25%/năm như nửa cuối 2017.

    Giai đoạn cuối 2018 - đầu 2019, kinh tế thế giới diễn biến kém thuận lợi, nhiều NHTW các nước, trong đó có Cục dự trữ liên bang Mỹ, NHTW Châu Âu đã giảm lãi suất điều hành. Từ ngày 16/9/2019, NHNN Việt Nam quyết định điều chỉnh giảm lãi suất theo Quyết định 1870/QĐ-NHNN ngày 12/9/2019, cụ thể lãi suất tái chiết khấu giảm từ 4,25% xuống 4%/năm. Việc giảm lãi suất của NHNN là thông điệp chính sách quan trọng theo hướng nới lỏng tiền tệ. Tuy nhiên, mức giảm lãi suất khá nhỏ, chỉ 0,25% cho thấy NHNN khá thận trọng trong việc nới lỏng. Điều này là phù hợp với tình hình thế giới khi nhiều nước nới lỏng tiền tệ để kích thích kinh tế khi thương chiến Mỹ - Trung chưa có dấu hiệu chấm dứt và nhiều diễn biến kinh tế phức tạp trên toàn cầu.

    3. Một số kết quả đạt được

    Thứ nhất, điều hành đồng bộ, linh hoạt các công cụ CSTT để ổn định thị trường tiền tệ, ngoại hối và góp phần kiểm soát lạm phát.

    NHNN đã điều hành đồng bộ, linh hoạt các công cụ CSTT để kiểm soát tổng phương tiện thanh toán và tín dụng ở mức hợp lý, đảm bảo duy trì lạm phát cơ bản ổn định. Kết quả, lạm phát bình quân ở mức thấp (năm 2015: 0,63%; năm 2016: 2,66%; năm 2017: 3,53%; năm 2018: 3,54%; năm 2019: 2,79%). Kỳ vọng kiểm soát lạm phát theo chỉ tiêu của Quốc hội đặt ra; lòng tin của thị trường vào cam kết của Chính phủ, NHNN trong việc kiểm soát lạm phát được củng cố.

    Thứ hai, điều hành tín dụng theo hướng mở rộng tín dụng an toàn, hiệu quả, tập trung vào lĩnh vực sản xuất kinh doanh, kiểm soát chặt chẽ tín dụng đối với các lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro, vừa hỗ trợ kiểm soát lạm phát, vừa hỗ trợ tăng trưởng kinh tế ở mức hợp lý.

    Giai đoạn này, căn cứ mục tiêu tăng trưởng và lạm phát, NHNN xây dựng chỉ tiêu tín dụng định hướng, có điều chỉnh phù hợp với tình hình thực tế. Kết quả, tín dụng được kiểm soát theo chỉ tiêu định hướng, một mặt giúp kiểm soát lạm phát, một mặt hỗ trợ tăng trưởng kinh tế. Tăng trưởng kinh tế ngày càng được cải thiện (năm 2015: 6,89%; năm 2016: 6,21%, năm 2017: 6,81%, năm 2018: 7,08%; năm 2019: 7,02%).

    Cơ cấu tín dụng tập trung vào các lĩnh vực sản xuất, kinh doanh là chủ yếu, tín dụng đối với lĩnh vực rủi ro được kiểm soát hợp lý (tỷ trọng tín dụng đối với lĩnh vực kinh doanh bất động sản năm 2016 chiếm 6,61%, năm 2017 chiếm 6,69%, 2018 chiếm 13,25% và 2019 chiếm 19,14%; tín dụng đối với lĩnh vực kinh doanh chứng khoán năm 2017 chiếm 0,38%, năm 2018 chiếm 0,4%).

    Đóng góp của tín dụng đối với tăng trưởng kinh tế được cải thiện qua từng năm, thể hiện qua chỉ số phần trăm tăng trưởng tín dụng cần thiết để có được 1% tăng trưởng GDP, chỉ số này đang trong xu hướng giảm (2016: 2,94%; 2017: 2,68%; 2018: 1,96%).

    Thứ ba, điều hành lãi suất phù hợp với diễn biến kinh tế vĩ mô, tiền tệ và diễn biến lạm phát, tạo điều kiện cho các TCTD duy trì ổn định mặt bằng lãi suất trong điều kiện lãi suất các nước trên thế giới đang tăng lên.

    Thanh khoản của hệ thống TCTD được đảm bảo, dư thừa ở mức hợp lý, lãi suất liên ngân hàng về cơ bản được duy trì ổn định ở mức thấp, vừa hỗ trợ ổn định mặt bằng lãi suất huy động và cho vay, vừa hỗ trợ Bộ Tài chính phát hành thành công trái phiếu chính phủ với khối lượng lớn cho các kỳ hạn dài lên đến 15 - 30 năm, lãi suất trái phiếu chính phủ các kỳ hạn giảm mạnh từ 1 - 2,5%/năm so với cuối năm 2016.

    Thứ tư, tỷ giá, thị trường tiền tệ, ngoại hối về cơ bản ổn định, thông suốt. 

    Nhờ các biện pháp chủ động, linh hoạt, cũng như các yếu tố tương đối thuận lợi trong và ngoài nước, thị trường ngoại tệ những năm vừa qua nhìn chung ổn định, thanh khoản ngoại tệ toàn hệ thống tốt, nhu cầu ngoại tệ hợp pháp của doanh nghiệp và người dân được đáp ứng đầy đủ kịp thời; NHNN mua được lượng lớn ngoại tệ để tăng dự trữ ngoại hối nhà nước, qua đó góp phần giữ ổn định thị trường ngoại tệ, tỷ giá theo mục tiêu đề ra.

    4. Định hướng phát triển trong tương lai

    Thứ nhất, điều hành CSTT chủ động, linh hoạt, phối hợp chặt chẽ với CSTK và các chính sách kinh tế vĩ mô khác để thực hiện mục tiêu kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, hỗ trợ tăng trưởng kinh tế bền vững.

    Thứ hai, rà soát, đánh giá tác động và hiệu quả, từ đó sửa đổi, bổ sung, ban hành các quy định ổn định tiền tệ theo hướng bảo đảm thực hiện CSTT theo mục tiêu kiểm soát lạm phát, phối hợp có hiệu quả giữa CSTT, CSTK và các chính sách khác để thực hiện thành công các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội hàng năm và 5 năm; tăng sự độc lập của NHNN trong điều hành CSTT.

    Thứ ba, cần bảo đảm sự phối hợp giữa NHNN và Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Công thương nhằm tạo sự đồng bộ, nhất quán giữa CSTT với CSTK và các chính sách vĩ mô khác.

    Thứ tư, điều hành chính sách tín dụng theo hướng nâng cao chất lượng tín dụng; tạo điều kiện thuận lợi trong việc tiếp cận vốn tín dụng của doanh nghiệp và người dân; hạn chế cho vay bằng ngoại tệ; giảm dần tỷ lệ tín dụng ngoại tệ, tiến tới ngừng cho vay ngoại tệ để chậm nhất đến năm 2030 cơ bản khắc phục tình trạng đô la hóa trong nền kinh tế.

    Thứ năm, hoàn thiện thể chế chính sách, tạo điều kiện thuận lợi để các TCTD cung ứng đầy đủ, đa dạng các sản phẩm dịch vụ tài chính, nhất là sản phẩm dịch vụ ngân hàng phi tín dụng và các sản phẩm dịch vụ hiện đại dựa trên ứng dụng công nghệ số.

    Thứ sáu, điều hành lãi suất phù hợp với diễn biến kinh tế vĩ mô; điều hành CSTT chuyển dần từ điều hành theo khối lượng tiền sang chủ yếu điều hành theo giá; dỡ bỏ dần các biện pháp hành chính về lãi suất khi điều kiện cho phép.

    Thứ bảy, điều hành NVTTM theo hướng là công cụ chủ yếu điều tiết vốn khả dụng của các TCTD, nhằm đạt được mục tiêu CSTT trong từng thời kỳ;

    Thứ tám, điều hành tỷ giá linh hoạt, phù hợp với diễn biến thị trường; tiếp tục thực hiện chế độ tỷ giá thả nổi có quản lý.

    Cuối cùng, NHNN cần tiếp tục hoàn thiện khuôn khổ pháp lý, hoạt động ngân hàng trên cơ sở tuân thủ các quy luật của kinh tế thị trường, phù hợp thông lệ quốc tế, hạn chế sử dụng, tiến tới ngừng hẳn các biện pháp hành chính; từng bước đổi mới khuôn khổ CSTT.

    C. KẾT LUẬN

    Trên đây là quan điểm của nhóm em về CSTT với mục tiêu kiểm soát lạm phát ở Việt Nam giai đoạn 2015 – 2019. Qua đây, chúng em xin khẳng định rằng vai trò của CSTT trong kiểm soát lạm phát là vô cùng quan trọng. CSTT ảnh hưởng rất lớn đến việc điều tiết kinh tế của Chính phủ. Tuy nhiên, để kiểm soát lạm phát – một vấn đề khó khăn và phức tạp thì không chỉ cần sử dụng CSTT mà còn phải kết hợp những chính sách khác như CSTK, điều chỉnh tí giá hối đoái... Hơn nữa, lạm phát không phải luôn luôn là tiêu cực. Việc kiểm soát mức lạm phát hợp lí sẽ giúp nền kinh tế tăng trưởng và ổn định. 

    DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

    1. Bộ Giáo dục và Đào tạo, Giáo trình Kinh tế học vĩ mô, NXB Giáo dục Việt Nam, 2011

    2. Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013

    3. Nghị quyết số 98/2015/QH13 về Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 2016

    4. Nghị quyết số 23/2016/QH14 về Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 2017

    5. Nghị quyết số 47/2017/QH14 về Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 2018

    6. Nghị quyết số 69/2018/QH14 về Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 2019

    7. Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam 2010

    8. Thông tư 30/2019/TT-NHNN quy định về thực hiện dự trữ bắt buộc của các tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài

    9. Thông tư 42/2015/TT-NHNN quy định về NVTTM

    10. Quyết định 379/QĐ-NHNN về tỷ lệ DTBB của các TCTD 

    11. Quyết định 1925/QĐ-NHNN về điều chỉnh tỷ lệ DTBB bằng ngoại tệ đối với các TCTD

    12. Thông tư 23/2015/TT-NHNN về điều chỉnh tỷ lệ DTBB đối với các TCTD

    13. Quyết định 1158/QĐ-NHNN về tỷ lệ DTBB đối với TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài

    14. Quyết định 496/QĐ-NHNN về lãi suất tái cấp vốn, lãi suất tái chiết khấu, lãi suất cho vay qua đêm trong thanh toán điện tử liên ngân hàng và cho vay bù đắp thiếu hụt vốn trong thanh toán bù trừ của NHNN Việt Nam đối với các ngân hàng.

    15. Quyết định 1870/QĐ-NHNN về lãi suất tái cấp vốn, lãi suất tái chiết khấu, lãi suất cho vay qua đêm trong thanh toán điện tử liên ngân hàng và cho vay bù đắp thiếu hụt vốn trong thanh toán bù trừ của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đối với các ngân hàng.

    16. TS. Lê Quốc Phong, Thuận lợi và thách thức trong kiểm soát lạm phát, 2017 

    http://tapchitaichinh.vn/nghien-cuu-trao-doi/thuan-loi-va-thach-thuc-trong-kiem-soat-lam-phat-118875.html

    17. Nguyễn An Lương, Một số nhìn nhận về nguyên nhân lạm phát Việt Nam, 2008

    https://www.sbv.gov.vn/webcenter/portal/vi/menu/fm/ddnhnn/nctd/nctd_chitiet?leftWidth=20%25&showFooter=false&showHeader=false&dDocName=CNTHWEBAP01162524876&rightWidth=0%25&centerWidth=80%25&_afrLoop=6902668576171211#%40%3F_afrLoop%3D6902668576171211%26centerWidth%3D80%2525%26dDocName%3DCNTHWEBAP01162524876%26leftWidth%3D20%2525%26rightWidth%3D0%2525%26showFooter%3Dfalse%26showHeader%3Dfalse%26_adf.ctrl-state%3D17ac5y3lzj_9

    18. Dương Ngọc, 3 lần khủng hoảng và 3 lần chuyển vị thế của Việt Nam, 2010

    http://vneconomy.vn/thoi-su/3-lan-khung-hoang-va-3-lan-chuyen-vi-the-cua-viet-nam-20105194034740.htm

    19. Hiệu quả của các giải pháp điều hành chính sách tiền tệ, 2015

    http://tapchitaichinh.vn/kinh-te-vi-mo/hieu-qua-cua-cac-giai-phap-dieu-hanh-chinh-sach-tien-te-103057.html

    20. ThS. Chu Nga Thanh, Hoàn thiện nghiệp vụ thị trường mở trong quá trình đổi mới chính sách tiền tệ ở Việt Nam, 2017

    http://tapchitaichinh.vn/nghien-cuu--trao-doi/trao-doi-binh-luan/hoan-thien-nghiep-vu-thi-truong-mo-trong-qua-trinh-doi-moi-chinh-sach-tien-te-o-viet-nam-125575.html

    21. Mai Ngọc, 8 thành tựu nổi bật của chính sách tiền tệ ngân hàng năm 2015, 2015

    https://cafef.vn/tai-chinh-ngan-hang/8-thanh-tuu-noi-bat-cua-chinh-sach-tien-te-ngan-hang-nam-2015-2015122414480197.chn

    22. Phó thống đốc NHNN Nguyễn Thị Hồng, Thành công trong điều hành chính sách tiền tệ năm 2016, 2016

    http://tapchinganhang.gov.vn/thanh-cong-trong-dieu-hanh-chinh-sach-tien-te-nam-2015-trien-vong-va-dinh-huong-giai-phap-nam-2016.htm

    23. TS. Hà Thị Sáu, ThS. Vũ Mai Chi, Sử dụng công cụ nghiệp vụ thị trường mở trong phát triển thị trường tiền tệ Việt Nam, 2016

    https://www.sbv.gov.vn/webcenter/portal/vi/menu/rm/apph/tcnh/tcnh_chitiet?dDocName=SBV244674&p=2&_afrLoop=7014387654166412#%40%3F_afrLoop%3D7014387654166412%26centerWidth%3D80%2525%26dDocName%3DSBV244674%26leftWidth%3D20%2525%26p%3D2%26rightWidth%3D0%2525%26showFooter%3Dfalse%26showHeader%3Dfalse%26_adf.ctrl-state%3D14of9osqg6_4

    24. Kình Dương, 4 năm chính sách tiền tệ và những ‘lát cắt’ (Kỳ 3): Lãi suất, 2017

    https://vietnamfinance.vn/4-nam-chinh-sach-tien-te-va-nhung-lat-cat-ky-3-lai-suat-20171127171303592.htm

    25. Nhuệ Mẫn, Ngân hàng nhà nước chính thức giảm lãi suất điều hành thông điệp tiền tệ nới lỏng, 2019

    https://tinnhanhchungkhoan.vn/tien-te/ngan-hang-nha-nuoc-chinh-thuc-giam-lai-suat-dieu-hanh-thong-diep-tien-te-noi-long-278569.html

    26. Phạm Thanh Hà, Từng bước đổi mới điều hành CSTT, Đặc san toàn cảnh Ngân hàng Việt Nam 2019

    PHỤ LỤC

    Phụ lục 1: Mô hình chính sách tiền tệ



    Phụ lục 2: Tỷ lệ dự trữ bắt buộc 2015



    Phụ lục 3: Bảng dự trữ bắt buộc của Ngân hàng nhà nước theo văn bản số 1158/QĐ-NHNN ngày 29/05/2018 áp dụng từ ngày 01/06/2018

    Loại TCTD

    Tiền gửi VND

    Tiền gửi ngoại tệ

    Không kỳ hạn và có kỳ hạn dưới 12 tháng

    Kỳ hạn từ 12 tháng trở lên

    Tiền gửi của tổ chức tín dụng ở nước ngoài

    Tiền gửi khác không kỳ hạn và có kỳ hạn dưới 12 tháng

    Tiền gửi khác có kỳ hạn từ 12 tháng trở lên

    1. Quỹ tín dụng nhân dân, tổ chức tài chính vi mô

    0%

    0%

    0%

    0%

    0%

    2. Ngân hàng chính sách

    Theo quy định của Chính phủ

    Theo quy định của Chính phủ

    Theo quy định của Chính phủ

    Theo quy định của Chính phủ

    Theo quy định của Chính phủ

    3. Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam, ngân hàng hợp tác xã

    3%

    1%

    1%

    7%

    5%

    4. Tổ chức tín dụng khác

    3%

    1%

    1%

    8%

    6%

    Xem thêm: TỔNG HỢP BÀI TẬP NHÓM - BÀI TẬP LỚN - BÀI TẬP CÁ NHÂN - TIỂU LUẬN CÁC MÔN HLU

    Nếu bạn thấy những chia sẻ của mình hữu ích thì có thể donate ủng hộ mình 01 ly trà sữa nha: BIDV 4603463395

    Continue Reading

     

    MỞ ĐẦU

    Ngày 03/02/1930, tại Hương Cảng, Trung Quốc lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã triệu tập và chủ trì Hội nghị thành lập Đảng, dẫn tới sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam. Từ đây, cách mạng Việt Nam đã có một đảng cách mạng chân chính lãnh đạo nhân dân ta đứng lên lật đổ ách phong kiến và thực dân đô hộ, đem lại độc lập cho dân tộc, ấm no, tự do, hạnh phúc cho nhân dân. Sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam đã đánh dấu một bước phát triển quan trọng của cách mạng Việt Nam, đồng thời cũng thể hiện sự sáng tạo của Hồ Chí Minh trong việc vận dụng chủ nghĩa Mác – Lênin tại Việt Nam. Để tìm hiểu sâu hơn về vấn đề này, sau đây em xin trình bày về đề tài: Sự sáng tạo lý luận của Hồ Chí Minh về sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam.

    NỘI DUNG

    I. Quan điểm Hồ Chí Minh về sự thành lập Đảng Cộng sản

    Theo Hồ Chí Minh, cách mạnh trước hết phải có đảng cách mệnh, để trong thì vận động và tổ chức dân chúng, ngoài thì liên lạc với dân tộc bị áp bức và vô sản giai cấp ở mọi nơi. Đảng có vững, cách mệnh mới thành công, cũng như người cầm lái có vững thuyền mới chạy.

    Đảng Cộng sản Việt Nam do Hồ Chí Minh sáng lập và rèn luyện là một đảng chính trị tồn tại và phát triển theo quan điểm của Lênin về đảng kiểu mới của giai cấp vô sản. Theo học thuyết Mác – Lênin, trên thế giới, sự ra đời của một đảng cộng sản là sản phẩm của sự kết hợp chủ nghĩa xã hội khoa học với phong trào công nhân. Ở Việt Nam, Hồ Chí Minh cho rằng: Sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam là kết quả của sự kết hợp chủ nghĩa Mác – Lênin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước. Theo Hồ Chí Minh, Đảng Cộng sản Việt Nam phải là lực lượng tiến bộ trong dân tộc, là một tổ chức chính trị tiên phong, vững mạnh, có khả năng đề ra được đường lối và phương pháp cách mạng đúng đắn; có khả năng vận động, tổ chức, tập hợp toàn dân tộc và gắn cách mạng giải phóng dân tộc với cách mạng vô sản trên thế giới. Đồng thời Đảng phải có khả năng củng cố khối đại đoàn kết dân tộc, phát động cách mạng, lãnh đạo đưa cuộc cách mạng đi đến thắng lợi, thành công cuối cùng.

    Chủ nghĩa Mác – Lênin là cơ sở tư tưởng – lý luận dẫn đến sự thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam. Theo Hồ Chí Minh, chủ nghĩa Mác – Lênin là học thuyết, là nguyên tắc, quy luật chung của lịch sử để đi lên chủ nghĩa xã hội, là học thuyết chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mạng nhất. Tư tưởng Hồ Chí Minh về Đảng Cộng sản Việt Nam bắt nguồn từ học thuyết của Mác và học thuyết về đảng kiểu mới của giai cấp công nhân của Lênin.

    Hồ Chí Minh nhận thức rất rõ vai trò của chủ nghĩa Mác - Lênin như là cơ sở tư tưởng của phong trào công nhân. Người cũng nhận thức rõ vai trò của phong trào công nhân như là cơ sở xã hội của chủ nghĩa Mác - Lênin. Không có chủ nghĩa Mác - Lênin thì phong trào công nhân chỉ dừng lại ở trình độ “tự phát”. Không có phong trào công nhân thì chủ nghĩa Mác - Lênin không có đất để bám rễ. Dựa trên những quan điểm cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin về xây dựng Đảng, Hồ Chí Minh đã nghiên cứu tình hình thực tế của Việt Nam, một nước thuộc địa nửa phong kiến, kinh tế nông nghiệp lạc hậu, nông dân chiếm đa số, Người đã nhận ra được các đặc điểm của phong trào công nhân và phong trào yêu nước ở Việt Nam thời bấy giờ.

    Về phong trào công nhân, giai cấp công nhân Việt Nam là giai cấp tiên tiến nhất trong lực lượng sản xuất, là giai cấp cách mạng và giữ vai trò lãnh đạo, nhạy bén với cái mới, có truyền thống yêu nước, có tổ chức, kỷ luật, gắn bó mật thiết với giai cấp nông dân và các tầng lớp nhân dân lao động. Tuy nhiên, giai cấp công nhân Việt Nam lúc bấy giờ vẫn còn mỏng về số lượng, mật độ thưa thớt, trình độ, kinh nghiệm chiến đấu còn non, và còn mang nhiều đặc điểm tiểu nông do xuất phát từ nông dân.

    Về phong trào yêu nước, Người nhận thấy phong trào yêu nước ở nước ta đông về số lượng, mật độ dày, có nhiều kinh nghiệm chiến đấu, diễn ra sôi nổi, lôi cuốn được đông đảo nhân tham gia, tiêu biểu như phong trào Cần Vương, khởi nghĩa Yên Thế, phong trào Đông Du, phong trào Duy Tân… Tuy nhiên, các phong trào yêu nước diễn ra rời rạc, lẻ tẻ, không liên kết với nhau và thiếu một lực lượng có khả năng đề ra đường lối đấu tranh và lãnh đạo phong trào yêu nước đi đến thắng lợi cuối cùng nên các phong trào yêu nước ở Việt Nam lúc bấy giờ đều đi đến thất bại.

    Phong trào công nhân và phong trào yêu nước đều có những điểm mạnh, điểm yếu riêng nhưng hai phong trào đều có mục tiêu chung là giải phóng dân tộc, làm cho Việt Nam hoàn toàn độc lâp, nhân dân Việt Nam có cuộc sống tự do, hạnh phúc. Nhận thức được điều đó, Hồ Chí Minh thấy rõ tầm quan trọng của việc liên kết phong trào công nhân và phong trào yêu nước để tạo nên sức mạnh to lớn đưa cách mạng đi đến thắng lợi cuối cùng. 

    II. Sự sáng tạo lý luận của Hồ Chí Minh về sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam

    Hồ Chí Minh tiếp thu những tinh hoa của chủ nghĩa Mác – Lênin, tuy nhiên không áp dụng một cách máy móc, rập khuôn mà vận dụng một cách sáng tạo phù hợp hoàn cảnh của Việt Nam. Sự sáng tạo lý luận của Hồ Chí Minh về sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam được thể hiện dưới một số phương diện sau đây.

    1. Sự sáng tạo của Hồ Chí Minh trong việc kết hợp yếu tố dân tộc và yếu tố giai cấp để thành lập Đảng Cộng sản

    Theo nguyên lý của chủ nghĩa Mác - Lênin, Đảng Cộng sản ra đời là sản phẩm của sự kết hợp giữa chủ nghĩa Mác - Lênin với phong trào công nhân. Tuy nhiên, trong điều kiện Việt Nam và các nước thuộc địa còn lạc hậu, Hồ Chí Minh cho rằng, Việt Nam chưa có đủ những tiền đề cơ bản để Đảng Cộng sản ra đời như ở Nga và một số nước khác. Do đó, Hồ Chí Minh đã sáng tạo trong việc kết hợp nhân tố dân tộc và nhân tố giai cấp để thành lập Đảng Cộng sản tại Việt Nam. Nhân tố dân tộc là chủ nghĩa yêu nước, nhân tố giai cấp là chủ nghĩa Mác - Lênin và phong trào công nhân. Trong điều kiện giai cấp công nhân Việt Nam chưa phát triển về số lượng đủ để tổ chức thành lập Đảng Cộng sản, Hồ Chí Minh coi trọng việc truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin vào phong trào công nhân và phong trào yêu nước Việt Nam. 

    Hồ Chí Minh đánh giá rất cao phong trào yêu nước. Phong trào yêu nước ở Việt Nam có từ rất sớm và kết tinh thành chủ nghĩa yêu nước, trở thành giá trị đạo đức tốt đẹp, giá trị tinh thần trường tồn của dân tộc. Ở Việt Nam, phong trào yêu nước có trước phong trào công nhân. Khi giai cấp công nhân ra đời và có phong trào đấu tranh thì phong trào yêu nước không bài xích, không đối lập mà kết hợp với phong trào công nhân. Điểm nổi bật của quá trình kết hợp chủ nghĩa Mác - Lênin với các phong trào công nhân và phong trào yêu nước là đã làm chuyển hóa những người yêu nước thành người cộng sản. 

    Bằng việc tổ chức Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên, gồm những người thanh niên yêu nước có học vấn, Hồ Chí Minh đã truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin vào phong trào công nhân và phong trào yêu nước Việt Nam. Hai phong trào này hấp thụ mạnh mẽ chủ nghĩa Mác - Lênin tạo nên sự thay đổi về chất, trở thành hành động cách mạng của các giai cấp, tầng lớp trong dân tộc Việt Nam. Các hoạt động của Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên đã làm nhiệm vụ chuẩn bị về chính trị, tư tưởng và tổ chức cho sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam. Phương thức truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin vào phong trào công nhân và phong trào yêu nước Việt Nam là sáng tạo của Hồ Chí Minh trên con đường thành lập Đảng.      

    Thời kỳ 1927 - 1929 là thời kỳ chuyển biến của cách mạng Việt Nam. Phong trào công nhân Việt Nam chuyển từ tự phát đến tự giác, phong trào yêu nước phát triển với chất lượng mới. Thực tế đó chứng tỏ chủ nghĩa Mác - Lênin và những tư tưởng cách mạng của Hồ Chí Minh đã thật sự thâm nhập vào phong trào công nhân và phong trào yêu nước, tạo nên làn sóng cách mạng dân tộc, dân chủ mạnh mẽ, tạo điều kiện chín muồi cho sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam. Trải qua quá trình chuẩn bị chu đáo về chính trị, tư tưởng và tổ chức, Hồ Chí Minh thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam vào đầu năm 1930. Sau này, Người đã tổng kết thành một luận điểm quan trọng: Chủ nghĩa Mác - Lênin kết hợp với phong trào công nhân và phong trào yêu nước đã dẫn đến việc thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam. Kết hợp nhân tố dân tộc và nhân tố giai cấp trong thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam là sáng tạo nổi bật của Hồ Chí Minh.  

    2. Sự sáng tạo của Hồ Chí Minh trong xác định nhiệm vụ hàng đầu của cách mạng Việt Nam

     Để đưa yếu tố dân tộc là phong trào yêu nước kết hợp với yếu tố giai cấp là chủ nghĩa Mác – Lênin và phong trào công nhân, Hồ Chí Minh đã kết hợp và giải quyết một cách nhuần nhuyễn giữa vấn đề dân tộc và giai cấp, giải phóng dân tộc và giải phóng giai cấp. Người đã không coi hai nhiệm vụ đó ngang nhau, mà đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu, còn nhiệm vụ giai cấp thì được tiến hành từng bước. Đó là cách nhìn thực tế, phân tích thấu đáo thái độ các giai cấp, tầng lớp trong xã hội Việt Nam lúc bấy giờ của Hồ Chí Minh. Người đã hóa giải khôn khéo những đối kháng về quyền lợi của các giai cấp, tầng lớp xã hội trong những điều kiện lịch sử cụ thể để tập trung cho lợi ích toàn cục.

    Chính vì vậy, Đảng Cộng sản Việt Nam đã trở thành Đảng của giai cấp công nhân, của nhân dân lao động, đồng thời cũng là Đảng của cả dân tộc Việt Nam - một Đảng mang bản chất giai cấp công nhân, nhưng có tính chất quần chúng rộng rãi, tính nhân dân, tính dân tộc sâu sắc.

    3. Sự sáng tạo của Hồ Chí Minh trong việc xác định lực lượng tiến hàng cách mạng

    Chủ nghĩa Mác - Lênin chỉ rõ: Liên minh giữa giai cấp công nhân và giai cấp nông dân là động lực của cách mạng vô sản. Vận dụng sáng tạo quan điểm đó vào thực tiễn cách mạng Việt Nam, Hồ Chí Minh khẳng định: Công nông là chủ cách mệnh, bên cạnh đó Người cũng chỉ ra: học trò, nhà buôn, điền chủ nhỏ là bầu bạn cách mệnh của công nông.  Đây chính là chủ trương tập hợp tất cả các giai cấp, tầng lớp, lực lượng có tinh thần yêu nước, tinh thần cách mạng đứng về phe công nông, tạo nên sức mạnh tổng hợp cho cách mạng, đồng thời phân hóa, cô lập kẻ thù, là sáng tạo độc đáo của Hồ Chí Minh trong huy động sức mạnh toàn dân làm cách mạng.

    Để thực hiện được việc tập hợp lực lượng toàn dân tộc, Hồ Chí Minh nhấn mạnh đến tính tiên phong và vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản. Tính tiên phong của Đảng, theo Người là thể hiện ở đường lối chính trị đúng đắn. Trong Lời kêu gọi nhân thành lập Đảng và các văn kiện thông qua tại Hội nghị thành lập Đảng, các bài viết cũng như thư gửi Trung ương Đảng và Quốc tế Cộng sản trong những năm 30 thế kỷ XX, Hồ Chí Minh đã khẳng định tính tiên phong và vai trò lãnh đạo của Đảng trong việc tổ chức, tập hợp, đoàn kết dân tộc đấu tranh cho quyền lợi của dân tộc và của giai cấp.

    4. Sự sáng tạo của Hồ Chí Minh trong việc đặt tên Đảng và chủ trương giải quyết vấn đề dân tộc trong khuôn khổ mỗi nước Đông Dương

    Mặc dù Quốc tế Cộng sản có chỉ thị thành lập một Đảng Cộng sản chung cho ba dân tộc Đông Dương, tuy nhiên, tại Hội nghị thành lập Đảng, Hồ Chí Minh cho rằng từ Đông Dương rất rộng và không thể bắt buộc các dân tộc khác gia nhập Đảng; còn từ Việt Nam hợp với cả ba miền và cũng không trái với nguyên lý của chủ nghĩa Mác - Lênin về vấn đề dân tộc, nên Hội nghị nhất trí đặt tên là Đảng Cộng sản Việt Nam. 

    Chủ trương đó của Người tuân thủ những nguyên lý xây dựng đảng kiểu mới của chủ nghĩa Mác - Lênin, có tính đến yếu tố dân tộc, nhằm thức tỉnh ý thức dân tộc, khơi dậy sức mạnh của ba dân tộc Đông Dương, đồng thời tạo ra sự tin cậy về chính trị để đoàn kết, giúp đỡ nhau một cách tự nguyện, bình đẳng và có hiệu quả.

    KẾT LUẬN

    Những sáng tạo của Hồ Chí Minh trong quá trình thành lập đảng cộng sản ở một nước thuộc địa đã được thực tế cách mạng Việt Nam kiểm chứng là đúng đắn và khoa học. Sự sáng tạo của Hồ Chí Minh không chỉ có giá trị đặc biệt đối với sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc Việt Nam mà còn là sự đóng góp quan trọng vào kho tàng lý luận Mác - Lênin. Thực tiễn hơn 90 năm qua cũng cho thấy sự lãnh đạo của Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Ngày nay, những tư tưởng của Hồ Chí Minh vẫn còn nguyên giá trị, soi sáng cho toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

    DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

    1. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2019), Giáo trình Tư tưởng Hồ Chí Minh, NXB Giáo dục, Hà Nội

    2. Anh Võ (2021), Sự sáng tạo của Nguyễn Ái Quốc trong hành trình tìm đường cứu nước đầu thế kỷ XX, Đảng bộ tỉnh Sóc Trăng, https://soctrang.dcs.vn/Default.aspx?sname=tinhuy&sid=4&pageid=469&catid=54392&id=288643&catname=Ti%u00eau+%u0111i%u1ec3m&title=su-sang-tao-cua-nguyen-ai-quoc-trong-hanh-trinh-tim-duong-cuu-nuoc-dau-the-ky-xx (truy cập ngày 13/11/2021)

    3. Lê Thị Huyền (2021), Sự sáng tạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong kết hợp yếu tố dân tộc và giai cấp trong quá trình chuẩn bị thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, Báo Thanh Hóa, https://baothanhhoa.vn/xay-dung-dang/su-sang-tao-cua-chu-tich-ho-chi-minh-trong-ket-hop-yeu-to-dan-toc-va-giai-cap-trong-qua-trinh-chuan-bi-thanh-lap-dang-cong-san-viet-nam/131126.htm (truy cập ngày 13/11/2021)

    4. PGS. TS. Lê Văn Yên (2013), Những sáng tạo của Hồ Chí Minh trong việc thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, Lý luận Chính trị, http://lyluanchinhtri.vn/home/index.php/nguyen-cuu-ly-luan/item/236-nhung-sang-tao-cua-ho-chi-minh-trong-viec-thanh-lap-dang-cong-san-viet-nam.html (truy cập ngày 13/11/2021)

    5. Nguyễn Thị Nga (2010), Quan điểm sáng tạo trong Tư tưởng Hồ Chí Minh về quy luật ra đời của Đảng, Báo Đồng Khởi, https://baodongkhoi.vn/quan-diem-sang-tao-trong-tu-tuong-ho-chi-minh-ve-quy-luat-ra-doi-cua-dang-03122010-a16358.html (truy cập ngày 13/11/2021)

    6. ThS. Phan Văn Thuận (2020), Sự sáng tạo đặc biệt và cống hiến to lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, Trường Chính trị Tỉnh Bến Tre, http://truongchinhtribentre.edu.vn/content/s%E1%BB%B1-s%C3%A1ng-t%E1%BA%A1o-%C4%91%E1%BA%B7c-bi%E1%BB%87t-v%C3%A0-c%E1%BB%91ng-hi%E1%BA%BFn-l%E1%BB%9Bn-c%E1%BB%A7a-ch%E1%BB%A7-t%E1%BB%8Bch-h%E1%BB%93-ch%C3%AD-minh-trong-th%C3%A0nh-l%E1%BA%ADp-%C4%91%E1%BA%A3ng-c%E1%BB%99ng-s%E1%BA%A3n (truy cập ngày 13/11/2021)

    7. Trần Nho Tuấn (2018), Những sáng tạo của Hồ Chí Minh trong việc thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, Học viện Lục quân, http://hvlq.vn/trang-chu/hoc-tap-va-lam-theo-tu-tuong-dao-duc-phong-cach-ho-chi-minh/tu-tuong-ho-chi-minh/nhung-sang-tao-cua-ho-chi-minh-trong-viec-thanh-lap-dang-con.html (truy cập ngày 13/11/2021)

    Xem thêm: TỔNG HỢP BÀI TẬP NHÓM - BÀI TẬP LỚN - BÀI TẬP CÁ NHÂN - TIỂU LUẬN CÁC MÔN HLU

    Nếu bạn thấy những chia sẻ của mình hữu ích thì có thể donate ủng hộ mình 01 ly trà sữa nha: BIDV 4603463395

    Continue Reading

     ĐỀ BÀI

    Ngày 15/11/2016, Công ty TNHH thương mại và xây dựng V ký hợp đồng mua 223 tấn thép loại phi 28 của Công ty cổ phần xuất nhập khẩu thép K. Trong hợp đồng hai bên đã thỏa thuận: “Mọi tranh chấp phát sinh từ hợp đồng này được giải quyết tại Trung tâm trọng tài thương mại M theo thủ tục tố tụng trọng tài quy định tại Quy tắc tố tụng của Trung tâm trọng tài thương mại M”.

    Sau khi giao tiền và nhận đủ 223 tấn thép tại kho của Công ty K, Công ty V phát hiện Công ty K đã giao thép phi 26 nên đã yêu cầu Công ty K thực hiện đúng hợp đồng và gia hạn cho Công ty K giao hàng vào ngày 20/11/2016. Tuy nhiên, Công ty K vẫn không thực hiện giao hàng như đã thỏa thuận trong hợp đồng. 

    Ngày 25/11/2016, Công ty V đã làm đơn kiện Công ty K và gửi đến Trung tâm trọng tài thương mại M có trụ sở tại quận CG, thành phố HN. Ngày 30/11/2016, Chủ tịch Trung tâm trọng tài M đã ra quyết định thành lập Hội đồng trọng tài gồm ba trọng tài viên để giải quyết tranh chấp về hợp đồng mua bán hàng hóa giữa Công ty V và Công ty K.

    Ngày 15/12/2016, Hội đồng trọng tài đã mở phiên họp và ra phán quyết buộc Công ty K phải bồi thường thiệt hại là 293 triệu đồng cho Công ty V. Công ty K đã làm đơn yêu cầu Tòa án quận CG tuyên hủy phán quyết trọng tài vì trong hợp đồng mua bán thép các bên không có thỏa thuận về việc bồi thường thiệt hại. Tòa án nhân dân quận CG đã thụ lý đơn và chỉ định Hội đồng xét đơn yêu cầu hủy phán quyết trọng tài của Công ty K. Hội đồng xét đơn đã ra quyết định không hủy phán quyết trọng tài với lý do chế tài bồi thường thiệt hại là chế tài đương nhiên, không cần các bên thỏa thuận trong hợp đồng.

    Căn cứ vào pháp luật hiện hành, hãy cho biết:

    1. Xác định thẩm quyền giải quyết tranh chấp của Trung tâm trọng tài thương mại M.

    2. Việc thành lập Hội đồng trọng tài của Chủ tịch Trung tâm trọng tài thương mại M có hợp pháp không? Giải thích rõ.

    3. Tòa án nhân dân quận CG có thẩm quyền thụ lý đơn yêu cầu hủy phán quyết trọng tài của Công ty K không? Tại sao?

    4. Lý do Hội đồng xét đơn xét đơn ra quyết định không hủy phán quyết trọng tài có hợp pháp không? Vì sao?

    5. Phân tích các căn cứ hủy phán quyết trọng tài theo quy định của pháp luật hiện hành



    I. Xác định thẩm quyền giải quyết tranh chấp của Trung tâm trọng tài thương mại M.

    1. Thẩm quyền của Trọng tài đối với vụ tranh chấp

    Theo quy định tại Điều 2 Luật Trọng tài thương mại 2010 (“Luật TTTM”), Trọng tài có thẩm quyền giải quyết tranh chấp đối với:

    (i) Tranh chấp giữa các bên phát sinh từ hoạt động thương mại

    (ii) Tranh chấp phát sinh giữa các bên trong đó ít nhất một bên có hoạt động thương mại

    (iii) Tranh chấp khác giữa các bên mà pháp luật quy định được giải quyết bằng Trọng tài. 

    (trừ trường hợp hướng dẫn tại khoản 3 Điều 2 Nghị quyết 01/2014/NQ/HĐTP hướng dẫn thi hành một số quy định Luật TTTM) 

    Trong tình huống trên, công ty TNHH thương mại và xây dựng V (“Nguyên đơn”) ký hợp đồng mua 223 tấn thép loại phi 28 của công ty CP xuất nhập khẩu thép K (“Bị đơn”). Đây là hợp đồng mua bán hàng hoá, hai bên trong vụ tranh chấp đã thực hiện hoạt động thương mại . Vì vậy, theo khoản 1 Điều 2 Luật TTTM, Trọng tài có thẩm quyền giải quyết vụ tranh chấp này.

    2. Thẩm quyền của Trung tâm trọng tài M

    Trong hợp đồng mua bán hai bên đã thỏa thuận: “Mọi tranh chấp phát sinh từ hợp đồng này được giải quyết tại Trung tâm trọng tài thương mại M theo thủ tục tố tụng trọng tài quy định tại Quy tắc tố tụng của Trung tâm trọng tài thương mại M”. Như vậy, nhóm 6 nhận thấy: (i) đã tồn tại một thỏa thuận trọng tài giữa các bên dưới hình thức điều khoản trọng tài, thoả thuận trọng tài thể hiện rõ ý chí của các bên tham gia trong việc lựa chọn phương thức giải quyết tranh chấp bằng trọng tài và Trung tâm trọng tài M (“Trung tâm”) là tổ chức trọng tài được chọn; (ii) thoả thuận trọng tài đã đáp ứng các yêu cầu về hình thức của thoả thuận trọng tài quy định tại Điều 16 Luật TTTM; (iii) thoả thuận trọng tài nói trên không thuộc trường hợp thoả thuận trọng tài vô hiệu quy định tại Điều 18 của Luật TTTM. 

    Từ những phân tích trên, nhóm 6 cho rằng: Trung tâm trọng tài M là tổ chức trọng tài đã được các bên thống nhất lựa chọn và có đủ thẩm quyền thụ lý vụ tranh chấp theo Đơn kiện của Nguyên đơn. Trọng tài viên của Trung tâm trọng tài thương mại M có thẩm quyền giải quyết vụ tranh chấp theo Quy tắc tố tụng của Trung tâm.

    3. Mối quan hệ giữa thẩm quyền của Trung tâm trọng tài và Trọng tài viên của trung tâm

    Theo Điều 23 Luật TTTM, Trung tâm trọng tài có chức năng “tổ chức, điều phối hoạt động giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài quy chế và hỗ trợ Trọng tài viên về các mặt hành chính, văn phòng và các trợ giúp khác trong quá trình tố tụng trọng tài”. Có thể thấy, pháp luật hiện hành quy định chức năng của các Trung tâm trọng tài tập trung vào hoạt động quản lý về trình tự, thủ tục của các vụ tranh chấp mà không bao gồm việc giải quyết tranh chấp. Ngoài ra, theo Điều 28 Luật TTTM, thẩm quyền giải quyết tranh chấp cũng không được trao cho Trung tâm trọng tài. Trên thực tế, hầu hết các tổ chức Trọng tài đều có quy định tổ chức Trọng tài đó giải quyết tranh chấp thông qua một Hội đồng trọng tài. Ví dụ khoản 2 Điều 1 Quy tắc của Toà án Trọng tài Quốc tế (ICC), có hiệu lực từ ngày 01 tháng 01 năm 2021, quy định: “Tòa trọng tài không tự mình giải quyết tranh chấp. Nó quản lý việc giải quyết tranh chấp của Hội đồng trọng tài phù hợp với quy tắc trọng tài ICC.” ; hoặc khoản 1 Điều 38 Quy tắc tố tụng trọng tài của Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt nam (VIAC), có hiệu lực từ ngày 01 tháng 3 năm 2017, quy định: “Trung tâm không tự mình giải quyết các vụ tranh chấp. Việc giải quyết các vụ tranh chấp được tiến hành bởi Hội đồng Trọng tài.” 

    Do đó, có thể nhận định rằng, Trung tâm Trọng tài và Hội đồng Trọng tài do Trung tâm thành lập là hai thực thể khác nhau và giữ vai trò khác nhau trong quá trình tố tụng trọng tài nhưng có mối quan hệ song hành và không thể tách rời. 

    II. Việc thành lập Hội đồng trọng tài của Chủ tịch Trung tâm trọng tài thương mại M có hợp pháp không? Giải thích rõ.

    Theo thoả thuận trọng tài giữa các Bên, việc giải quyết tranh chấp phát sinh từ Hợp đồng được giải quyết tại Trung tâm trọng tài M. Vì vậy, hình thức giải quyết vụ tranh chấp này, bao gồm việc thành lập Hội đồng trọng tài, được tiến hành theo quy định của Luật TTTM và quy tắc tố tụng của Trung tâm. Việc thành lập Hội đồng trọng tài tại Trung tâm trọng tài được quy định cụ thể tại Điều 40 Luật TTTM . Theo đó, quy trình thực hiện quá trình thành lập Hội đồng trọng tài có thể được thực hiện theo (i) sự thoả thuận của các Bên, (ii) quy tắc tố tụng của Trung tâm trọng tài (nếu Trung tâm trọng tài có quy định khác so với quy trình tại Điều 40), hoặc (iii) quy định về thủ tục và thời hạn tại Điều 40 Luật TTTM (trong trường hợp các Bên không có thoả thuận khác hoặc quy tắc tố tụng của Trung tâm trọng tài không quy định khác). Như vậy, để kết luận việc thành lập Hội đồng trọng tài của Chủ tịch Trung tâm trọng tài thương mại M có hợp pháp hay không, ta cần dựa vào từng trường hợp cụ thể:          

    1. Trường hợp 1. Việc thành lập Hội đồng trọng tài được tiến hành theo thoả thuận của các bên hoặc theo quy tắc tố tụng của Trung tâm

    Trong trường hợp các bên có thỏa thuận hoặc quy tắc tố tụng của Trung tâm có quy định rằng Chủ tịch Trung tâm có thẩm quyền chỉ định Trọng tài viên thay cho các bên, từ đó thành lập Hội đồng trọng tài để giải quyết vụ việc, việc thành lập Hội đồng trọng tài của Chủ tịch Trung tâm trọng tài thương mại M là hợp pháp.

    2. Trường hợp 2. Việc thành lập Hội đồng trọng tài được tiến hành theo quy định tại Điều 40 Luật TTTM

    Trường hợp các bên không có thỏa thuận khác hoặc quy tắc tố tụng của Trung tâm trọng tài không quy định khác, việc thành lập Hội đồng trọng tài được tiến hành theo quy định tại Điều 40 Luật TTTM. Trong trường hợp này, Trung tâm có nghĩa vụ yêu cầu bị đơn chọn Trọng tài viên. 

    Nếu Chủ tịch Trung tâm ra quyết định thành lập Hội đồng trọng tài gồm ba trọng tài viên để giải quyết tranh chấp mà không gửi yêu cầu nêu trên đến bị đơn, việc ra quyết định của Chủ tịch Trung tâm bị coi là không hợp pháp, vi phạm quy định pháp luật về thẩm quyền và thủ tục tố tụng.

    Nếu Chủ tịch Trung tâm đã gửi yêu cầu bị đơn chọn Trọng tài viên, các bước tiếp theo để thành lập Hội đồng trọng tài gồm 03 Trọng tài viên  phải tuân thủ thời hạn quy định tại khoản 1 và khoản 3 Điều 40 Luật TTTM. Theo đó, việc thành lập Hội đồng trọng tài được tiến thành như sau: Sau khi gửi yêu cầu chọn Trọng tài viên tới bị đơn, Chủ tịch Trung tâm có thẩm quyền chỉ định trọng tài viên giải quyết vụ tranh chấp cho bị đơn chỉ khi (i) đề nghị Chủ tịch Trung tâm trọng tài chỉ định Trọng tài viên, hoặc (ii) bị đơn không chọn Trọng tài viên hoặc không đề nghị Chủ tịch Trung tâm chỉ định Trọng tài viên trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được yêu cầu nêu trên. Trong vòng 15 ngày kể từ ngày được các bên chọn hoặc Chủ tịch Trung tâm chỉ định, các Trọng tài viên này tiến hành bầu một Trọng tài viên khác làm Chủ tịch Hội đồng trọng tài. Hết thời hạn này mà việc bầu không thực hiện được, trong vòng 07 ngày, Chủ tịch Trung tâm chỉ định Chủ tịch Hội đồng trọng tài. Giả thiết rằng trong vòng 05 ngày kể từ ngày nhận đơn khởi kiện của Nguyên đơn, Trung tâm đã gửi yêu cầu chọn trọng tài viên tới bị đơn, sau đó Chủ tịch Trung tâm đã ra quyết định thành lập Hội đồng trọng tài gồm ba trọng tài viên giải quyết vụ tranh chấp: 

    * Nếu bị đơn chọn Trọng tài viên sau khi nhận được yêu cầu của Trung tâm

    Khi đó, việc ra quyết định thành lập Hội đồng trọng tài gồm 03 trọng tài viên của Chủ tịch Trung tâm vào ngày 30/11/2016 sẽ chỉ hợp pháp nếu tất cả các bước sau được thực hiện trong thời hạn 05 ngày: (i) bị đơn chọn trọng tài viên hoặc đề nghị Trung tâm chọn trọng tài viên, và (ii) các Trọng tài viên của hai bên tiến hành bầu một Trọng tài viên khác làm Chủ tịch Hội đồng trọng tài. Trên thực tế, điều này là bất khả thi bởi sau khi nhận đơn khởi kiện, các Trung tâm trọng tài cần tiến hành các bước thủ tục như xem xét hồ sơ tài liệu, yêu cầu nguyên đơn nộp phí,… trước khi gửi đơn khởi kiện và yêu cầu chọn trọng tài viên đến bị đơn. 05 ngày là thời gian quá ngắn để làm các công việc đó cùng với các điều kiện (i) và (ii) nêu trên. Vì vậy, trong trường hợp thành lập Hội đồng trọng tài được theo quy định tại Điều 40 Luật TTTM, việc Chủ tịch Trung tâm trọng tài thương mại M ra quyết định thành lập Hội đồng trọng tài gồm 03 trọng tài viên, theo quan điểm của nhóm, là không phù hợp với quy định pháp luật. 

    * Nếu bị đơn không chọn Trọng tài viên hoặc đề nghị Trung tâm chỉ định Trọng tài viên 

    Khi đó, ít nhất phải 30 ngày kể từ ngày bị đơn nhận được yêu cầu chọn trọng Trọng tài viên, Chủ tịch trung tâm mới có thể ra quyết định chỉ định Trọng tài viên cho bị đơn và tiến hành các bước tố tụng tiếp theo. Trong tình huống đề bài, thời gian từ ngày công ty V kiện công ty K ra Trung tâm trọng tài thương mại M đến ngày Chủ tịch Trung tâm trọng tài thương mại M thành lập Hội đồng trọng tài là 05 ngày, ngắn hơn rất nhiều so với thời gian ước tính trên. Vì thế, việc Chủ tịch Trung tâm trọng tài thương mại M ra quyết định thành lập Hội đồng trọng tài gồm 03 trọng tài viên là không hợp pháp trong trường hợp này.

    III. Tòa án nhân dân quận CG có thẩm quyền thụ lý đơn yêu cầu hủy phán quyết trọng tài của Công ty K không? Tại sao?

    Tòa án nhân dân quận CG không có thẩm quyền thụ lý đơn yêu cầu hủy phán quyết trọng tài của công ty K. Bởi lẽ:

    Điểm g khoản 2 Điều 7 Luật TTTM quy định: “Đối với yêu cầu hủy phán quyết trọng tài, đăng ký phán quyết trọng tài vụ việc thì Tòa án có thẩm quyền là Tòa án nơi Hội đồng trọng tài đã tuyên phán quyết trọng tài”.

    Mặt khác, khoản 3 Điều 7 Luật TTTM quy định: “Tòa án có thẩm quyền đối với hoạt động trọng tài quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này là Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương”. 

    Như vậy, thẩm quyền thụ lý đơn yêu cầu hủy phán quyết trọng tài của công ty K là tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nơi Hội đồng trọng tài ra phán quyết. 

    Do đó, tòa án nhân dân quận CG không có thẩm quyền thụ lý đơn yêu cầu hủy phán quyết trọng tài của công ty K.

    IV. Lý do Hội đồng xét đơn xét đơn ra quyết định không hủy phán quyết trọng tài có hợp pháp không? Vì sao?

    Theo quy định của pháp luật hiện hành, các căn cứ huỷ phán quyết trọng tài được quy định tại khoản 2 Điều 68 Luật TTTM, cụ thể:

    (1) Không có thỏa thuận trọng tài hoặc thỏa thuận trọng tài vô hiệu;

    (2) Thành phần Hội đồng trọng tài, thủ tục tố tụng trọng tài không phù hợp với thỏa thuận của các bên hoặc trái với các quy định của Luật TTTM;

    (3) Vụ tranh chấp không thuộc thẩm quyền của Hội đồng trọng tài; trường hợp phán quyết trọng tài có nội dung không thuộc thẩm quyền của Hội đồng trọng tài thì nội dung đó bị hủy;

    (4) Chứng cứ do các bên cung cấp và Hội đồng trọng tài căn cứ vào đó để ra phán quyết là giả mạo; Trọng tài viên nhận tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác của một bên tranh chấp làm ảnh hưởng đến tính khách quan, công bằng của phán quyết trọng tài.

    (5) Phán quyết trọng tài trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam.

    Bên cạnh đó, khoản 2 Điều 15 Nghị quyết 01/2014/NQ-HĐTP quy định: “Khi xét đơn yêu cầu, Hội đồng xét đơn không xét lại nội dung vụ tranh chấp mà cần kiểm tra phán quyết trọng tài có thuộc một trong các trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 68 Luật TTTM hay không. Nếu xét thấy phán quyết trọng tài thuộc một trong các trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 68 Luật TTTM và Hội đồng trọng tài không khắc phục hoặc không thể khắc phục được theo yêu cầu của Tòa án quy định tại khoản 7 Điều 71 Luật TTTM, thì Hội đồng xét đơn yêu cầu căn cứ vào điểm tương ứng tại khoản 2 Điều 68 Luật TTTM để ra quyết định huỷ phán quyết trọng tài.”

    Theo tình huống đã cho, công ty K đã làm đơn yêu cầu Tòa án quận CG tuyên hủy phán quyết trọng tài, với lý do là trong hợp đồng mua bán thép các bên không có thỏa thuận về việc bồi thường thiệt hại. Đây không phải là một trong các căn cứ theo khoản 2 Điều 68 Luật TTTM để Tòa án có quyền hủy phán quyết trọng tài.

    Tiếp đó, khi Hội đồng xét đơn được chỉ định để xem xét việc hủy phán quyết trọng tài, Hội đồng xét đơn đã ra quyết định không hủy phán quyết trọng tài với lý do chế tài bồi thường thiệt hại là chế tài đương nhiên, không cần các bên thỏa thuận trong hợp đồng. Việc đưa ra lý do này có nghĩa là Hội đồng xét đơn đã xét lại nội dung vụ tranh chấp khi xét đơn yêu cầu. Điều này là trái với quy định tại khoản 2 Điều 15 Nghị quyết 01/2014/NQ-HĐTP.

    Như vậy, lý do mà Hội đồng xét đơn đưa ra để không hủy phán quyết trọng tài là không hợp pháp. Hội đồng xét đơn cần đưa ra quyết định không hủy phán quyết trọng tài với lý do: “Lý do đề nghị hủy phán quyết trọng tài của công ty K không thuộc các trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 68 Luật Trọng tài thương mại 2010. Do đó, không có căn cứ để hủy phán quyết trọng tài.”

    V. Phân tích các căn cứ hủy phán quyết trọng tài theo quy định của pháp luật hiện hành

    Khác với bản án do Toà án nhân dân các cấp tuyên, phán quyết trọng tài có giá trị chung thẩm. Theo đó, các bên phải tự nguyện thi hành phán quyết mà không được kháng cáo, kháng nghị. Tuy nhiên, điều này không có nghĩa rằng các bên bắt buộc phải thi hành phán quyết trọng tài trong mọi trường hợp, kể cả khi phán quyết đó có sai sót. Điều 68 Luật TTTM đã quy định chi tiết về căn cứ huỷ phán quyết trọng tài. Theo đó, một phán quyết trọng tài chỉ có thể bị huỷ khi phán quyết đó đáp ứng cả 2 điều kiện dưới đây:

    Điều kiện 1: Một bên yêu cầu Tòa án xem xét huỷ phán quyết trọng tài (Khoản 1 Điều 68 Luật TTTM)

    Đây là điều kiện tiên quyết để một phán quyết trọng tài được Tòa án xem xét có hủy hay không. Quy định này được đặt ra nhằm đảm bảo rằng Tòa án sẽ không can thiệp vào hoạt động giải quyết tranh chấp của Hội đồng trọng tài, kể cả khi phán quyết đã được đưa ra, nếu như không có sự yêu cầu của một bên đương sự trong vụ tranh chấp. Nói cách khác, Tòa án sẽ không thể tự động can thiệp vào việc thi hành bình thường của một phán quyết trọng tài, nếu như không có yêu cầu của một bên.

    Điều kiện 2: Phán quyết trọng tài thuộc vào một trong năm trường hợp được quy định tại Khoản 2 Điều 68 Luật TTTM

    (1) Không có thoả thuận trọng tài hoặc thỏa thuận trọng tài vô hiệu (điểm a khoản 2 Điều 68)

    Theo điểm a khoản 2 Điều 14 Nghị quyết 01/2014/NQ-HĐTP: “Không có thoả thuận trọng tài hoặc thỏa thuận trọng tài vô hiệu” là thỏa thuận trọng tài thuộc một trong các trường hợp quy định tại Điều 6 và Điều 18 Luật TTTM và hướng dẫn tại các điều 2, 3 và 4 Nghị quyết này.”

    Cụ thể, một phán quyết trọng tài sẽ bị Toà án tuyên huỷ theo căn cứ này nếu như các bên tranh chấp không có thoả thuận về việc giải quyết bằng Trọng tài đối với tranh chấp có thể phát sinh hoặc đã phát sinh trước đó; hoặc nếu có thỏa thuận trọng tài, thì thoả thuận đó bị vô hiệu do thuộc vào một trong các trường hợp được quy định tại Điều 18 Luật TTTM. Theo đó, một thỏa thuận trọng tài có thể bị vô hiệu nếu (i) các bên thỏa thuận sử dụng trọng tài để giải quyết một tranh chấp không thuộc phạm vi tranh chấp thương mại được quy định tại Điều 2 của Luật TTTM; (ii) người xác lập thoả thuận trọng tài không có thẩm quyền hoặc không có năng lực hành vi dân sự; (iii) thoả thuận trọng tài vi phạm điều cấm của luật hoặc vi phạm quy định về hình thức; (iv) thoả thuận trọng tài được xác lập không dựa trên sự tự do ý chí của cả 2 bên.

    Như vậy, có thể nhận thấy, những điều kiện để một thỏa thuận trọng tài vô hiệu khá tương đồng với những điều kiện để một giao dịch dân sự vô hiệu theo pháp luật dân sự.

    (2) Thành phần Hội đồng trọng tài, thủ tục tố tụng trọng tài không phù hợp với thỏa thuận của các bên hoặc trái với các quy định của Luật TTTM (điểm b khoản 2 Điều 68)

    Theo điểm b khoản 2 Điều 14 Nghị quyết 01/2014/NQ-HĐTP: “Thành phần Hội đồng trọng tài, thủ tục tố tụng trọng tài không phù hợp với thỏa thuận của các bên hoặc trái với các quy định Luật TTTM” là trường hợp các bên có thỏa thuận về thành phần Hội đồng trọng tài, quy tắc tố tụng trọng tài nhưng Hội đồng trọng tài thực hiện không đúng thỏa thuận của các bên hoặc Hội đồng trọng tài thực hiện không đúng quy định Luật TTTM về nội dung này mà Tòa án xét thấy đó là những vi phạm nghiêm trọng và cần phải hủy nếu Hội đồng trọng tài không thể khắc phục được hoặc không khắc phục theo yêu cầu của Tòa án quy định tại khoản 7 Điều 71 Luật TTTM. Như vậy, đối với trường hợp này, phán quyết trọng tài sẽ bị huỷ khi quá trình tố tụng trọng tài không tuân thủ theo ý chí, thỏa thuận của các bên phù hợp với các quy định của pháp luật.

    Tuy nhiên, không phải trong mọi trường hợp, phán quyết trọng tài sẽ tự động bị tuyên hủy với lý do này. Hội đồng trọng tài, theo khoản 7 Điều 71 Luật TTTM, vẫn có thể khắc phục những sai sót tố tụng trọng tài theo quan điểm của chính Hội đồng nhằm “loại bỏ căn cứ hủy bỏ phán quyết trọng tài”. Tuy vậy, việc này chỉ được tiến hành khi Tòa án nhận được yêu cầu của một bên và Toà xét thấy phù hợp; đồng thời, Hội đồng trọng tài cũng phải thông báo cho Toà án biết về việc khắc phục sai sót tố tụng này. Như vậy, phán quyết trọng tài sẽ bị huỷ nếu như thuộc vào trường hợp này; và không có yêu cầu của bên nào muốn Hội đồng trọng tài khắc phục sai sót; hoặc Hội đồng trọng tài đã không thể khắc phục được những sai sót đó.

    (3) Vụ tranh chấp không thuộc thẩm quyền của Hội đồng trọng tài (điểm c khoản 2 Điều 68)

    Theo điểm c khoản 2 Điều 14 Nghị quyết 01/2014/NQ-HĐTP, “vụ tranh chấp không thuộc thẩm quyền của Hội đồng trọng tài” được hiểu là: (i) Hội đồng trọng tài giải quyết tranh chấp trong lĩnh vực không thuộc thẩm quyền của Trọng tài (quy định tại Điều 2 Luật TTTM); hoặc (ii) Hội đồng trọng tài giải quyết tranh chấp mà không được các bên thỏa thuận yêu cầu Trọng tài giải quyết; hoặc (iii) Hội đồng trọng tài giải quyết vượt quá phạm vi của thỏa thuận đưa ra Trọng tài giải quyết.

    Như vậy, có thể hiểu rằng, một phán quyết trọng tài sẽ bị huỷ nếu như Hội đồng trọng tài vượt quá thẩm quyền giải quyết tranh chấp được pháp luật giới hạn cho họ; hoặc được các bên tranh chấp trao cho họ. Điều này phù hợp với bản chất của tố tụng trọng tài, đó là mọi thẩm quyền mà Hội đồng trọng tài được trao cho đều phải xuất phát từ ý chí tự do và sự thỏa thuận của các bên, cũng như những quy định mang tính định khung của pháp luật trọng tài.

    Tuy nhiên, cũng như một hợp đồng sẽ không bị tuyên vô hiệu toàn bộ nếu chỉ có một bộ phận trong đó bị vô hiệu, chỉ những nội dung không thuộc thẩm quyền của Hội đồng trọng tài thì mới bị huỷ. Về vấn đề này, Toà án nhân dân tối cao đã hướng dẫn: “Về nguyên tắc, Tòa án chỉ hủy phần quyết định có nội dung không thuộc thẩm quyền của Hội đồng trọng tài mà không hủy phán quyết trọng tài. Trường hợp có thể tách được phần quyết định của Hội đồng trọng tài về vấn đề đã được yêu cầu và phần quyết định về vấn đề không được yêu cầu giải quyết tại Trọng tài, thì phần quyết định về vấn đề được yêu cầu giải quyết không bị huỷ.”

    (4) Chứng cứ do các bên cung cấp mà Hội đồng trọng tài căn cứ vào đó để ra phán quyết là giả mạo; Trọng tài viên nhận tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác của một bên tranh chấp làm ảnh hưởng đến tính khách quan, công bằng của phán quyết trọng tài (điểm d khoản 2 Điều 68)

    Bản chất của quy định này là, Tòa án sẽ xem xét tính khách quan, công bằng của phán quyết trọng tài và sẽ tuyên hủy một phán quyết nếu không đáp ứng được điều kiện đó. Pháp luật hiện nay cho rằng có 2 trường hợp có thể ảnh hưởng nghiêm trọng tới tính khách quan và công bằng này, đó là: (i) chứng cứ giả mạo; và (ii) bản thân trọng tài viên không khách quan, công bằng khi đưa ra phán quyết do đã nhận một lợi ích vật chất từ một bên tranh chấp. Một phán quyết trọng tài, nếu rơi vào một trong hai trường hợp trên, thì sẽ bị tuyên hủy bởi Toà án.

    Tuy nhiên, để đảm bảo rằng một phán quyết chỉ bị huỷ nếu như nó không đảm bảo khách quan và công bằng, thì “Tòa án chỉ xem xét việc xác định chứng cứ giả mạo nếu có chứng cứ chứng minh cho yêu cầu đó và chứng cứ đó phải có liên quan đến việc ra phán quyết, có ảnh hưởng đến tính khách quan, công bằng của phán quyết. Tòa án phải căn cứ vào quy định Luật TTTM, quy tắc tố tụng trọng tài, thỏa thuận của các bên và quy tắc xem xét, đánh giá chứng cứ mà Hội đồng trọng tài áp dụng khi giải quyết vụ việc để xác định chứng cứ giả mạo.”  

    (5) Phán quyết trọng tài trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam (điểm đ khoản 2 Điều 68)

    “Trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam” được hiểu là “vi phạm các nguyên tắc xử sự cơ bản có hiệu lực bao trùm đối với việc xây dựng và thực hiện pháp luật Việt Nam.” 

    Khi xem xét yêu cầu hủy phán quyết trọng tài, Tòa án phải xác định được phán quyết trọng tài có vi phạm một hoặc nhiều nguyên tắc cơ bản của pháp luật và nguyên tắc đó có liên quan đến việc giải quyết tranh chấp của Trọng tài. Tòa án chỉ hủy phán quyết trọng tài sau khi đã chỉ ra được rằng phán quyết trọng tài có nội dung trái với một hoặc nhiều nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam mà Hội đồng trọng tài đã không thực hiện nguyên tắc này khi ban hành phán quyết trọng tài và phán quyết trọng tài xâm phạm nghiêm trọng lợi ích của nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của một hoặc các bên, người thứ ba.

    Như vậy, trong khi bốn căn cứ huỷ phán quyết trọng tài tại các điểm a, b, c, d khoản 2 Điều 68 Luật TTTM đều nhằm hướng tới việc bảo vệ lợi ích của các đương sự trong tranh chấp thương mại - tức là các lợi ích dân sự; thì căn cứ ở điểm đ này lại hướng đến việc bảo vệ là những giá trị chung có tính cơ bản, bao trùm về kinh tế, chính trị, xã hội, đạo đức, sự công bằng. Nó có thể là lợi ích công, trật tự công, lợi ích quốc gia, dân tộc, lợi ích nhà nước, đạo đức xã hội,… hoặc lợi ích của công dân, chủ thể khác không liên quan tới quan hệ tranh chấp, nhưng phán quyết trọng tài đã xâm phạm lợi ích của họ. Chính từ đặc điểm này, mà khoản 3 Điều 68 Luật TTTM đã quy định rằng: nghĩa vụ chứng minh đối với yêu cầu huỷ phán quyết trọng tài theo điểm đ khoản 2 Điều này thuộc về Toà án, chứ không phải một bên tranh chấp như các trường hợp còn lại.

    Như vậy, sau khi xem xét các căn cứ để một phán quyết trọng tài bị Tòa án tuyên huỷ, có thể rút ra một số kết luận chính sau đây:

    Một là, trừ trường hợp tại điểm đ khoản 2 Điều 68 Luật TTTM thì các căn cứ để huỷ phán quyết trọng tài được quy định hiện nay đều là những trường hợp phán quyết trọng tài có sai sót về trình tự, thủ tục hoặc thẩm quyền; mà những sai sót này đã ảnh hưởng đến tính công bằng và khách quan của phán quyết đến mức một bên tranh chấp bị thiệt hại lợi ích. Như vậy, Tòa án sẽ không xem xét đến nội dung của phán quyết trọng tài.

    Hai là, Tòa án chỉ ra quyết định huỷ phán quyết trọng tài nếu phán quyết đó đáp ứng đầy đủ cả hai điều kiện tại khoản 1 và 2 Điều 68 Luật TTTM. Nếu không, Tòa án sẽ ra quyết định không hủy phán quyết trọng tài. Phán quyết trọng tài khi đó sẽ có giá trị cưỡng chế thi hành như bản án của Toà án. Điều này cho thấy địa vị Toà án trong trường hợp này là một cơ quan giải quyết tranh chấp độc lập với trọng tài. Toà án không phải là một cơ quan cấp trên của Trọng tài.

    Tuy Luật TTTM và các văn bản hướng dẫn đã quy định chi tiết về các trường hợp hủy phán quyết trọng tài, nhưng các quy định này vẫn còn nhiều điểm chưa rõ ràng, chưa chặt chẽ, có thể hiểu theo nhiều cách khác nhau khiến cho việc áp dụng pháp luật tùy tiện, dẫn đến hậu quả là nhiều phán quyết trọng tài bị hủy.

    Thứ nhất, căn cứ “phán quyết trọng tài trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam” được quy định quá chung chung, không rõ ràng nên việc áp dụng một cách tùy tiện là không thể tránh khỏi. Đến nay, vẫn chưa có quy định nào hướng dẫn “những nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam” là những nguyên tắc nào. Gần như trong các bộ luật, luật ở nước ta đều có những quy định về “nguyên tắc”. Hơn nữa, ở nước ta, bên yêu cầu và thẩm phán thường có xu hướng hiểu nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam theo nghĩa rộng, dễ vận dụng để hủy phán quyết trọng tài. 

    Thứ hai, với căn cứ “thành phần Hội đồng trọng tài, thủ tục tố tụng trọng tài không phù hợp với thỏa thuận của các bên hoặc trái với các quy định của Luật TTTM”, nhiều tòa án đã nhận định không đúng về hành vi bị coi là vi phạm pháp luật trọng tài hoặc nhận định không đúng mức độ vi phạm và tính nghiêm trọng nên hủy phán quyết trọng tài khá tuỳ tiện. Mặc dù Luật TTTM và Nghị quyết 01/2014/NQ-HĐTP có quy định về việc tòa án tạo điều kiện cho Hội đồng trọng tài khắc phục sai sót trong tố tụng trọng tài nhằm loại bỏ căn cứ hủy bỏ phán quyết trọng tài, tuy nhiên trên thực tế điều này hoàn toàn phụ thuộc vào sự thiện chí và quan điểm của tòa án. 

    Từ những phân tích trên, nhóm chúng em xin đưa ra một số kiến nghị như sau: 

    Đối với điểm b khoản 2 Điều 68 Luật TTTM, kiến nghị chỉ nên hủy phán quyết nếu: (i) vi phạm của trọng tài rõ ràng làm ảnh hưởng đến kết quả giải quyết tranh chấp, và (ii) Tòa án đã yêu cầu trọng tài khắc phục sai sót theo khoản 7 Điều 71 Luật TTTM nhưng không khắc phục được hoặc sai sót đó là không thể khắc phục được. 

    Đối với điểm đ khoản 2 Điều 68 Luật TTTM, kiến nghị Tòa án nhân dân tối cao liệt kê các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam và hướng dẫn cách vận dụng.

    DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

    1. Luật Thương mại 2005

    2. Luật Trọng tài thương mại 2010

    3. Nghị quyết 01/2014/NQ-HĐTP của Hội đồng thẩm phán tòa án nhân dân tối cao Hướng dẫn thi hành một số quy định của Luật Trọng tài thương mại

    4. Quy tắc của Toà án Trọng tài Quốc tế (ICC)

    5. Quy tắc Tố tụng Trọng tài của Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam (VIAC)

    6. Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Luật Thương mại Việt Nam (tập II), NXB. Tư pháp, 2020

    7. Ưu điểm của Trọng tài thương mại, VIAC.vn, Địa chỉ truy cập: https://www.viac.vn/thu-tuc-trong-tai/uu-diem-cua-trong-tai-thuong-mai-a44.html (truy cập ngày 08/10/2021)

    8. ThS. Vũ Hoàng, Hủy phán quyết trọng tài thương mại theo pháp luật Việt Nam và một số kiến nghị, Tạp chí điện tử Luật sư Việt Nam, https://lsvn.vn/huy-phan-quyet-trong-tai-thuong-mai-theo-phap-luat-viet-nam-va-mot-so-kien-nghi1610677477.html (truy cập ngày 08/10/2021)

    9. Tưởng Duy Lượng, Một số vấn đề về xem xét hủy phán quyết trọng tài, Tạp chí Tòa án nhân dân điện tử, https://tapchitoaan.vn/bai-viet/xet-xu/mot-so-van-de-ve-xem-xet-huy-phan-quyet-trong-tai (truy cập ngày 08/10/2021)

    10. Bùi Xuân Hải, Luận bàn về các nguyên nhân của tình trạng hủy phán quyết trọng tài ở Việt Nam hiện nay, Tạp chí khoa học pháp lý Việt Nam, https://tapchikhplvn.hcmulaw.edu.vn/module/xemchitietbaibao?oid=e1d80e90-2c25-456a-a0a6-bade8386fc30 (truy câp ngày 09/10/2021)

    Xem thêm: TỔNG HỢP BÀI TẬP NHÓM - BÀI TẬP LỚN - BÀI TẬP CÁ NHÂN - TIỂU LUẬN CÁC MÔN HLU

    Nếu bạn thấy những chia sẻ của mình hữu ích thì có thể donate ủng hộ mình 01 ly trà sữa nha: BIDV 4603463395

    Continue Reading

     

    MỞ ĐẦU

    Khi thực hiện hợp đồng thương mại, các bên có thể có hành vi vi phạm nghĩa vụ hợp đồng vì những nguyên nhân chủ quan hoặc nguyên nhân khách quan khác nhau. Nhằm ngăn chặn và xử lý các hành vi vi phạm hợp đồng, bảo đảm công bằng cho các bên, pháp luật Việt Nam đã quy định các hình thức chế tài trong thương mại mang lại những hậu quả bất lợi đối với bên vi phạm hợp đồng. Bên cạnh đó, pháp luật cũng quy định một số trường hợp mà bên có hành vi vi phạm nghĩa vụ hợp đồng được miễn trách nhiệm, không phải gánh chịu những hậu quả bất lợi do bị áp dụng các hình thức chế tài thương mại. 

    Để có một cái nhìn tổng quát hơn về vấn đề này, sau đây em xin trình bày về đề tài: “Quy định của pháp luật về các trường hợp miễn trách nhiệm đối với hành vi vi phạm hợp đồng thương mại. Liên hệ thực tế và lấy ví dụ minh họa cho các trường hợp trên.”

    NỘI DUNG

    I. Một số vấn đề lý luận về miễn trách nhiệm đối với hành vi vi phạm hợp đồng thương mại

    1. Khái niệm miễn trách nhiệm đối với hành vi vi phạm hợp đồng thương mại

    Khoản 12 Điều 3 Luật Thương mại 2005 quy định: “Vi phạm hợp đồng là việc một bên không thực hiện, thực hiện không đầy đủ hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ theo thoả thuận giữa các bên hoặc theo quy định của Luật này.” 

    Hành vi vi phạm hợp đồng là xử sự của các chủ thể không phù hợp với nghĩa vụ đã cam kết trong hợp đồng. Hành vi vi phạm hợp đồng là căn cứ pháp lý để áp dụng các hình thức chế tài do vi phạm hợp đồng. Để xác định một hành vi vi phạm hợp đồng thương mại, cần phải chứng minh được hai vấn đề: (i) có quan hệ hợp đồng hợp pháp giữa các bên; và (ii) có hành vi không thực hiện hoặc thực hiện không đúng, không đầy đủ các nghĩa vụ theo hợp đồng.

    Miễn trách nhiệm là việc giải phóng bên vi phạm khỏi các trách nhiệm pháp lý mà đáng lẽ họ phải gánh chịu do hành vi vi phạm hợp đồng của mình. Bên vi phạm được miễn trách nhiệm nếu chứng minh được là mình không có lỗi, bằng cách chỉ ra những hoàn cảnh khách quan khiến cho mình không thể thực hiện hợp đồng hoặc không thể thực hiện đúng hợp đồng. 

    2. Điều kiện để bên vi phạm được miễn trách nhiệm đối với hành vi vi phạm hợp đồng thương mại

    Về bản chất, các trường hợp miễn trách nhiệm do vi phạm hợp đồng là những trường hợp loại trừ yếu tố lỗi của bên vi phạm. Cơ sở để miễn trách nhiệm cho bên vi phạm hợp đồng là họ không có lỗi khi không thực hiện hoặc thực hiện không đúng hợp đồng. 

    Bên vi phạm được miễn trách nhiệm đối với hành vi vi phạm hợp đồng thương mại khi đáp ứng được các điều kiện sau đây:

    (1) Thuộc một trong các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 294 Luật Thương mại 2005:

    - Xảy ra trường hợp miễn trách nhiệm mà các bên đã thoả thuận;

    - Xảy ra sự kiện bất khả kháng;

    - Hành vi vi phạm của một bên hoàn toàn do lỗi của bên kia;

    - Hành vi vi phạm của một bên do thực hiện quyết định của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền mà các bên không thể biết được vào thời điểm giao kết hợp đồng.

    (2) Thông báo ngay bằng văn bản cho bên kia về trường hợp được miễn trách nhiệm và những hậu quả có thể xảy ra. (khoản 1 Điều 295 Luật Thương mại 2005)

    (3) Có nghĩa vụ chứng minh với bên bị vi phạm về trường hợp miễn trách nhiệm của mình. (khoản 2 Điều 294 Luật Thương mại 2005)

    3. Hậu quả pháp lý khi được miễn trách nhiệm đối với hành vi vi phạm hợp đồng thương mại

    Bên vi phạm hợp đồng thương mại có thể phải đối mặt với các chế tài thương mại: (1) Buộc thực hiện đúng hợp đồng; (2) Phạt vi phạm; (3) Buộc bồi thường thiệt hại; (4) Tạm ngừng thực hiện hợp đồng; (5) Đình chủ thực hiện hợp đồng; (6) Hủy bỏ hợp đồng; (7) Các biện pháp khác do các bên thỏa thuận.

    Khi được miễn trách nhiệm đối với hành vi vi phạm hợp đồng thương mại, bên vi phạm sẽ không phải gánh chịu các chế tài mà đáng lẽ họ phải chịu do hành vi vi phạm của mình.

    II. Quy định của pháp luật về các trường hợp miễn trách nhiệm đối với hành vi vi phạm hợp đồng thương mại và ví dụ thực tiễn

    1. Xảy ra trường hợp miễn trách nhiệm mà các bên đã thỏa thuận

    Pháp luật thương mại đề cao tính tự do thỏa thuận của các bên. Do đó, các bên được quyền thỏa thuận trước trong hợp đồng về các trường hợp bên vi phạm được miễn trách nhiệm. Thường những căn cứ miễn trừ trách nhiệm trong trường hợp này có đặc điểm là vẫn có thể lường trước hoặc ngăn chặn được nhưng khi những sự kiện đó xảy ra thì việc thực hiện hợp đồng là rất khó khăn. Vì vậy, để giảm bớt rủi ro, các bên đã đưa chúng vào điều khoản hợp đồng như một căn cứ để miễn trừ trách nhiệm.   

    Theo quy định tại điểm a khoản 1 điều 294 Luật Thương mại 2005, bên vi phạm sẽ không phải chịu trách nhiệm do không thực hiện hay thực hiện không đúng nghĩa vụ trong hợp đồng nếu có sự thỏa thuận của các bên về trường hợp miễn trách nhiệm đó. Như vậy, theo quy định này, chỉ cần thỏa mãn trường hợp miễn trách nhiệm đã thỏa thuận thì bên vi phạm nghĩa vụ sẽ được giải thoát khỏi trách nhiệm của mình, dù sự vi phạm nghĩa vụ đó là cố ý hay vô ý. Do đó, thỏa thuận này dễ bị các bên lợi dụng để trốn tránh trách nhiệm bằng cách cố ý tạo ra các trường hợp miễn trách đã thỏa thuận.

    Ví dụ: 

    Ngày 01/6/2021, công ty An Lạc ký hợp đồng bán 1000 bộ quần áo mùa đông với công ty Bình Minh, thời gian giao hàng là ngày 10/10/2021. Trong hợp đồng, hai bên có thỏa thuận: “Nếu giá lô hàng tại thời điểm giao hàng thay đổi quá 20% so với giá quy định trong hợp đồng thì các bên thống nhất đàm phán lại. Nếu đàm phán không đi tới kết quả thì một trong hai bên có thể hủy hợp đồng mà không phải chịu trách nhiệm.” Vào thời điểm tháng 10/2021, do giá nguyên liệu đầu vào và chi phí nhân công tăng cao, giá lô hàng quần áo tăng thêm 25%. Nếu tiếp tục hợp đồng với giá đã thỏa thuận thì sẽ gây thiệt hại cho bên bán. Do đó, công ty An Lạc đề nghị thỏa thuận lại về giá cả nhưng công ty Bình Minh không chấp nhận nên công ty An Lạc đã hủy hợp đồng. Trong trường hợp này, công ty An Lạc không phải chịu trách nhiệm do đã không thực hiện hợp đồng.

    2. Xảy ra sự kiện bất khả kháng

    Theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 294 Luật Thương mại 2005, bên vi phạm hợp đồng được miễn trách nhiệm trong trường hợp xảy ra sự kiện bất khả kháng. Điều này có nghĩa là dù hợp đồng có quy định hay không thì khi xảy ra sự kiện bất khả kháng dẫn tới việc vi phạm hợp đồng thì bên vi phạm vẫn được miễn trách nhiệm.

    Khoản 1 Điều 156 Bộ luật Dân sự 2015 (BLDS 2015) quy định: “Sự kiện bất khả kháng là sự kiện xảy ra một cách khách quan không thể lường trước được và không thể khắc phục được dù đã áp dụng mọi biện pháp cần thiết và khả năng cho phép”. Theo đó, một sự kiện sẽ được coi là bất khả kháng nếu: (i) xảy ra một cách khách quan, (ii) không thể lường trước được và (iii) không thể khắc phục được mặc dù đã áp dụng mọi biện pháp cần thiết và khả năng cho phép.

    Có thể hiểu, một sự kiện xảy ra một cách khách quan khi sự kiện đó xảy ra không theo ý chí của các bên. Nói cách khác, sự kiện đó không do các bên tạo ra hoặc phát sinh do lỗi chủ quan của các bên. Một sự kiện không thể lường trước được khi sự kiện đó xảy ra nằm ngoài dự đoán của các bên tại thời điểm giao kết hợp đồng. Tiêu chuẩn để xem xét khả năng các bên có thể lường trước một sự kiện khách quan có thể ảnh hưởng đến việc thực hiện hợp đồng hay không có thể áp dụng trên cơ sở xem xét liệu một người bình thường trong hoàn cảnh tương tự có thể lường trước được việc xảy ra một sự kiện như thế hay không. Nếu xem xét trên góc độ một người bình thường có thể lường trước được một sự kiện sẽ xảy ra thì sự kiện đó không nên được coi là một sự kiện bất khả kháng. 

    BLDS 2015 cũng đồng thời quy định sự kiện bất khả kháng phải là sự kiện không thể khắc phục được mặc dù bên có nghĩa vụ đã nỗ lực áp dụng mọi biện pháp cần thiết và trong khả năng cho phép để khắc phục tác động của sự kiện đến việc thực hiện hợp đồng. Điều kiện này phù hợp với nguyên tắc thiện chí, trung thực và hướng đến việc đảm bảo thực hiện hợp đồng của các bên. Theo đó, bên có nghĩa vụ phải áp dụng mọi biện pháp trong khả năng cho phép để thực hiện các nghĩa vụ quy định trong hợp đồng và không thể trông chờ việc xảy ra một trở ngại khách quan để làm căn cứ miễn trách nhiệm thực hiện hợp đồng. 

    Theo quy định tại khoản 1 Điều 296 Luật Thương mại 2005, khi xảy ra sự kiện bất khả kháng, các bên có thể kéo dài thêm thời gian thực hiện hợp đồng; tuy nhiên nếu quá thời hạn đó mà vẫn không thể thực hiện hợp đồng thì các bên có quyền từ chối thực hiện hợp đồng và không phải bồi thường thiệt hại.

    Ví dụ: 

    Công ty Cường Thịnh ký hợp đồng bán 2 tấn gạo cho công ty Thanh Hương, thời gian giao hàng là ngày 01/12/2021. Tuy nhiên, trên đường vận chuyển, do gặp sạt lở đất làm chắn đường quốc lộ nên xe chở gạo không thể đi qua. Xe chở gạo phải quay đầu lại đi đường khác xa hơn. Công ty Cường Thịnh đã thông báo cho công ty Thanh Hương biết về việc này. Đến ngày 02/12/2021, xe chở gạo mới giao hàng đến cho công ty Thanh Hương. Đây là trường hợp bất khả kháng nên trong trường hợp này, công ty Cường Thịnh không phải chịu trách nhiệm do vi phạm thời gian giao hàng. 

    3. Hành vi vi phạm hoàn toàn do lỗi của bên kia

    Theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 294 Luật Thương mại 2005, nếu một bên vi phạm hợp đồng nhưng việc vi phạm đó là do lỗi của bên bị vi phạm thì bên vi phạm hợp đồng sẽ được miễn trách nhiệm đối với vi phạm đó. 

    Bên vi phạm nghĩa vụ sẽ được miễn trách nhiệm trong trường hợp chính những hành vi của bên có quyền là nguyên nhân khiến cho nghĩa vụ không thể thực hiện được, mà nếu không có những hành vi đó thì nghĩa vụ đã được thực hiện một cách bình thường. Cũng chính vì việc không thể thực hiện được nghĩa vụ là do lỗi của mình, nên bên có quyền không được đòi bên có nghĩa vụ phải có trách nhiệm với mình.

    Tuy nhiên pháp luật không quy định trường hợp một bên vi phạm hợp đồng do hoàn toàn lỗi của bên thứ ba, do đó trong trường hợp này tuy rằng bên bị vi phạm không có lỗi trong việc gây ra vi phạm hợp đồng nhưng vẫn không được miễn trách nhiệm.

    Ví dụ: 

    Công ty Minh Khuê kí hợp đồng gia công 1000 đôi giày với công ty Lan Anh. Theo đó, công ty Minh Khuê phải giao toàn bộ vật liệu gia công cho công ty Lan Anh để công ty Lan Anh tiến hành sản xuất. Tuy nhiên, công ty Minh Khuê đã giao vật liệu chậm hơn 10 ngày so với thỏa thuận dẫn đến việc đình trệ sản xuất, khiến cho việc giao hàng của công ty Lan Anh bị chậm trễ. Như vậy, trong trường hợp này, công ty Minh Khuê có lỗi khiến cho công ty Lan Anh không thể giao hàng đúng thời hạn quy định trong hợp đồng nên công ty Lan Anh được miễn trừ trách nhiệm.

    4. Hành vi vi phạm của một bên do thực hiện quyết định của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền mà các bên không thể biết được vào thời điểm giao kết hợp đồng

    Miễn trách nhiệm trong trường hợp này chỉ được áp dụng khi hành vi vi phạm do thực hiện quyết định của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền mà các bên không thể biết được vào thời điểm giao kết hợp đồng. Nếu như các bên đã biết về việc thực hiện quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền có thể dẫn đến vi phạm hợp đồng mà vẫn đồng ý giao kết hợp đồng thì sẽ không được áp dụng miễn trách nhiệm. 

    Quyết định của cơ quan nhà nước phải làm phát sinh nghĩa vụ của bên vi phạm, tức là bên vi phạm phải thực hiện hoặc không thực hiện một hành vi nhất định nào đó dẫn tới hành vi vi phạm hợp đồng. 

    Ví dụ: 

    Ngày 01/4/2021, công ty Đức Tuấn có nhà máy đặt tại Thành phố Hồ Chí Minh ký hợp đồng bán 5000 chiếc ba lô cho công ty Thiên Thảo ở Cà Mau. Thời gian giao hàng là 01/8/2021. Tháng 6/2021, dịch Covid-19 lan rộng ở thành phố Hồ Chí Minh, nhà máy của công ty Đức Tuấn phải tạm dừng hoạt động theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền để phòng chống dịch Covid-19. Do đó, công ty Đức Tuấn không thể sản xuất được ba lô để giao hàng đúng hạn cho công ty Thiên Thảo. Trong trường hợp này, hành vi vi phạm của công ty Đức Tuấn là do thực hiện quyết định của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền mà các bên không thể biết được vào thời điểm giao kết hợp đồng nên công ty Đức Tuấn được miễn trách nhiệm do vi phạm hợp đồng.

    III. Một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về miễn trách nhiệm đối với hành vi vi phạm hợp đồng thương mại

    Thứ nhất, cần bổ sung thêm quy định điều kiện để công nhận thỏa thuận miễn trừ trách nhiệm do vi phạm hợp đồng giữa các bên theo hướng hành vi cố ý gây ra các trường hợp miễn trách nhiệm đã thỏa thuận sẽ không được miễn trách. Như vậy vừa có thể đảm bảo sự tự do thỏa thuận giữa các bên, vừa hạn chế tình trạng một bên lợi dụng căn cứ này để trốn tránh trách nhiệm.

    Thứ hai, cần bổ sung quy định về căn cứ miễn trừ trách nhiệm đối với hành vi vi phạm hợp đồng do người thứ ba có quan hệ với một bên trong hợp đồng thương mại gây ra do gặp trường hợp bất khả kháng để phù hợp với thực tiễn và thông lệ quốc tế.

    Thứ ba, pháp luật nên có hướng dẫn cụ thể về việc quyết định của cơ quan quản lý nhà nước nào, nhằm mục đích gì thì sẽ trở thành căn cứ cho việc nhiễm trách nhiệm. Chỉ những quyết định mang tính chất bất khả kháng, bên vi phạm không thể có lựa chọn nào khác ngoài việc vi phạm hợp đồng mới có thể là căn cứ miễn trừ trách nhiệm.

    KẾT LUẬN

    Qua những phân tích và ví dụ đã nêu ở trên, chúng ta có thể nhận thấy rằng, pháp luật Việt Nam đã có những quy định tương đối đầy đủ và cụ thể về các trường hợp được miễn trách nhiệm khi vi phạm hợp đồng thương mại. Điều này giúp đảm bảo và cân bằng lợi ích của các bên khi giao kết và thực hiện hợp đồng thương mại. Tuy vậy, quy định của pháp luật về các trường hợp được miễn trách nhiệm khi vi phạm hợp đồng vẫn cần tiếp tục hoàn thiện để đảm bảo sự công bằng giữa các bên, dễ dàng trong việc áp dụng pháp luật và phù hợp với thông lệ quốc tế.

    DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

    1. Luật Thương mại 2005

    2. Bộ luật Dân sự 2015

    3. Trường Đại học Luật Hà Nội (2017), Giáo trình Luật Thươg mại Việt Nam tập 2, NXB Tư pháp

    4. Bùi Thanh Mai (2017), Lý luận và thực tiễn về miễn trừ trách nhiệm trong hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, Luận văn thạc sĩ luật học, Hà Nội 

    5. Luật sư Đặng Bá Kỹ (2020), Hoàn thiện điều khoản miễn trách nhiệm do vi phạm nghĩa vụ trong hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, http://www.luatyenxuan.com/hoan-thien-dieu-khoan-mien-trach-nhiem-do-vi-pham-nghia-vu-trong-hop-dong-mua-ban-hang-hoa-quoc-te.html (truy cập ngày 09/12/2021)

    6. Luật sư Đặng Bá Kỹ (2020), Bàn về điều khoản miễn trách nhiệm do thỏa thuận của các bên trong hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, http://www.luatyenxuan.com/ban-ve-dieu-khoan-mien-trach-nhiem-do-thoa-thuan-cua-cac-ben-trong-hop-dong-mua-ban-hang-hoa-quoc-te.html (truy cập ngày 09/12/2021)

    7. Luật sư Đặng Bá Kỹ (2020), Bàn về lỗi của bên có quyền – Căn cứ miễn trách nhiệm do vi phạm nghĩa vụ trong hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, http://www.luatyenxuan.com/ban-ve-loi-cua-ben-co-quyen-can-cu-mien-trach-nhiem-do-vi-pham-nghia-vu-trong-hop-dong-mua-ban-hang-hoa-quoc-te.html (truy cập ngày 09/12/2021)

    8. Luật sư Đặng Bá Kỹ (2020), Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế: Điều khoản bất khả kháng – Phân tích và luận giải, http://www.luatyenxuan.com/hop-dong-mua-ban-hang-hoa-quoc-te-dieu-khoan-bat-kha-khang-phan-tich-va-luan-giai.html (truy cập ngày 09/12/2021)

    9. Luật sư Đặng Hồng Dương (2021), Các trường hợp miễn trách nhiệm với hành vi vi phạm hợp đồng trong thương mại, Tạp chí điện tử Luật sư Việt Nam, https://lsvn.vn/cac-truong-hop-mien-trach-nhiem-voi-hanh-vi-vi-pham-hop-dong-trong-thuong-mai1631637231.html (truy cập ngày 09/12/2021)

    10. Lê Sáng - Huyền Trang (2021), "Bất khả kháng" do Covid-19: Toàn cảnh pháp lý và ứng xử của nhà thầu, https://www.viac.vn/goc-nhin-trong-tai-vien/bat-kha-khang-do-covid19-toan-canh-phap-ly-va-ung-xu-cua-nha-thau-a1176.html (truy cập ngày 09/12/2021)

    11. Trương Nhật Quang – Ngô Thái Ninh (2020), Vấn đề miễn trách nhiệm dân sự do vi phạm nghĩa vụ thanh toán trong trường hợp bất khả kháng – Covid-19, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp số 4(404)/ Kỳ 2, tháng 2/2020 (tr. 11 - tr. 15), http://lapphap.vn/Pages/anpham/xemchitiet.aspx?ItemID=290

    Xem thêm: TỔNG HỢP BÀI TẬP NHÓM - BÀI TẬP LỚN - BÀI TẬP CÁ NHÂN - TIỂU LUẬN CÁC MÔN HLU

    Nếu bạn thấy những chia sẻ của mình hữu ích thì có thể donate ủng hộ mình 01 ly trà sữa nha: BIDV 4603463395

    Continue Reading
    Newer
    Stories
    Older
    Stories

    About me

    REY A law practitioner

    Một người trẻ đam mê và đang trên con đường theo đuổi ngành Luật. Tốt nghiệp Cử nhân Luật tại HLU và đang học Luật sư & Thạc sĩ Luật. Read More

    Donate me

    Nếu bạn thấy những chia sẻ của mình hữu ích thì có thể donate ủng hộ mình 01 ly trà sữa nha:
    BIDV

    Follow me on Facebook

    Follow me on Youtube

    Labels

    CHUYỆN ĐI LÀM (3) ĐỀ THI HẾT MÔN (14) HỌC LUẬT Ở HLU (6) HỌC LUẬT SƯ (6) LUẬT HÀNH CHÍNH (47) LÝ LUẬN CHUNG (111) TIỂU LUẬN (50)

    Cảm ơn đã ghé thăm

    recent posts

    Popular Posts

    • Phân tích đặc trưng cơ bản của nhà nước. Trên cơ sở đó, làm sáng tỏ biểu hiện một đặc trưng của nhà nước Việt Nam hiện nay.
    • 80 CÂU VẤN ĐÁP LÝ LUẬN CHUNG VỀ NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT (có đáp án)

    Blog Archive

    • tháng 8 2025 (1)
    • tháng 6 2024 (2)
    • tháng 3 2024 (2)
    • tháng 2 2024 (1)
    • tháng 1 2024 (8)
    • tháng 10 2023 (30)
    • tháng 9 2023 (115)
    • tháng 8 2023 (73)
    facebook youtube

    Created with by BeautyTemplates

    Back to top