Được tạo bởi Blogger.
facebook youtube

Rey & Law

    • Home
    • HỌC LUẬT Ở HLU
    • HỌC LUẬT SƯ
    • HỌC THẠC SĨ
    • CHUYỆN ĐI LÀM
    • TỰ HỌC LUẬT

    Đề bài:

    Một dự án xây dựng nhà máy sản xuất phân bón hóa học với công suất thiết kế 2000 tấn phân bón/năm tại xã A. Dây chuyền công nghệ được nhập khẩu từ Thụy Điển. Chủ dự án tự khai thác quặng Apatits để làm nguyên liệu. Vì ở xa nơi cung cấp nước sạch nên chủ dự án dự định khai thác nước ngầm để phục vụ sản xuất.

    1. Nhóm với tư cách là Đại diện hội bảo vệ thiên nhiên và môi trường, hãy xác định những vấn đề phải xem xét khi thực hiện nghĩa vụ đánh giá những tác động của dự án đối với môi trường.

    2. Hãy chỉ ra một số nghĩa vụ cơ bản của chủ dự án khi dự án đi vào hoạt động.



    MỞ ĐẦU

    Bảo vệ môi trường, quả thực, không còn là một vấn đề quá mới mẻ với nhân loại, với những phong trào môi trường được ghi nhận đã nhen nhóm từ những năm cuối thế kỷ XVIII, chưa kể tới những chiến dịch khác còn chưa được đưa ra ánh sáng xuyên suốt lịch sử. Tuy nhiên, chỉ tới khi xã hội tiến tới những bước phát triển vượt bậc, nhu cầu bảo vệ mới thực sự được đề cao, thể hiện qua sự ra đời của các đạo luật với hy vọng công tác quản lý, khai thác môi trường được đặt dưới một khuôn khổ nghiêm ngặt.

    Đáng tiếc, sự phát triển của lĩnh vực bảo vệ môi trường lại đồng thời vạch ra sự thật rằng môi trường đang gặp phải nhiều mối đe dọa gây tổn hại, mà chúng ta – những người đang cố gắng bảo vệ nó, thực tế cũng đã và đang tác nhân trọng yếu trong sự xuống cấp của môi trường. Cụ thể, nhu cầu khai thác các loại tài nguyên đang ngày càng lớn để phục vụ các dự án đầu tư. Dưới góc nhìn của chủ đầu tư, các dự án luôn là những thỏi nam châm hút về khoản lợi nhuận khổng lồ, nhưng góc nhìn ấy của họ không thể bao quảt được những ảnh hưởng gây ra cho con người nói riêng và môi trườn xung quanh nói chung.

    Trong bài viết này, nhóm chúng em xin phép được nêu lên những vấn đề cần được xem xét khi thực hiện nghĩa vụ đánh giá tác động của một dự án chuyển đổi mục đích sử dụng đất rừng với vai trò là Đại diện hội bảo vệ thiên nhiên và môi trường, đồng thời dưới lăng kính của một người dân chịu tác động trực tiếp. Ngoài ra, bái viết cũng nêu lên một số nghĩa vụ của chủ dự án khi dự án đi vào hoạt động.

    NỘI DUNG

    A. NHỮNG VẤN ĐỀ CẦN PHẢI XEM XÉT KHI THỰC HIỆN ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG MÔI TRƯỜNG (ĐTM) 

    I. Cơ sở pháp lý liên quan đến lập ĐTM và cơ sở pháp lý của việc tham vấn cộng đồng dân cư

    1. Cơ sở lý luận về lập ĐTM và việc tham vấn cộng đồng dân cư

    1.1. Lập ĐTM

    Theo khoản 23 Điều 3 Luật BVMT 2014, đánh giá tác động môi trường là việc phân tích, dự báo tác động đến môi trường của dự án đầu tư cụ thể để đưa ra biện pháp bảo vệ môi trường khi triển khai dự án đó. Lập báo cáo đánh giá tác động môi trường là việc phân tích khoa học về quy mô, tầm quan trọng và ý nghĩa của các tác động được xác định. Đây là khâu then chốt, cơ bản của quá trình đánh giá môi trường. Để thực hiện giai đoạn này có nhiều phương pháp khác nhau nhưng phải bảo đảm các yêu cầu cơ bản.

    Việc lập báo cáo đánh giá tác động môi trường có rất nhiều ý nghĩa: khuyến khích quy hoạch tốt hơn, tiết kiệm thời gian và tiền trong phát triển lâu dài, giúp nhà nước, các cơ sở và cộng đồng có mối liên hệ chặt chẽ hơn.

    1.2. Tham vấn cộng đồng dân cư:

    Tham vấn cộng đồng dân cư là hoạt động không thể thiếu trong quá trình đánh giá tác động môi trường. Một mặt, thể hiện chủ quyền Nhân dân, thực thi cơ chế dân biết, dân bàn, dân kiểm tra, mặt khác, hoạt động này bảo đảm việc đánh giá tác động môi trường khách quan, đúng đắn qua việc những người dân nghiên cứu, xem xét và đưa ra những ý kiến về những nội dung trong báo cáo đánh giá tác động môi trường. Hoạt động này là yêu cầu quan trọng thể hiện ý kiến, sự đồng thuận hay không đồng thuận của cộng đồng dân cư đối với việc đánh giá tác động môi trường của chủ dự án cũng như bổ sung những tác động tiêu cực, những giải pháp phù hợp mà báo cáo có thể chưa đề cập đến. 

    2. Cơ sở pháp lý của việc tham vấn cộng đồng dân cư

    - Khoản 1, 2 Điều 21 Luật BVMT năm 2014

    - Thông tư số 27/2015/TT-BTNMT ngày 29/5/2015 của Bộ Tài nguyên và Môi trường hướng dẫn thêm trường hợp dự án thuộc địa bàn từ hai xã trở lên, chủ dự án được lựa chọn hình thức cuộc họp tham vấn cộng đồng dân cư chịu tác động trực tiếp bởi dự án theo từng xã hoặc liên xã.

    II. Các vấn đề cần xem xét với tư cách người dân

    Việt Nam cũng như các nước trên thế giới đã xác định đánh giá tác động môi trường là biện pháp quan trọng nhằm bảo vệ môi trường (BVMT) cũng như đời sống dân cư và sử dụng pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình đánh giá tác động môi trường, góp phần BVMT và đảm bảo quyền con người được sống trong môi trường trong lành. Việc để người dân – với tư cách là người chịu trách nhiệm trực tiếp từ dự án đưa ra ý kiến sẽ góp phần phát triển lợi ích môi trường chung. Các vấn đề cần xem xét khi thực hiện nghĩa vụ đánh giá những tác động của dự án đối với môi trường:

    1. Tác động của dự án đối với môi trường trong giai đoạn thi công

    1.1. Nguồn gây tác động

    - Nguồn phát sinh bụi, khí thải, tiếng ồn

    + Bụi, khí thải từ hoạt động của các phương tiện thi công, các phương tiện vận tải trên công trường: máy khoan, máy đóng cọc, máy nén,…Quá trình bốc dỡ và tập kết nguyên liệu sẽ gây phát tán bụi như cát, đá, xi măng…

    + Tiếng ồn phát sinh do phương tiện, thiết bị thi công, xe vận tải nặng phục vụ thi công sẽ gây ảnh hưởng đến sức khỏe như mất ngủ, mệt mỏi, gây tâm lý khó chịu

    - Nguồn phát sinh nước thải

    Nước thải sinh hoạt của công nhân, nước thải xây dựng, Ở những nơi nước thải tù đọng là điều kiện lý tưởng cho các sinh vật gây bệnh như ruồi, muỗi sinh sôi và phát triển truyền bệnh cho người và sinh vật xung quanh khu dự án.

    - Tác động tiêu cực đến các nguồn tài nguyên

    + Việc giải phóng mặt bằng và san ủi đất để xây dựng các công trình và làm đường có thể gây ra xói mòn và sụt lở đất, ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng nước mặt. Việc vứt rác và đổ nước thải bừa bãi vào các nguồn nước cũng như thải ra một lượng xăng dầu nhất định trong quá trình vận hành các thiết bị xây dựng cũng là điều không thể tránh khỏi.

    - Chất thải sinh hoạt, xây dựng, nguy hại

    1.2. Rủi do, sự cố môi trường

    - Sự cố rò rỉ nhiên liệu: Trong quá trình thực hiện dự án, một khối lượng nhiên liệu như xăng, dầu … sẽ được dự trữ tại công trường để phục vụ cho các phương tiện cơ giới. Việc dự trữ nhiên liệu có thể bị rò rỉ, cháy nổ

    - Sự cố cháy nổ: Quá trình thi công, dọn dẹp mặt bằng, nếu công nhân làm việc bất cẩn (hút thuốc, đốt lửa…) thì khả năng gây cháy cũng có thể xảy ra. Ngoài ra, việc sử dụng các thiết bị gia nhiệt trong thi công cũng có thể xảy ra cháy, bỏng

    2. Tác động của dự án đối với môi trường trong giai đoạn đưa vào hoạt động

    Câu hỏi đặt ra: Nếu các vấn đề như chúng tôi đề cập ở trên xảy ra, các quý vị dự định sẽ xử lý như thế nào?

    - Nguồn nước để xây dựng hồ bơi tự nhiên lấy từ đâu? Dự định thải về đâu?

    → Có nguy cơ gây ảnh hưởng đến việc cung cấp và sả thải nước của các hộ dân

    - Chất thải từ nhà hàng, khách sạn, bệnh viện sẽ được xử lí như thế nào? 

    - Theo quy định tại Điều 21 Luật Lâm nghiệp 2017 quy định về trồng rừng thay thế khi chuyển mục đích sử dụng rừng sang mục đích khác, vậy chủ dự án có phải trồng rừng thay thế không? Và việc trồng rừng thay thế này có khả thi không?

    3. Quá trình tham vấn cộng đồng dân cư có diễn ra minh bạch và tôn trọng ý kiến, quyền lợi của nhân dân hay không?

    - Như đã phân tích ở trên thì tham vấn cộng đồng dân cư là một hoạt động bắt buộc đối với dự án để có thể được phê duyệt báo cáo ĐTM. Tuy nhiên, cộng đồng dân cư với tư cách là những người chịu ảnh hưởng trực tiếp trong suốt quá trình thi công và hoạt động của dự án cũng rất quan tâm tới vấn đề tham vấn cộng đồng dân cư có diễn ra minh bạch hay không. Trong buổi tham vấn đó, cộng đồng dân cư có quyền đưa ra những kiến nghị, góp ý, yêu cầu đối với chủ dự án về những hạng mục có nguy cơ gây ô nhiễm cao. 

    - Ngoài ra, nếu dự án gây ảnh hưởng nghiêm trọng tới đời sống sinh hoạt và lao động cảu cộng đồng dân cư thì liệu ai sẽ là người đứng ra nhận trách nhiệm, và khoản bồi thường thiệt hại đó là bao nhiêu. Những vấn đề này nên được đưa ra minh bạch trong buổi tham vấn cộng đồng, tránh những mâu thuẫn phát sinh trong quá trình triển khai và thực hiện dự án. Không chỉ vậy, việc được bày tỏ quan điểm trong buổi tham vấn cộng đồng dân cư cũng thể hiện nguyên tắc dân chủ, với khẩu hiệu: “dân biết, dân bàn, dân làm...”, tránh tình trạng cuộc tham vấn chỉ mang tính hình thức mà không giải quyết được những vấn đề cốt yếu liên quan trực tiếp tới đời sống nhân dân.

    III. Các vấn đề cần xem xét với tư cách là Đại diện hội bảo vệ tài nguyên và môi trường: 

    Với tư cách là một tổ chức xã hội độc lập, có nhiệm vụ tuyên truyền, vận động nhân dân thực hiện đúng pháp luật môi trường, xây dựng phong trào bảo vệ môi trường, quản lý tài nguyên thiên nhiên,…cũng như thực hiện các hoạt động tư vấn, phản biện và giám định xã hội đối với các vấn đề thuộc phạm vi của hội, Hội Bảo vệ Tài nguyên và môi trường xin đưa ra một số ý kiến về một số vấn đề cần xem xét liên quan đến trách nhiệm về môi trường của chủ đầu tư dự án đối với việc xây dựng khu sinh thái kết hợp khu vực chữa bệnh trên diện tích 120 ha đất rừng tự nhiên ở huyện H như sau:

    1. Về việc chuyển đổi mục đích sử dụng của 120 ha đất rừng tự nhiên tại huyện H: 

    Rừng tự nhiên có vai trò vô cùng quan trọng đối với môi trường.

    Thứ nhất, rừng tự nhiên có vai trò đặc biệt quan trọng trong phòng hộ môi trường. Rừng tự nhiên được hình thành qua chọn lọc tự nhiên nên bền vững hơn trong các hoàn cảnh biến đổi bất lợi như hạn hán, ngập lụt, cháy rừng, sâu bệnh, biến đổi khí hậu, phòng chống sa mạc hóa… Khả năng chống xói mòn của rừng tự nhiên cao gấp nhiều lần rừng trồng do kết cấu rừng và lớp thảm tươi, thảm mục che phủ mặt đất. Rừng tự nhiên cản dòng chảy mặt đất rất hiệu quả, dù mưa lớn và lâu nhưng lượng mưa thấm trên lớp thảm mục, mùn, ngấm qua đất giúp hạn chế dòng chảy, ngăn chặn hiện tượng xói mòn, sạt lở, lũ ống, lũ quét.

    Thứ hai, rừng tự nhiên có nguồn gen sinh vật vô cùng phong phú và đa dạng. Rừng tự nhiên có nguồn gen thực vật đa dạng, nhiều tầng, và là nơi sinh sống của rất nhiều loài động vật, trong đó có cả các loại động vật quý hiếm. 

    Khi tiến hành phá rừng tự nhiên để xây dựng khu du lịch và khu chữa bệnh, dù có tiến hành trồng rừng bổ sung thì rừng trồng cũng không thể thay thế rừng tự nhiên. Rừng trồng mới có nguồn gen các loài thực vật ít đa dạng do được trồng bởi con người, cũng không có nhiều tầng, và có rất ít động vật sinh sống. Khi phá rừng tự nhiên, lớp che phủ thực vật cũng bị mất đi, nguy cơ xói mòn, sạt lở đất cũng cao hơn. Dù trồng bổ sung rừng trồng thì lớp thực bì cũng không còn nữa, hiệu quả phòng hộ cũng không cao. Chất lượng rừng ngày càng giảm là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến tình trạng thiên tai, lũ lụt.

    Tóm lại, việc chuyển mục đích 120 ha rừng tự nhiên tại huyện H để xây dựng khu du lịch, khu chữa bệnh sẽ gây ảnh hưởng xấu tới môi trường rừng, gây suy thoái rừng, gây suy giảm đa dạng sinh học.Vì thế, Hội bảo vệ thiên nhiên chúng tôi cho rằng, khi tiến hành dự án này cần giảm thiểu ít nhất rừng tự nhiên bị tàn phá. Chúng tôi đề nghị chủ dự án tận dụng rừng tự nhiên sẵn có để xây dựng khu sinh cảnh nhằm đảo bảo khả năng phòng hộ của rừng và bảo tồn đa dạng sinh học.

    2. Những tác động đối với môi trường trong quá trình thi công xây dựng dự án nếu dự án được chấp thuận đầu tư: 

    Trong quá trình xây dựng dự án, việc cải tạo giải phóng mặt bằng, xây dựng các công trình nhân tạo như nhà nghỉ, nhà hàng ăn uống cần chú ý đến các tác động tới môi trường như sau.

    Quản lý và kiểm soát bụi: Do việc san ủi giải phóng mặt bằng; đổ đất cát, vật liệu xây dựng nên trong giai đoạn thi công xây dựng, các phương tiện hoạt động liên tục. Chúng tôi cho rằng, những công việc san nền cũng như xây dựng các hạng mục, lắp đặt thiết bị này nếu được triển khai vào mùa khô hanh thì ô nhiễm bụi cho toàn khu vực xung quanh là cao nhất. Nồng độ bụi có thể vượt nhiều lần tiêu chuẩn cho phép. Thành phần bụi chủ yếu là đất, đá, cát, bụi xi măng, bụi khói trong giai đoạn thi công. Do đó, chủ đầu tư cần đặc biệt chú ý tới việc tránh tối đa ảnh hưởng tới cuộc sống của những người dân xung quanh, đặc biệt là cần có những biện pháp che, chắn thích hợp để ngăn ngừa tối đa tác động tiêu cực của bụi tới người dân. Việc tận dụng tối đa diện tích rừng tự nhiên xung quanh để hút bụi và điều hòa không khí xung quanh cũng nên được tính toán kỹ càng. 

    Kiểm soát khí thải: Các khí thải độc hại do các phương tiện thi công san lấp và giải phóng mặt bằng và các phương tiện vận tải vận chuyển vật tư. Thành phần của khí thải gồm: bụi, CO, CO2, NOx, hơi xăng. Các máy vận chuyển vật liệu xây dựng, đất đá sử dụng nhiên liệu là dầu diesel công suất lớn và hoạt động liên tục. Mặc dù khu vực tiến hành dự án có rừng tự nhiên bao quanh, nhưng việc khí thải phát tán có trong không khí cũng có thể ảnh hưởng đến môi trường lân cận.

    Để đánh giá mức độ ô nhiễm môi trường xung quanh, cần xem xét, tính toán mức độ lan truyền của các chất ô nhiễm ra môi trường xung quanh.

    Dựa trên các nguồn phát thải ta có thể chia nguồn thải thành:

    – Nguồn đường (nguồn di động): là nguồn do các phương tiện thi công chuyên chở gây ra.

    – Nguồn mặt, nguồn điểm (nguồn cố định): là nguồn phát sinh tại khu vực thi công do các thiết bị như: máy nén, máy đào đắp, san lấp, đóng cọc, máy trộn, phương tiện vận chuyển đi lại trong khu vực,… gây ra.

    Có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng đến mức độ lan truyền các chất ô nhiễm trong môi trường không khí như: yếu tố về khí tượng (tính ổn định của khí quyển, hướng gió, tốc độ gió, nhiệt độ của không khí, độ ẩm của không khí, lượng mưa,… ), yếu tố về địa hình và các công trình xây dựng trong khu vực (gò đất, đồi núi, khu vực bằng phẳng, độ cao của các công trình,…) và một yếu tố đặc biệt quan trọng khác đó là  tải lượng của chất ô nhiễm trong không khí.

    Quản lý chất thải rắn trong thi công xây dựng: Trong quá trình thi công, xây dựng dự án, tất nhiên chủ đầu tư phải có trách nhiệm quản lý chất thải rắn. Chất thải rắn trong quá trình thi công xây dựng chủ yếu là bao bì đựng xi măng vật liệu, gạch vụn đất đá, đá sỏi, vật liệu sử dụng để đổ bê tông,…và lượng chất thải phụ thuộc vào số lượng công trình và sự phát sinh.

    Ngoài ra, còn phải tính đến chất thải rắn phục vụ sinh hoạt của công nhân, những người phụ trách công trình trong quá trình thực hiện thi công. Một dự án lớn như dự án tại huyện H, số lượng nhân lực dành cho công trình hẳn nhiên là không hề nhỏ, có thể lên tới hàng trăm người. Cộng với việc xây dựng dự án, nếu mất nhiều thời gian, thì trách nhiệm thu gom, xử lý chất thải sinh hoạt theo đúng quy định cũng được đặt ra với chủ dự án. 

    Quản lý và kiểm soát tiếng ồn: Trong quá trình xây dựng, mọi hoạt động của con người, thiết bị trên công trường sẽ phát sinh ra tiếng ồn. Tiếng ồn làm ảnh hưởng đến sức khỏe của công nhân trong công trường xây dựng và dân cư khu vực xung quanh. Tất nhiên, nguồn tiếng ồn thi công phát sinh không liên tục, phụ thuộc vào loại hình hoạt động của các máy móc, thiết bị được sử dụng; thế nhưng chủ dự án cũng cần chú ý đến việc đảm bảo môi trường yên tĩnh cho sinh hoạt của người dân, thực hiện thi công những hạng mục có tiếng ồn lớn vào những thời điểm phù hợp, tránh ảnh hưởng tới cuộc sống sinh hoạt của người dân xung quanh và phải đảm bảo phù hợp với Tiêu chuẩn QCVN 26:2010/BTNMT về độ ồn tối đa. 

    Quản lý và kiểm soát nước thải: Trong quá trình thi công xây dựng dự án, các nguồn gây ô nhiễm môi trường nước có thể bao gồm:

    - Nước thải sinh hoạt của công nhân làm việc tại công trường, chủ yếu chứa cặn bã, các chất hữu cơ bị phân huỷ, vi sinh vật. 

    - Nước thải thi công phát sinh từ quá trình thi công, xây dựng như nước bảo dưỡng máy móc, nước rửa máy móc,...

    - Nước mưa chảy tràn kéo theo cặn bẩn vào nguồn tiếp nhận. Thành phần nước mưa chảy tràn chủ yếu là tổng chất rắn lơ lửng và dầu mỡ. Chủ đầu tư cần chú ý đến việc quản lý nước thải do quá trình xây dựng gây ra, có những biện pháp xử lý nước thải phù hợp nhằm tránh gây ô nhiễm môi trường nước xung quanh. 

    3. Những tác động đối với môi trường trong quá trình vận hành, đưa vào sử dụng khu du lịch tại huyện H: 

    Sau khi đưa vào sử dụng và đón khách du lịch, doanh nghiệp chủ đầu tư có một số trách nhiệm cần lưu ý như sau: 

    Về trách nhiệm trong việc khai thác và sử dụng nguồn tài nguyên nước tự nhiên cho hồ bơi tự nhiên và hồ bơi khoáng tự nhiên: Dự án tại huyện H có sử dụng nguồn nước tự nhiên để xây dựng hồ bơi, hồ bơi khoáng. Đây là những trường hợp phải xin cấp phép khai thác, sử dụng tài nguyên nước theo Điều 44 Luật Tài nguyên nước hiện hành. Không chỉ vậy, sau khi được cấp giấy phép, chủ đầu tư phải thực hiện đúng với những nghĩa vụ theo quy định của pháp luật, trong đó đặc biệt quan trọng là nghĩa vụ bảo vệ nguồn tài nguyên chung; sử dụng nước tiết kiệm, an toàn và hiệu quả. 

    Quản lý và kiểm soát nước thải: Trong quá trình hoạt động của Dự án, các nguồn gây ô nhiễm môi trường nước bao gồm: 

    - Nước mưa chảy tràn. Lượng nước này nếu không được thu gom sẽ cuốn theo đất, cát, rác thải trên mặt đất xuống cống, rãnh, làm tắc dòng chảy, tăng bồi lắng, ô nhiễm hệ thống thoát nước chung, gây suy giảm sức sống của hệ sinh thái dưới nước, xuất hiện hiện tượng phú dưỡng...; gây úng ngập cục bộ.

    - Dầu mỡ thải hoặc rơi vãi trên các tuyến đường trong khu vực dự án của các phương tiện vận tải. Lượng chất thải này ít nhưng đặc thù ô nhiễm cao.

    - Nước thải sinh hoạt của khách du lịch. Nước thải sinh hoạt có hàm lượng các chất bẩn cao, chứa các chất lơ lửng (SS), chất hữu cơ (BOD5, COD), và các vi sinh vật gây bệnh và là một trong những nguồn gây ô nhiễm chính đối với môi trường nước tiếp nhận nước thải, chính là nguồn nước tự nhiên của người dân huyện H cùng sử dụng.  Do đó trong quá trình hoạt động Dự án, Chủ đầu tư cần có các biện pháp xử lý nước thải sinh hoạt đạt tiêu chuẩn trước khi thải ra môi trường. 

    Quản lý chất thải rắn: Khi khu du lịch đi vào hoạt động, chất thải rắn phát sinh từ hoạt động của khách du lịch và nhân viên khu du lịch, chủ yếu bao gồm: rác thải hữu cơ (rau quả, thực phẩm thừa, không đạt tiêu chuẩn, giấy vụn…), rác thải vô cơ (bao nylon, vỏ lon, thủy tinh,…) . Khi rác thải không được đổ đúng nơi quy định, vứt bừa bãi trên mặt đất, dưới tác dụng của thời tiết và vi khuẩn, các hợp chất hữu cơ bị phân hủy tạo thành các mùi hôi thối gây ô nhiễm môi trường không khí, nước mặt và gián tiếp ảnh hưởng đến nước ngầm khu vực, phát sinh dịch bệnh. Các chất trong chất thải sau khi phân hủy được tích trữ trong đất sẽ gây ô nhiễm môi trường đất. Chất thải rắn không được thu gom, xử lý sẽ bị cuốn theo nước mưa chảy tràn, chảy xuống nguồn nước tiếp nhận làm ô nhiễm nguồn nước.

    Ngoài ra, Trong giai đoạn dự án đi vào hoạt động sẽ có thể phát sinh một lượng nhỏ chất thải nguy hại bao gồm: Mưc̣ in thải , bóng đèn neon hỏng , linh kiêṇ điêṇ tử (pin) ... từ dịch vụ lưu trú, nhà hàng, nhà nghỉ,... Mặc dù về cơ bản, lượng chất thải nguy hại là không lớn, tuy nhiên lượng chất thải này có hàm lượng độc tố cao, nếu không được thu gom, xử lý triệt để sẽ gây tác động bất lợi tới môi trường. Làm ô nhiễm nguồn nước, môi trường không khí khu vực xung quanh, suy giảm chất lượng đất, tác động xấu đến các hộ dân cư xung quanh,... Vì vậy Chủ đầu tư cần xây dựng các biện pháp thu gom và xử lý phù hợp.

    Quản lý và kiểm soát bụi, khí thải: Với một lượng khách du lịch lớn kèm theo các phương tiện giao thông để di chuyển trong khu du lịch  như: xe ô tô,... ra vào, cùng với các thiết bị, máy móc phục vụ cho hoạt động của dự án như: máy phát điện phục vụ khi lưới điện xảy ra sự cố mất điện,... sẽ phát sinh một lượng khí thải, bụi, tiếng ồn... gây ảnh hưởng tới môi trường không khí xung quanh khu vực dự án. Lượng khí thải phát sinh sẽ ảnh hưởng tới chất lượng môi trường không khí xung quanh và gây ảnh hưởng trực tiếp đến khách du lịch, ảnh hưởng gián tiếp đến người dân khu vực xung quanh. Do đó, Hội khuyến khích chủ đầu tư nên ưu tiên sử dụng các phương tiện di chuyển thân thiện với môi trường trong khu du lịch, như xe đạp, xe điện,... 

    Về việc vận hành khu sinh cảnh: Như đã nêu ở trên, về cơ bản, Hội rất khuyến khích và hoan nghênh chủ đầu tư tận dụng diện tích rừng tự nhiên có sẵn trong khu vực để xây dựng khu sinh cảnh. Trong quá trình đưa vào khai thác khu sinh cảnh, chủ đầu tư cần chú ý đảm bảo đa dạng sinh học trong phạm vi khu sinh cảnh cũng như khu vực rừng tự nhiên xung quanh, đảm bảo chăm sóc tốt các loài động, thực vật trong khu sinh cảnh. Chủ đầu tư có thể xây dựng thêm những công trình phụ trong khu sinh cảnh để phục vụ du khách như: quầy giải khát, khu chụp ảnh,... nhưng không được làm ảnh hưởng đến cảnh quan tổng thể của thiên nhiên trong khu sinh cảnh. 

    B. MỘT SỐ NGHĨA VỤ CƠ BẢN CỦA CHỦ DỰ ÁN KHI DỰ ÁN ĐI VÀO HOẠT ĐỘNG

    1. Một số nghĩa vụ chung

    Căn cứ Điều 26, Điều 27 LBVMT 2014 và Thông tư 25/2019/TT-BTNMT, những nghĩa vụ cơ bản của chủ dự án sau khi Báo cáo ĐTM được phê duyệt và dự án đi vào hoạt động là:

    - Trong quá trình thực hiện Dự án, nếu để xảy ra sự cố gây ảnh hưởng xấu đến chất lượng môi trường và sức khỏe cộng đồng phải dừng ngay các hoạt động của Dự án gây ra sự cố; tổ chức ứng cứu khắc phục sự cố; thông báo khẩn cấp cho Sở TN&MT nơi xây dựng dự án để được chỉ đạo và phối hợp xử lý. 

    - Chủ dự án gửi văn bản đến Ủy ban nhân dân và Ủy ban Mặt trận Tổ quốc cấp xã, phường thông báo về những nội dung cơ bản của dự án, những tác động xấu về môi trường của dự án, những biện pháp giảm thiểu tác động xấu về môi trường sẽ áp dụng và đề nghị góp ý kiến bằng văn bản.

    - Tổ chức thông báo rộng rãi cho nhân dân trong vùng Dự án biết về quy mô hoạt động, các tác động ảnh hưởng đến môi trường của Dự án cũng như các biện pháp bảo vệ môi trường trong quá trình hoạt động của Dự án. 

    2. Thực hiện Quan trắc môi trường

    - Căn cứ pháp lý: Điểm b, khoản 2a11, điều 12 Văn bản hợp nhất số 11/VBHN-BTNMT quy định: 

    b) Chương trình quản lý và giám sát môi trường được thực hiện trong giai đoạn thi công xây dựng dự án; dự kiến chương trình quản lý và quan trắc môi trường trong quá trình vận hành thử nghiệm và khi dự án đi vào vận hành;

    Quan trắc môi trường là quá trình đo đạc, phân tích và theo dõi các thành phần cũng như yếu tố ảnh hưởng tới môi trường. Từ đó có thể sử dụng, khắc phục và phòng ngừa kịp thời những ảnh hưởng xấu tác động tới môi trường.Song song đó, cơ quan có thẩm quyền sử dụng báo cáo quan trắc môi trường để kiểm tra, đánh giá, theo dõi và khắc phục kịp thời ngay khi có ảnh hưởng gây ô nhiễm hoặc suy thoái xảy ra cho môi trường.

    Về tần suất thực hiện quan trắc nước mặt lục địa, cụ thể trong dự án là nguồn nước khoáng thiên nhiên, nước trong hồ bơi tự nhiên, điều 10, Thông tư 24/2017/BTNMT quy định: Tần suất quan trắc môi trường nước mặt lục địa: tối thiểu 06 lần/năm, 02 tháng/lần.

    Đối với quan trắc môi trường đất, điều 34 của thông tư quy định:Tần suất quan trắc đối với thông số tổng N, tổng P, tổng K, cacbon hữu cơ: Tối thiểu 01 lần/3-5 năm. Tần suất quan trắc với các thông số khác: Tối thiểu 01 lần/năm, mỗi lần cách nhau ít nhất 06 tháng.

    - Ý nghĩa: Thực hiện báo cáo quan trắc môi trường là một trong những nghĩa vụ cơ bản của chủ dự án khi dự án đi vào hoạt động. Điều này có ý nghĩa là phương thức bảo đảm dự án không gây ô nhiễm vượt quá những tiêu chuẩn, quy chuẩn cho phép, đồng thời kiểm soát tình trạng môi trường, đưa ra giải pháp kịp thời nếu có sự cố xảy ra để giảm thiểu tối đa tác hại tới môi trường.

    3. Báo cáo hoàn thành ĐTM

    Báo cáo kết quả thực hiện các công trình và biện pháp bảo vệ môi trường phục vụ giai đoạn vận hành (hay còn gọi là Báo cáo hoàn thành ĐTM): Sau khi đã hoàn thành xong hồ sơ và nhận quyết định phê duyệt Báo cáo đánh giá tác động môi trường, chủ dự án phải thực hiện báo cáo kết quả thực hiện các công trình và biện pháp bảo vệ môi trường. Mục đích của loại hồ sơ này là để xác nhận việc đã thực hiện các nội dung, yêu cầu như đã cam kết trong Báo cáo đánh giá tác động đến môi trường. Mẫu báo cáo này có thể xem chi tiết tại phụ lục 1 của bài viết.

    4. Đăng ký chủ nguồn chất thải nguy hại và trách nhiệm của chủ nguồn chất thải gây nguy hại

    - Căn cứ pháp lý: Điều 6,7 Nghị định 38/2015/NĐ-CP về Quản lý chất thải và phế liệu

    - Với việc dự án có hạng mục khu vực chữa bệnh thì khả năng cao sẽ phát sinh nguồn chất thải nguy hại có thể kể đến như rác thải y tế, nước thải từ hoạt động chữa bệnh... có thể gây ô nhiễm môi trường. Bởi vậy, chủ dự án sau khi dự án đi vào hoạt động cần đăng ký và chịu trách nhiệm về nguồn chất thải gây nguy hại, tránh ảnh hưởng tới sức khỏe, đời sống của nhân dân chịu tác động trực tiếp từ dự án, và không gây ô nhiễm môi trường. Việc xử lý nguồn chất thải nguy hại theo đúng quy định của pháp luật sẽ giảm thiểu mức độ gây ô nhiễm của dự án.

    5. Xin cấp Giấy phép xả thải

    - Căn cứ pháp lý: điều 37, Luật Tài nguyên nước 2013 quy định:

    Tổ chức, cá nhân xả nước thải vào nguồn nước phải được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp giấy phép, trừ trường hợp tổ chức, cá nhân xả nước thải với quy mô nhỏ và không chứa hóa chất độc hại, chất phóng xạ thì không phải xin cấp giấy phép xả nước thải vào nguồn nướcGiấy phép xả thải được làm sau khi đã hoàn thành xây dựng hệ thống xử lý nước thải đạt quy chuẩn.

    - Về thời hạn của giấy phép xả thải, điểm d, khoản 1, điều 21 Nghị định 201/2013/NĐ-CP Hướng dẫn luật Tài nguyên nước có quy định.

    - Dự án với hai khu vực là khu vực nghỉ ngơi và khu vực chữa bệnh chắc chắn sẽ xả thải ra môi trường. Xin cấp giấy phép xả thải đồng nghĩa với việc dự án phải hoàn thành hệ thống xử lý nước thải đạt quy chuẩn hoặc có phương án bố trí thiết bị, nhân lực để thực hiện việc vận hành hệ thống xử lý nước thải và quan trắc hoạt động xả nước thải đối với trường hợp chưa có công trình xả nước thải. 

    6. Trồng rừng thay thế và chi trả dịch vụ môi trường rừng

    - Trồng rừng thay thế: Căn cứ pháp lý: Khoản 1, điều 21, Luật Lâm nghiệp 2017 quy định:

    1. Chủ dự án được giao đất, thuê đất có chuyển mục đích sử dụng rừng sang mục đích khác phải trồng rừng thay thế bằng diện tích rừng bị chuyển mục đích sử dụng đối với rừng trồng, bằng ba lần diện tích rừng bị chuyển mục đích sử dụng đối với rừng tự nhiên.

    - Chi trả dịch vụ môi trường rừng: 

    + Đối tượng: Điểm d, khoản 2, điều 63, Luật Lâm nghiệp 2017: Tổ chức, cá nhân kinh doanh dịch vụ du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng, giải trí phải chi trả tiền dịch vụ về bảo vệ, duy trì vẻ đẹp cảnh quan tự nhiên, bảo tồn đa dạng sinh học hệ sinh thái rừng;

    + Hình thức: khoản 3, điều 63, Luật Lâm nghiệp 2017

    Trên đây là một số nghĩa vụ cơ bản mà chủ dự án phải thực hiện khi dự án đi vào hoạt động. Do chủ đề của bài viết nên nhóm chỉ đi sâu nghiên cứu tới nghĩa vụ liên quan tới bảo vệ môi trường. Những nghĩa vụ khác không thuộc phạm vi bài viết xin phép không đề cập tại đây.

    KẾT LUẬN

    Bài viết trên đây đã đưa ra những cơ sở pháp lý liên quan đến việc thành lập ĐTM cũng như việc tham vấn cộng đồng dân cư; các vấn đề cần được xem xét dưới vai trò người dân và cũng là Đại diện hội bảo vệ TN & MT. Đây cũng là những nền tảng thiết yếu cho công tác đánh giá tác động môi trường, phục vụ cho những công tác quan trọng khác như: cơ sở dữ liệu cho các báo cáo hiện trạng môi trường quốc gia theo điều 6 Thông tư 43/2015/TT-BTNMT về báo cáo hiện trạng môi trường, bộ chỉ thị môi trường và quản lý số liệu quan trắc môi trường, căn cứ cơ bản cho tính khả thi của dự án, biểu hiện điển hình cho quan điểm phát triển bền vững – đặt yếu tố môi trường ngang với yếu tố lợi nhuận, … Chính vì vậy, từ tình huống thực tế đã cho có thể rút ra hai kinh nghiệm quý báu sau đây. Thứ nhất, về phía các chủ đầu tư, góc nhìn của họ không được phép giới hạn trong phạm vi lợi nhuận, mà còn phải đặt mình vào trong suy nghĩ của người dân có thể chịu ảnh hưởng trực tiếp bởi các dự án, để triển khai được dự án đó trong sự an toàn cao nhất. Thứ hai, đối với công tác bảo vệ môi trường nói chung, mọi biện pháp giảm thiểu rủi ro cho môi trường đều là cần thiết trong bối cảnh các yếu tố của môi trường, đặc biệt là tài nguyên rừng và nước đang chịu những tổn thương sâu sắc; nếu không, “một thay đổi nhỏ của dữ liệu đầu vào dẫn đến một thay đổi lớn của kết quả” (Butterfly effect – Edward Norton Lorenz)

    DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

    1. Luật Bảo vệ môi trường năm 2014

    2. Luật Lâm nghiệp 2017

    3. Luật Tài nguyên nước 2013 

    4. Thông tư số 27/2015/TT-BTNMT ngày 29/5/2015 của Bộ Tài nguyên và Môi trường về Đánh giá môi trường chiến lược, Đánh giá tác động môi trường và Kế hoạch bảo vệ môi trường.

    5. Văn bản hợp nhất số 11/VBHN-BTNMT 

    6. Thông tư 24/2017/BTNMT Quy định Kỹ thuật quan trắc môi trường 

    7. Nghị định 38/2015/NĐ-CP về Quản lý chất thải và phế liệu

    8. Nghị định 201/2013/NĐ-CP Hướng dẫn luật Tài nguyên nước

    9. Thông tư 43/2015/TT-BTNMT về Báo cáo hiện trạng môi trường

    10. Thông tư 25/2019/TT-BTNMT

    11. TS. Trần Thị Sáu, Tham vấn cộng đồng dân cư trong quá trình đánh giá tác động môi trường và những vấn đề đặt ra, Trang thông tin Nghiên cứu lập pháp, Địa chỉ truy cập: http://lapphap.vn/Pages/tintuc/tinchitiet.aspx?tintucid=207023 , Ngày truy cập: 06/04/2021

    12. Trịnh Đăng Tình, Vai trò của rừng đối với môi trường sống của chúng ta, Trang thông tin Kiểm lâm Thanh Hóa, Địa chỉ truy cập: http://www.klth.org.vn/default.aspx?NewsID=1346 Ngày truy cập: 05/04/2021

    Xem thêm: TỔNG HỢP BÀI TẬP NHÓM - BÀI TẬP LỚN - BÀI TẬP CÁ NHÂN - TIỂU LUẬN CÁC MÔN HLU

    Nếu bạn thấy những chia sẻ của mình hữu ích thì có thể donate ủng hộ mình 01 ly trà sữa nha: BIDV 4603463395

    Continue Reading

    ĐỀ BÀI

    Tháng 04/2017, Giang dự định thành lập Doanh nghiệp tư nhân Thanh Giang kinh doanh bán buôn thiết bị linh kiện điện tử, viễn thông có trụ sở tại phố Hàng Bài, quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội với số vốn đầu tư là 03 tỷ đồng (gồm tiền mặt, ô tô, ngoại tệ). Hỏi:

    1. Giang phải chuẩn bị những giấy tờ nào để tiến hành thủ tục đăng ký doanh nghiệp? Cơ quan nào có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp cho Doanh nghiệp tư nhân Thanh Giang? 

    2. Giang có phải thực hiện định giá tài sản và làm thủ tục chuyển quyền sở hữu tài sản cho Doanh nghiệp tư nhân Thanh Giang không? Cách thức để xác định vốn đầu tư của Doanh nghiệp tư nhân Thanh Giang như thế nào?

    3. Giang có được sử dụng tài sản chung của vợ chồng Giang để thành lập Doanh nghiệp tư nhân Thanh Giang không? Tại sao?

    4. Tháng 12/2018, Giang bán Doanh nghiệp tư nhân Thanh Giang cho Thảo. Giang và Thảo phải thực hiện thủ tục mua bán Doanh nghiệp tư nhân Thanh Giang như thế nào?

    5. Việc giải quyết tình huống trên có gì thay đổi nếu áp dụng quy định của pháp luật hiện hành?

     


    GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ

    1. Giang phải chuẩn bị những giấy tờ nào để tiến hành thủ tục đăng ký doanh nghiệp? Cơ quan nào có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp cho Doanh nghiệp tư nhân Thanh Giang?

    a) Giấy tờ cần chuẩn bị để tiến hành đăng ký doanh nghiệp tư nhân

    Theo Điều 20 Luật Doanh nghiệp 2014, hồ sơ đăng ký doanh nghiệp tư nhân gồm:

    - Giấy đề nghị đăng ký doanh nghiệp.

    - Bản sao Thẻ căn cước công dân, Giấy chứng minh nhân dân, Hộ chiếu hoặc chứng thực cá nhân hợp pháp khác của chủ doanh nghiệp tư nhân.

    Theo Điều 24 Luật Doanh nghiệp 2014, giấy đề nghị đăng ký doanh nghiệp bao gồm các nội dung sau đây:

    - Tên doanh nghiệp;

    - Địa chỉ trụ sở chính của doanh nghiệp, số điện thoại; số fax, thư điện tử (nếu có);

    - Ngành, nghề kinh doanh;

    - Vốn đầu tư của chủ doanh nghiệp tư nhân;

    - Thông tin đăng ký thuế;

    - Số lượng lao động dự kiến;

    - Họ, tên, chữ ký, địa chỉ liên lạc, quốc tịch, thông tin giấy tờ pháp lý của cá nhân đối với chủ doanh nghiệp tư nhân

    b) Cơ quan có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp

    Điều 13 Nghị định 78/2015/NĐ-CP quy định về cơ quan đăng ký kinh doanh như sau:

    - Cơ quan đăng ký kinh doanh được tổ chức ở tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là cấp tỉnh) và ở quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là cấp huyện), bao gồm:

    + Ở cấp tỉnh: Phòng Đăng ký kinh doanh thuộc Sở Kế hoạch và Đầu tư (sau đây gọi chung là Phòng Đăng ký kinh doanh).

    + Ở cấp huyện: Phòng Tài chính - Kế hoạch thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện (sau đây gọi chung là Cơ quan đăng ký kinh doanh cấp huyện).

    Khoản 1 Điều 14 Nghị định 78/2015/NĐ-CP quy định về nhiệm vụ quyền hạn của Phòng đăng ký kinh doanh như sau: “Trực tiếp nhận hồ sơ đăng ký doanh nghiệp; xem xét tính hợp lệ của hồ sơ đăng ký doanh nghiệp và cấp hoặc từ chối cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp.”

    Như vậy, cơ quan có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp cho Doanh nghiệp tư nhân Thanh Giang là Phòng đăng ký kinh doanh Thành phố Hà Nội.

    2. Giang có phải thực hiện định giá tài sản và làm thủ tục chuyển quyền sở hữu tài sản cho Doanh nghiệp tư nhân Thanh Giang không? Cách thức để xác định vốn đầu tư của Doanh nghiệp tư nhân Thanh Giang như thế nào? 

    a) Về việc thực hiện định giá tài sản và thủ tục chuyển quyền sở hữu tài sản cho Doanh nghiệp tư nhân Thanh Giang

    * Về việc thực hiện định giá tài sản: 

    Theo quy định tại khoản 1 Điều 37 Luật Doanh nghiệp 2014 về định giá tài sản góp vốn, những tài sản không phải là Đồng Việt Nam, ngoại tệ tự do chuyển đổi, vàng phải được định giá. Ngoài ra, khoản 1 Điều 184 Luật Doanh nghiệp 2020 quy định: “[…] Chủ doanh nghiệp tư nhân có nghĩa vụ đăng ký chính xác tổng số vốn đầu tư, trong đó nêu rõ số vốn bằng Đồng Việt Nam, ngoại tệ tự do chuyển đổi, vàng và tài sản khác; đối với vốn bằng tài sản khác còn phải ghi rõ loại tài sản, số lượng và giá trị còn lại của mỗi loại tài sản”. Để biết được giá trị còn lại của mỗi loại tài sản đó, chủ doanh nghiệp tư nhân phải thực hiện định giá tài sản, có thể thông qua tổ chức thẩm định giá chuyên nghiệp.

    Phần vốn đầu tư của Giang gồm 3 loại tài sản: tiền mặt, ô tô, và ngoại tệ.

    Thứ nhất, Giang buộc phải thực hiện định giá đối với chiếc ô tô. Do đây là tài sản khác, không phải Đồng VIệt Nam, ngoại tệ tự do chuyển đổi hay vàng.

    Thứ hai, đối với ngoại tệ trong trường hợp của Giang, nếu đó là ngoại tệ tự do chuyển đổi thì Giang không cần thực hiện định giá. Nếu đó là ngoại tệ không tự do chuyển đổi thì phải được thực hiện định giá. Hiện tại, pháp luật Việt Nam chưa quy định rõ ràng về khái niệm “ngoại tệ tự do chuyển đổi” hay danh sách những ngoại tệ tự do chuyển đổi. Tuy nhiên, Giang có thể dựa vào một số văn bản từng đề cập về vấn đề này, ví dụ như Quyết định của Thống đốc Ngân hàng nhà nước về việc ban hành Quy chế thanh toán trong mua bán, trao đổi hàng hoá và dịch vụ thương mại tại khu vực biên giới Việt Nam – Campuchia năm 2004. Cụ thể, Điều 4 của Quyết định này có chú thích một số ngoại tệ tự do chuyển đổi như Đô la Mỹ, Euro, Yên Nhật...

    Thứ ba, đối với tiền mặt thì Giang không cần phải thực hiện định giá. Theo khoản 1 Điều 3 Thông tư số 33 năm 2017 của Bộ Tài chính về Quy định chế độ quản lý tiền mặt, giấy tờ có giá, tài sản quỹ trong hệ thống kho bạc Nhà nước, tiền mặt là “các loại tiền giấy, tiền kim loại do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam phát hành”. Do đó, tiền mặt ở đây được hiểu là Đồng Việt Nam. Như vậy, Giang không cần phải thực hiện định giá đối với loại tài sản này.

    * Về việc làm thủ tục chuyển quyền sở hữu tài sản: 

    Khoản 1 Điều 35 Luật Doanh nghiệp 2014 quy định về tài sản góp vốn như sau: “Tài sản góp vốn là Đồng Việt Nam, ngoại tệ tự do chuyển đổi, vàng, quyền sử dụng đất, quyền sở hữu trí tuệ, công nghệ, bí quyết kỹ thuật, tài sản khác có thể định giá được bằng Đồng Việt Nam.”

    Đối với trường hợp chuyển quyền sở hữu tài sản góp vốn, theo Điều 36 Luật Doanh nghiệp 2014, xuất phát từ bản chất của loại hình doanh nghiệp mà pháp luật chỉ quy định thành viên của công ty Trách nhiệm hữu hạn, công ty Hợp danh và công ty Cổ phần mới phải làm thủ tục chuyển quyền sở hữu tài sản góp vốn. Đối với Doanh nghiệp tư nhân, đây là loại hình doanh nghiệp mà không có sự tách bạch rõ ràng giữa tài sản chủ doanh nghiệp tư nhân và tài sản của doanh nghiệp, tài sản được sử dụng vào hoạt động kinh doanh của chủ doanh nghiệp tư nhân không phải làm thủ tục chuyển quyền sở hữu cho doanh nghiệp bởi chủ doanh nghiệp tư nhân chịu trách nhiệm vô hạn về tài sản trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Do đó, nếu Giang là chủ sở hữu doanh nghiệp tư nhân Thanh Giang thì các tài sản được ghi nhận quyền sở hữu của Giang được sử dụng vào hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp tư nhân do Giang làm chủ không phải làm thủ tục chuyển quyền sở hữu cho doanh nghiệp.

    b)  Cách thức xác định vốn đầu tư của Doanh nghiệp tư nhân Thanh Giang  

    Theo Khoản 1 Điều 183 Luật Doanh nghiệp 2014: “Doanh nghiệp tư nhân là doanh nghiệp do một cá nhân làm chủ và tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của doanh nghiệp.” 

    Như vậy có thể hiểu, vốn đầu tư của chủ doanh nghiệp tư nhân vào Doanh nghiệp tư nhân do người đó thành lập cũng chính là vốn đầu tư của Doanh nghiệp tư nhân đó. Ở đây vốn đầu tư của doanh nghiệp tư nhân Thanh Giang cũng chính là vốn đầu tư của Giang. 

    Theo Khoản 1 Điều 184 Luật Doanh nghiệp 2014 thì Giang sẽ là người phải tự đăng ký chính xác tổng số vốn đầu tư. Đối với tài sản là tiền mặt, ở đây là Đồng Việt Nam như đã phân tích ở phần trên, thì Giang phải tiêu rõ phần vốn đó bằng bao nhiêu. 

    Đối với ngoại tệ thì Giang cần xác định xem đó có phải là ngoại tệ tự do chuyển đổi không. Nếu Giang xác định được số ngoại tệ đó là ngoại tệ tự do chuyển đổi thì cũng chỉ cần nêu rõ phần vốn đó bằng bao nhiêu. Còn nếu đó không phải ngoại tệ tự do chuyển đổi thì cần xác định rõ là ngoại tệ gì, số lượng và giá trị bao nhiêu. Việc này sẽ được xác định thông qua việc định giá tài sản đã nêu trong phần trên.

    Đối với chiếc ô tô, thì phải thông qua việc định giá tài sản cũng mới xác định được nó còn giá trị bao nhiêu. Từ đó Giang phải nêu rõ số lượng ô tô và giá trị còn lại của nó. 

    Ngoài ra, nếu trong 3 tỷ đồng đó bao gồm cả vốn vay và tài sản thuê mà không phải hoàn toàn thuộc tài sản của Giang thì Giang cũng phải ghi chép rõ  ràng, đầy đủ vào sổ kế toán và báo cáo tài chính của doanh nghiệp.

    Trong trường hợp Giang muốn tăng hay giảm vốn đầu tư của mình vào hoạt động doanh nghiệp thì phải ghi chép đầy đủ vào sổ kế toán. Nếu Giang muốn giảm số vốn đầu tư xuống dưới 3 tỷ đồng thì phải đăng ký với Cơ quan đăng ký kinh doanh, theo khoản 3 Điều 184 của  Luật Doanh nghiệp 2014. 

    3. Giang có được sử dụng tài sản chung của vợ chồng Giang để thành lập Doanh nghiệp tư nhân Thanh Giang không? Tại sao?

    Để trả lời câu hỏi Giang có được sử dụng tài sản chung của vợ chồng Giang để thành lập doanh nghiệp tư nhân hay không, trước hết ta cần hiểu tài sản chung của vợ chồng là gì. Điều 33 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: 

    “1. Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.

    Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng.

    2. Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất, được dùng để bảo đảm nhu cầu của gia đình, thực hiện nghĩa vụ chung của vợ chồng.

    3. Trong trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi là tài sản chung.”

    Bên cạnh đó, Điều 36 Luật hôn nhân và gia đình cũng quy định về việc đưa tài sản chung của vợ chồng vào kinh doanh như sau: “Trong trường hợp vợ chồng có thỏa thuận về việc một bên đưa tài sản chung vào kinh doanh thì người này có quyền tự mình thực hiện giao dịch liên quan đến tài sản chung đó. Thỏa thuận này phải lập thành văn bản.” 

    Theo Điều 183 Luật Doanh nghiệp 2014: “Doanh nghiệp tư nhân là doanh nghiệp do một cá nhân làm chủ và tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của doanh nghiệp.”

    Từ các cơ sở pháp lý trên, có thể trả lời vấn đề như sau: Giang không được sử dụng tài sản chung của vợ chồng để thành lập doanh nghiệp tư nhân Thanh Giang, bởi tài sản chung không phải là tài sản của riêng của Giang, chính vì vậy Giang không thể tự làm chủ và tự chịu trách nhiệm bằng tài sản đó với mọi hoạt động của doanh nghiệp. 

    Tuy nhiên, trong trường hợp hai vợ chồng thực hiện việc chuyển quyền sở hữu tài sản chung thì Giang hoàn toàn có thể sử dụng khối tài sản chung để thành lập doanh nghiệp tư nhân. Cụ thể thì cần thực hiện các thủ tục sau: 

    Trước hết, vợ chồng Giang cần lập văn bản thỏa thuận về việc đưa tài sản chung vào kinh doanh, trong đó xác định rõ số tài sản chung của vợ chồng khi đưa vào kinh doanh. Văn bản này cần được công chứng để đảm bảo tính hiệu lực pháp lý cao nhất.

    Sau đó, theo Khoản 1 điều 188 Luật Doanh nghiệp 2020, để có thể thành lập doanh nghiệp tư nhân Thanh Giang thì doanh nghiệp tư nhân này phải do một người đứng tên, ở đây Giang là chủ sở hữu nên Giang sẽ là người đứng tên. Lúc đó việc đưa tài sản chung của vợ chồng vào kinh doanh phải được lập thành hợp đồng, làm thủ tục chuyển nhượng, chuyển đổi tên chủ sở hữu sang cho Giang. Đối với mỗi loại tài sản mà pháp luật có quy định về việc đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng khác nhau. Vợ chồng Giang cần phải xác định các tài sản mình đưa vào kinh doanh, để từ đó xác định được thủ tục chuyển đổi quyền sở hữu cho hợp pháp.

    4. Tháng 12/2018, Giang bán Doanh nghiệp tư nhân Thanh Giang cho Thảo. Giang và Thảo phải thực hiện thủ tục mua bán Doanh nghiệp tư nhân Thanh Giang như thế nào?

    Theo quy định pháp luật Việt Nam, chỉ có doanh nghiệp tư nhân mới được phép bán toàn bộ. Bởi doanh nghiệp tư nhân là doanh nghiệp chỉ do một cá nhân làm chủ và tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của doanh nghiệp.

     Theo quy định tại Điều 187 Luật doanh nghiệp 2014:

    “1. Chủ doanh nghiệp tư nhân có quyền bán doanh nghiệp của mình cho người khác.

    2. Sau khi bán doanh nghiệp, chủ doanh nghiệp tư nhân vẫn phải chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp phát sinh trong thời gian trước ngày chuyển giao doanh nghiệp, trừ trường hợp người mua, người bán và chủ nợ của doanh nghiệp có thỏa thuận khác.

    3. Người bán, người mua doanh nghiệp phải tuân thủ các quy định của pháp luật về lao động.

    4. Người mua doanh nghiệp phải đăng ký thay đổi chủ doanh nghiệp tư nhân theo quy định của Luật này.”

    Bản chất của việc bán Doanh nghiệp tư nhân chính là việc chủ doanh nghiệp Doanh nghiệp tư nhân chuyển nhượng vốn đầu tư của mình vào Doanh nghiệp tư nhân cho người khác cùng với việc chuyển giao quyền sở hữu Doanh nghiệp tư nhân.

    Như vậy, Giang có quyền bán Doanh nghiệp tư nhân Thanh Giang cho Thảo. Trong trường hợp này Giang và Thảo phải giải quyết các vấn đề lao động trong công ty. Sau khi đạt được thống nhất về vấn đề thỏa thuận, thì hai bên tiến hành việc mua bán doanh nghiệp.

    Thủ tục mua bán doanh nghiệp tư nhân Thanh Giang được thực hiện như sau: 

    Thứ nhất, trong một vụ mua bán doanh nghiệp nói chung, chủ sở hữu phải thông qua chủ trương bán doanh nghiệp. Đối với doanh nghiệp tư nhân Thanh Giang, với bản chất là doanh nghiệp một chủ sở hữu, chủ doanh nghiệp tư nhân - Giang có toàn quyền quyết định trong việc bán doanh nghiệp của mình. 

    Thứ hai, kí kết hợp đồng mua bán doanh nghiệp tư nhân. Sau khi quyết định về việc bán doanh nghiệp tư nhân và tìm được đối tác phù hợp để tham gia kí kết hợp đồng, bên bán và bên mua doanh nghiệp sẽ thực hiện giai đoạn đàm phán để kí kết hợp đồng. Việc quan trọng nhất mà bên bán và bên mua cần làm là đó là xác định, thỏa thuận và thống nhất với nhau về giá trị của doanh nghiệp mục tiêu (bao gồm tài sản hữu hình và tài sản vô hình). Theo quy định của Luật Doanh nghiệp 2014, chủ sở hữu doanh nghiệp tư nhân sau khi bán các doanh nghiệp của mình vẫn phải chịu trách nhiệm tài sản về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp phát sinh trong thời gian trước ngày chuyển giao của doanh nghiệp. Nếu người mua, người bán và chủ nợ có thỏa thuận khác thì sẽ thực hiện theo thỏa thuận đó. Như vậy, nếu như trong hợp đồng không có thỏa thuận liên quan đến việc thanh toán các khoản nợ của doanh nghiệp thì trách nhiệm thuộc về Giang là bên bán doanh nghiệp tư nhân Thanh Giang. Ngoài ra, sau khi mua bán doanh nghiệp tư nhân Thanh Giang thì Giang và Thảo phải tuân thủ các quy định của pháp luật về lao động và các quy định khác của pháp luật doanh nghiệp cũng như Điều lệ doanh nghiệp.

    Thứ ba, đăng kí thay đổi chủ sở hữu doanh nghiệp.

    Sau khi hoàn tất hợp đồng mua bán, Thảo phải thực hiện việc đăng kí thay đổi chủ sở hữu doanh nghiệp, không cần phải đăng kí kinh doanh lại. Quy định này tạo điều kiện thuận lợi tối đa cho các nhà đầu tư mua lại doanh nghiệp tư nhân.

    Về hồ sơ đăng ký thay đổi chủ doanh nghiệp tư nhân:

    Theo Điều 47 Nghị định 78/2015/NĐ-CP của Chính phủ về đăng ký doanh nghiệp, hồ sơ đăng ký thay đổi bao gồm:

    1. Thông báo thay đổi nội dung đăng ký doanh nghiệp có chữ ký của người bán và người mua

    2. Bản sao hợp lệ một trong những giấy tờ chứng thực cá nhân của người mua 

    3. Hợp đồng mua bán doanh nghiệp hoặc các giấy tờ chứng minh hoàn tất việc chuyển nhượng

    Khi nhận hồ sơ đăng ký thay đổi của doanh nghiệp, cơ quan đăng ký kinh doanh có trách nhiệm xem xét tính hợp lệ của hồ sơ và thực hiện thay đổi nội dung đăng ký doanh nghiệp trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được thông báo.

    Về tiến trình mua bán doanh nghiệp tư nhân

    - Thực hiện mua bán doanh nghiệp với người mua – Thảo:

    + Soạn thảo Hợp đồng mua bán doanh nghiệp Thanh Giang

    Pháp luật không quy định về mẫu Hợp đồng mua bán Doanh nghiệp tư nhân nhưng cần tuân thủ các quy định của hợp đồng mua bán như hợp đồng mua bán tài sản thông thường gồm các điều khoản như:

    • Bên mua

    • Bên bán

    • Đối tượng của hợp đồng

    • Giá cả

    • Thuế

    • Lệ phí

    • Phương thức thanh toán

    • Quyền và nghĩa vụ của các bên

    + Xác định người mua doanh nghiệp (chủ doanh nghiệp tư nhân trong tương lai) phải là người có quyền thành lập, góp vốn thành lập, mua cổ phần và quản lý doanh nghiệp theo quy định tại Khoản 1 Điều 13 Luật Doanh nghiệp 2014 và không thuộc trường hợp không được quyền thành lập và quản lý doanh nghiệp tại Việt Nam theo quy định tại Khoản 2 Điều 13 Luật này.

    Theo đó, xác lập Thảo phải là người có quyền thành lập, góp vốn thành lập, mua cổ phần và quản lý doanh nghiệp theo quy định tại Luật Doanh nghiệp và không thuộc trường hợp không được quyền thành lập và quản lý doanh nghiệp tại Việt Nam theo quy định tại luật này

    + Các tài liệu chứng minh việc mua bán doanh nghiệp tư nhân Thanh Giang đã hoàn thành (giấy biên nhận tiền mua bán doanh nghiệp, Biên bản thanh lý hợp đồng mua bán doanh nghiệp tư nhân và thực hiện việc đăng ký doanh nghiệp cho Thảo).

    - Đăng ký sang tên doanh nghiệp cho Thảo:

    + Đăng ký thay đổi nội dung Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp.

    Theo khoản 2 Điều 32 Luật Doanh nghiệp 2014: “Người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp chịu trách nhiệm thông báo thay đổi nội dung đăng ký doanh nghiệp trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày có thay đổi.”

    Thảo có trách nhiệm đăng ký thay đổi nội dung Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp Thanh Giang trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày có thay đổi.

    + Thông báo thay đổi chủ sở hữu doanh nghiệp tư nhân

    Căn cứ pháp lý: Điều 33 Luật Doanh nghiệp 2014 quy định Công bố nội dung đăng ký doanh nghiệp (trong trường hợp thay đổi nội dung đăng ký doanh nghiệp, những thay đổi tương ứng phải được thông báo công khai trên Cổng thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày được công khai).

    + Nội dung thông báo thay đổi chủ doanh nghiệp tư nhân: 

    • Tên, trụ sở của doanh nghiệp 

    • Tên, địa chỉ của người mua

    • Tổng số nợ chưa thanh toán của doanh nghiệp (nếu có)

    • Tên, địa chỉ, số nợ và thời hạn thanh toán cho từng chủ nợ (nếu có)

    • Hợp đồng lao động và các hợp đồng khác đã ký mà chưa thực hiện xong và cách thức giải quyết các hợp đồng đó (nếu có)

    5. Việc giải quyết tình huống trên có gì thay đổi nếu áp dụng quy định của pháp luật hiện hành?

    a) Hồ sơ tiến hành thủ tục đăng ký doanh nghiệp

    * Hồ sơ đăng ký doanh nghiệp tư nhân bao gồm:

    - Giấy đề nghị đăng ký doanh nghiệp.

    - Bản sao giấy tờ pháp lý của cá nhân đối với chủ doanh nghiệp tư nhân .

    So với Luật Doanh nghiệp 2014, Luật Doanh nghiệp 2020 đã quy định cụ thể các phương thức gửi hồ sơ đăng ký doanh nghiệp để người thành lập, người được ủy quyền thành lập doanh nghiệp có căn cứ để lựa chọn một phương thức thuận tiện nhất cho mình. Cụ thể: 

    Người thành lập doanh nghiệp hoặc người được ủy quyền thực hiện đăng ký doanh nghiệp với Cơ quan đăng ký doanh nghiệp theo phương thức sau đây:

    - Đăng ký doanh nghiệp trực tiếp tại cơ quan đăng ký kinh doanh

    - Đăng ký doanh nghiệp qua dịch vụ bưu chính

    - Đăng ký doanh nghiệp qua mạng thông tin điện tử  

    * Cơ quan có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp:  

    Cơ quan có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp cho Doanh nghiệp tư nhân Thanh Giang theo quy định của pháp luật hiện hành không thay đổi so với thời điểm tháng 4/2017, vẫn là Phòng đăng ký kinh doanh thuộc Sở kế hoạch đầu tư thành phố Hà Nội.

    Địa chỉ Phòng đăng ký kinh doanh Thành phố Hà Nội vào tháng 4/2017: Nhà B10A, Khu đô thị Nam Trung Yên, phường Trung Hòa, quận Cầu Giấy, Hà Nội.

    Địa chỉ Phòng đăng ký kinh doanh Thành phố Hà Nội hiện nay: Tòa nhà Trung tâm giao dịch công nghệ thường xuyên Hà Nội - Khu liên cơ Võ Chí Công, số 258 đường Võ Chí Công, phường Xuân La, quận Tây Hồ, Hà Nội.

    b) Định giá tài sản và xác định vốn đầu tư của doanh nghiệp tư nhân

    Khoản 1 Điều 189 Luật Doanh nghiệp 2020 quy định: 

    “Vốn đầu tư của chủ doanh nghiệp tư nhân do chủ doanh nghiệp tự đăng ký. Chủ doanh nghiệp tư nhân có nghĩa vụ đăng ký chính xác tổng số vốn đầu tư, trong đó nêu rõ số vốn bằng Đồng Việt Nam, ngoại tệ tự do chuyển đổi, vàng và tài sản khác; đối với vốn bằng tài sản khác còn phải ghi rõ loại tài sản, số lượng và giá trị còn lại của mỗi loại tài sản.”

    So với quy định của Luật doanh nghiệp 2014, quy định về cách xác định vốn góp và định giá tài sản của doanh nghiệp tư nhân không có gì thay đổi. Do đó, khi áp dụng quy định của pháp luật hiện hành, cách giải quyết vấn đề không có gì thay đổi.

    c) Đưa tài sản chung của vợ chồng vào thành lập doanh nghiệp tư nhân

    Khoản 1 Điều 188 Luật Doanh nghiệp 2020 quy định: “Doanh nghiệp tư nhân là doanh nghiệp do một cá nhân làm chủ và tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của doanh nghiệp.”

    Như vậy, so với quy định của Luật doanh nghiệp 2014 về trách nhiệm tài sản của doanh nghiệp tư nhân, quy định tại Luật Doanh nghiệp 2020 không có sự thay đổi. Vì vậy, cách giải quyết tình huống khi áp dụng pháp luật hiện hành cũng không có sự khác biệt so với khi áp dụng Luật Doanh nghiệp 2014. 

    d) Bán doanh nghiệp tư nhân

    Nếu áp dụng quy định của pháp luật hiện hành (Luật Doanh nghiệp 2020 và nghị định 01/2021/NĐ-CP về đăng ký doanh nghiệp), nhìn chung, so với quy định tại thời điểm tháng 12/2018 (Luật Doanh nghiệp 2014 và Nghị định 78/2015/NĐ-CP về đăng ký doanh nghiệp) không có gì khác biệt về thủ tục mua bán doanh nghiệp tư nhân.

    Điều 192 Luật Doanh nghiệp 2020 quy định:

    “1. Chủ doanh nghiệp tư nhân có quyền bán doanh nghiệp tư nhân của mình cho cá nhân, tổ chức khác.

    2. Sau khi bán doanh nghiệp tư nhân, chủ doanh nghiệp tư nhân vẫn phải chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp tư nhân phát sinh trong thời gian trước ngày chuyển giao doanh nghiệp, trừ trường hợp chủ doanh nghiệp tư nhân, người mua và chủ nợ của doanh nghiệp tư nhân có thỏa thuận khác.

    3. Chủ doanh nghiệp tư nhân, người mua doanh nghiệp tư nhân phải tuân thủ quy định của pháp luật về lao động.

    4. Người mua doanh nghiệp tư nhân phải đăng ký thay đổi chủ doanh nghiệp tư nhân theo quy định của Luật này.”

    Nếu như Điều 187 Luật Doanh nghiệp 2014 chỉ quy định chủ doanh nghiệp tư nhân có quyền bán doanh nghiệp tư nhân của mình cho người khác thì Luật Doanh nghiệp 2020 đã quy định cụ thể hơn: chủ doanh nghiệp tư nhân có quyền bán doanh nghiệp tư nhân của mình cho cá nhân, tổ chức khác. Tuy nhiên, sự thay đổi này cũng không làm ảnh hưởng gì đến việc Giang bán doanh nghiệp tư nhân Thanh Giang cho Thảo nếu áp dụng quy định của pháp luật hiện hành.

    Cả Luật Doanh nghiệp 2014 và Luật Doanh nghiệp 2020 đều quy định người mua doanh nghiệp tư nhân phải đăng ký thay đổi chủ doanh nghiệp tư nhân. Cụ thể ở đây, Thảo có trách nhiệm đăng ký thay đổi nội dung Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày hợp đồng mua bán có hiệu lực.

    Trình tự, thủ tục đăng ký thay đổi chủ doanh nghiệp tư nhân trong trường hợp bán doanh nghiệp được quy định tại Điều 54 Nghị định 01/2021/NĐ-CP và Điều 47 Nghị định 78/2015/NĐ-CP cơ bản là giống nhau.

    Để thực hiện đăng ký thay đổi chủ doanh nghiệp tư nhân, Thảo cần gửi hồ sơ đến Phòng Đăng ký kinh doanh nơi doanh nghiệp đặt trụ sở chính với hồ sơ bao gồm:

    - Thông báo thay đổi chủ doanh nghiệp tư nhân có chữ ký của Giang và Thảo

    - Bản sao giấy tờ pháp lý của Thảo

    - Hợp đồng mua bán doanh nghiệp tư nhân

    Sau khi tiếp nhận hồ sơ đăng ký doanh nghiệp, Phòng Đăng ký kinh doanh trao Giấy biên nhận, kiểm tra tính hợp lệ của hồ sơ và cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp cho doanh nghiệp.

    Theo quy định của pháp luật hiện hành, mẫu thông báo thay đổi chủ doanh nghiệp tư nhân theo phụ lục II-3 Thông tư 02/2019/TT-BKHDT có sự thay đổi so với mẫu thông báo quy định tại phụ lục II-3 Thông tư 20/2015/TT-BKHDT. Do đó, khi áp dụng quy định của pháp luật hiện hành cần chú ý điều này.

    Theo quy định của pháp luật hiện hành tại Thông tư số 47/2019/TT-BTC, lệ phí thay đổi nội dung Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp là 50.000 đồng/lần, miễn lệ phí đối với doanh nghiệp đăng ký thành lập qua mạng điện tử; phí công bố nội dung đăng ký doanh nghiệp là 100.000 đồng/lần.

    Mức lệ phí này giảm so với quy định tại Thông tư 130/2017/TT-BTC: lệ phí thay đổi nội dung Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp là 100.000 đồng/lần, miễn lệ phí đối với doanh nghiệp đăng ký thành lập qua mạng điện tử; phí công bố nội dung đăng ký doanh nghiệp là 300.000 đồng/lần. 

    DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

    * Văn bản pháp luật:

    1. Luật Doanh nghiệp 2020

    2. Luật Doanh nghiệp 2014

    3. Luật Hôn nhân và gia đình 2014

    4. Nghị định 01/2021/NĐ-CP về đăng ký doanh nghiệp

    5. Nghị định 78/2015/NĐ-CP về đăng ký doanh nghiệp

    6. Thông tư 02/2019/TT-BKHDT sửa đổi, bổ sung một số điều của thông tư số 20/2015/ TT-BKHDT ngày 01 tháng 12 năm 2015 của Bộ kế hoạch và đầu tư hướng dẫn về đăng ký doanh nghiệp

    7. Thông tư 20/2015/TT-BKHDT hướng dẫn về đăng ký doanh nghiệp

    8. Thông tư 47/2019/TT-BTC Quy định mức thu, chế độ thu, nộp, quản lý và sử dụng phí cung cấp thông tin doanh nghiệp, lệ phí đăng ký đoanh nghiệp.

    9. Thông tư 130/2017/TT-BTC Sửa đổi, bỗ sung một số điều của Thông tư số 215/2016/TT-BTC ngày 10 tháng 11 năm 2016 của Bộ trưởng Bộ Tài chính quy định mức thu, chế độ thu, nộp, quản lý và sử dụng phí cung cấp thông tin doanh nghiệp, lệ phí đăng ký doanh nghiệp.

    10. Quyết định 17/2004/QĐ-NHNN của Thống đốc Ngân hàng Nhà Nước về việc ban hành quy chế thanh toán trong mua bán, trao đổi hàng hoá và dịch vụ thương mại tại khu vực biên giới Việt Nam - Campuchia

    * Giáo trình:

    11. Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Luật Thương mại Việt Nam tập I, NXB. Tư pháp, 2020

    * Sách tham khảo:

    12. Trường Đại học Luật Hà Nội, Hướng dẫn học môn Luật Thương mại tập I, NXB Lao động, 2020

    Xem thêm: TỔNG HỢP BÀI TẬP NHÓM - BÀI TẬP LỚN - BÀI TẬP CÁ NHÂN - TIỂU LUẬN CÁC MÔN HLU

    Nếu bạn thấy những chia sẻ của mình hữu ích thì có thể donate ủng hộ mình 01 ly trà sữa nha: BIDV 4603463395

    Continue Reading





    MÃ ĐỀ 08

    PHẦN 1 GIAO TIẾP XÃ HỘI

    1. Can you introduce yourself? (Warm-up)

    2. Do you like music?

    3. What kind of music do you like? 

    4. Who is your favorite singer? Why?

    PHẦN 2: THEO LUẬN CHỦ ĐỀ

    It is good to live in the countryside. Do you agree or disagree? Why?

    PHẦN ĐỌC - VIẾT

    Introduction: Em hãy đọc văn bản sau và viết 01 đoạn (khoảng 100 từ) về chủ đề có liên quan đến bài đọc.

    READING PASSAGE

    Do you live in a big city? It is said that living in big cities is expensive because of the high living cost. There are also pollution and traffic problems that make living in big cities unpleasant However, many people enjoy living in big cities because they offer convenience and countless options for entertainment. Many big cities already have good public transportation systems, which make it easy for the citizens to go anywhere around the city. This also reduces and helps overcome the problem of traffic jams that often occur at peak times. With the convenience of public transportation, the citizens do not have to drive everywhere and can save money as they do not have to pay for parking charges.

    PARAGRAPH WRITING

    Where do you live? Write a paragraph of about 100 words describing the city or town where you are living.

    Cách thức thi chuẩn đầu ra trực tuyến:

    Đầu giờ thi, tất cả thí sinh thi trong buổi sẽ vào một nhóm chat trên Teams. Đến lượt thí sinh nào thì thầy cô coi thi sẽ nhắn trên nhóm chat để thí sinh vào phòng thi, 2 người vào 1 lượt.

    Khi vào phòng thi thì bật cam, kiểm tra thẻ sinh viên. Sau đó giám thị sẽ cho thí sinh xem đề trên màn hình. 

    Tiếp đó, thí sinh trước đó sẽ bắt đầu phần thi của mình => Thí sinh trước thi xong thì đến lượt mình. Tức là mình có tầm 5 phút để chuẩn bị.

    Lúc thi thì đầu tiên là giới thiệu bản thân (cái này mình có thể chuẩn bị trước vì chắc chắn sẽ có). Sau đó, thầy cô sẽ hỏi các câu hỏi ở phần giao tiếp. Tiếp đó mình sẽ nói phần mình đã chuẩn bị cho phần 2. Thầy cô sẽ hỏi thêm xung quanh phần trình bày của mình. Phần bài viết mình cũng nói cho thầy cô nghe chứ không phải nộp bài viết. Xong thầy cô cũng sẽ hỏi quay bài viết này. Tổng cộng thời gian thi khoảng 5 phút.

    Xem thêm: Tổng hợp đề thi hết môn HLU

    Nếu bạn thấy những chia sẻ của mình hữu ích thì có thể donate ủng hộ mình 01 ly trà sữa nha: BIDV 4603463395

    Continue Reading

    Đề bài:

    Bằng các quy định của pháp luật hiện hành, anh/chị hãy làm sáng tỏ nhận định sau:

    “Quá trình phát triển của pháp luật đất đai qua các thời kỳ có xu hướng ngày càng quan tâm mở rộng các quyền cho người sử dụng đất” 

    Anh/Chị có nhận định, đánh giá gì về việc tổ chức thực thi quyền của người sử dụng đất trên thực tế thời gian qua?



    LỜI NÓI ĐẦU

    Trải qua hơn 40 năm ghi nhận chế độ sở hữu toàn dân đối với đất đai ở Việt Nam, hệ thống pháp Luật Đất đai ngày càng hoàn thiện để nâng cao hiệu quả sử dụng đất cũng như hiệu quả quản lý nhà nước trong lĩnh vực đất đai. Một trong những thành tựu rất lớn của pháp Luật Đất đai đó là ngày càng mở rộng quyền của người sử dụng đất. Từ chỗ người sử dụng đất chỉ có quyền sản xuất, canh tác trên đất đến khi quyền sử dụng đất trở thành một loại tài sản, người sử dụng đất có thể chuyển giao phù hợp với nhu cầu sử dụng của mình thông qua các giao dịch dân sự. Pháp Luật Đất đai cũng ngày càng bình đẳng hơn khi ghi nhận quyền của người Việt Nam định cư ở nước ngoài được sở hữu nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất ở Việt Nam.

    Mặc dù đã đạt được những kết quả to lớn, tuy nhiên trong thực tế một số quy định về quyền của người sử dụng đất còn chưa đầy đủ, chưa được làm rõ. Đi sâu làm rõ hơn vấn đề này nhóm chúng em xin phân tích quyền của người sử dụng đất qua các thời kì để từ đó thấy được thực trạng vấn đề tổ chức thực thi quyền của người sử dụng đất và cuối cùng là một số ý kiến của nhóm.

    NỘI DUNG 

    I. Về nhận định “Quá trình phát triển của pháp Luật Đất đai qua các thời kỳ có xu hướng ngày càng quan tâm mở rộng các quyền cho người sử dụng đất.

    1. Luật cải cách ruộng đất 1953

    Mãi cho tới khi Hiến pháp 1980 ra đời cùng với quy định tại Điều 19: “Đất đai, rừng núi, ... mà pháp luật quy định là của Nhà nước - đều thuộc sở hữu toàn dân.” thì tư tưởng “đất đai thuộc sở hữu toàn dân” mới tồn tại và được thừa nhận là hình thức sở hữu đất đai duy nhất được pháp luật thừa nhận. Vì vậy, có thể khẳng định khi Luật cải cách ruộng đất 1953 ra đời, khái niệm “đất đai” cũng như chế độ sở hữu toàn dân còn vô cùng xa lạ; điều đó cũng đồng nghĩa với việc các quyền đối với người sử dụng đất ở thời điểm ấy chỉ dừng lại ở mức độ sơ khai. Cụ thể hơn, Điều 31 Mục 4 Luật cải cách ruộng đất 1953 quy định: “ Người được chia ruộng đất có quyền sở hữu ruộng đất đó, và không phải trả cho địa chủ hay chính quyền bất cứ một khoản nào; chính quyền cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu ấy cho người được chia. Mọi khế ước cũ đều huỷ bỏ; người được chia có quyền chia gia tài, cầm, bán, cho, v.v... ruộng đất được chia.”

    Đây cũng là quy định duy nhất về quyền của người được chia ruộng đất được ghi nhận trong văn bản này. Ở đó, có một số điểm đáng được lưu ý sau đây:

    Thứ nhất, xét về mặt hình thức, quyền của người được chia ruộng đất không được quy định cụ thể như quyền của người sử dụng đất trong các văn bản pháp Luật Đất đai về sau.

    Thứ hai, quy định “Người được chia có quyền chia gia tài, cầm, bán, cho, v.v... ruộng đất được chia” bộc lộ nhiều thiếu sót trong pháp luật về đất đai thời điểm sau cách mạng nói riêng và pháp luật Việt Nam thời kỳ ấy nói chung. Có thể thấy, việc quy định một cách mơ hồ về các quyền của người được chia khiến cho các quan hệ pháp luật liên quan có khả năng không được thực hiện triệt để. 

    Thứ ba, Luật Cải cách ruộng đất chưa ghi nhận những chứng từ pháp lý quan trọng để đảm bảo các quyền sở hữu toàn diện của người được chia.

    2. Luật Đất đai năm 1987

    Luật Đất đai năm 1987 ra đời quy định nguyên tắc sử dụng đất, quyền và nghĩa vụ của các chủ thể sử dụng đất. Luật Đất đai 1987 khẳng định: “Đất đai thuộc sở hữu toàn dân, do Nhà nước thống nhất quản lý”. Có thể nói, Luật Đất đai năm 1987 là văn bản luật đầu tiên điều chỉnh quan hệ đất đai, bảo vê quyền sở hữu của Nhà nước, giao đất ổn định lâu dài. Qua đó cho thấy tính hoàn thiện hơn về mặt pháp lý, góp phần mở rộng các quyền cho người sử dụng đất

    Sau một thời gian thực hiện, chế độ sở hữu đất đai gồm có 3 hình thức không còn phù hợp, nhất là việc quy định hình thức sở hữu tập thể đối với đất đai tạo ra nhiều bất hợp lý: chưa quy định rõ những cơ sở pháp lý cần thiết để điều chỉnh về quan hệ đất đai trong quá trình chuyển sang nền kinh tế thị trường, trong quá trình tích tụ tập trung sản xuất trong nông nghiệp và phân công lại lao động trong nông thôn; chưa có những điều chỉnh thích đáng đối với những bất hợp lý trong những chính sách cũ, trong việc thay đổi quy hoạch, thay đổi kết cấu hộ nông dân trong nông thôn; chưa cho phép người sử dụng đất dịch chuyển quyền sử dụng đất.

    Tuy nhiên, có thể khẳng định rõ ràng rằng, với sự ra đời của Luật Đất đai năm 1987 thì công tác quản lý đất đai đã bắt đầu đi vào nề nếp và đặc biệt chú ý tới việc xác định, lập và quản lý hồ sơ địa giới hành chính các cấp địa phương.

    3. Luật Đất đai năm 1993

    Luật Đất đai 1993 tiếp tục đổi mới hơn nữa đất đai nông nghiệp, tập trung vào thiết lập hành lang pháp lý đối với giao đất cho hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định.

    Thứ nhất, Luật Đất đai năm 1993 đã cụ thể hóa việc “Nhà nước giao đất cho các tổ chức và cá nhân sử dụng ổn định lâu dài” quy định trong Hiến pháp năm 1992 bằng 2 hình thức: (1) Nhà nước giao đất, cho thuê đất cho các tổ chức kinh tế, đơn vị vũ trang nhân dân, cơ quan Nhà nước, tổ chức chính trị, xã hội, hộ gia đình và cá nhân; (2) Nhà nước cho tổ chức, cá nhân nước ngoài thuê đất. Sau đó, lần sửa đổi năm 1998, 2001, Luật Đất đai đã mở rộng hình thức giao đất (có giao đất không thu tiền sử dụng đất, giao đất có thu tiền sử dụng đất), hình thức cho thuê đất (cho thuê trả tiền thuê đất hàng năm, cho thuê đất trả trước tiền thuê đất nhiều năm mà thời hạn thuê đất đã được trả tiền còn lại ít nhất là 5 năm, cho thuê trả tiền thuê đất 1 lần cho cả thời gian thuê). 

    Thứ hai, để bảo đảm tâm lý sử dụng đất ổn định lâu dài cho người sử dụng đất, Nhà nước tuyên bố các đảm bảo về mặt pháp lý về quyền của tổ chức, hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất; cụ thể, Luật Đất đai năm 1993 quy định nội dung chính là: (1) Nhà nước có thẩm quyền xét và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; (2) Nhà nước không thừa nhận việc đòi lại đất đã giao cho người khác sử dụng trong quá trình thực hiện chính sách đất đai của Nhà nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam và Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

    Như vậy có thể thấy, so với Luật Đất đai năm 1987 thì Luật Đất đai năm 1993 có thêm nhiều quy định mới, đặc biệt là các quy định liên quan đến việc mở rộng quyền cho người sử dụng đất. Nhưng đồng thời cũng dễ dàng nhận ra những xung đột về lợi ích trong các quy định tại luật này hãy còn nhiều, cần được xem xét.

    4. Luật Đất đai sửa đổi năm 1998 và năm 2001

    Ngày 02-12-1998 Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Đất đai được ban hành và Ngày 01-10-2001 tiếp tục sửa đổi một số điều của Luật Đất đai. Qua những lần sửa đổi, bổ sung này, vấn đề quyền của người sử dụng đất cũng đã có sự bổ sung, mở rộng hợp lý hơn tương đối rõ rệt. Với quy định giao đất cho hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất ổn định lâu dài, pháp Luật Đất đai không ngừng mở rộng các quyền của người sử dụng đất: đó là quyền chuyển đổi, quyền chuyển nhượng, quyền cho thuê, quyền thừa kế và quyền thế chấp quyền sử dụng đất đến việc bổ sung hai quyền năng, đó là quyền cho thuê lại và quyền góp vốn bằng quyền sử dụng đất. Đó là những quyền của người sử dụng đất không thay đổi từ Luật Đất đai sửa đổi 1998 giống với Luật Đất đai sửa đổi năm 2001.Tuy nhiên so với luật sửa đổi cũ thì Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đất đai năm 2001 ra đời bổ sung quyền bảo lãnh bằng quyền sử dụng đất cho người sử dụng đất. Luật Đất đai sửa đổi năm 2001 quy định: “Tổ chức kinh tế, hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất có quyền thế chấp giá trị quyền sử dụng đất theo quy định của Luật Đất đai, thì được thế chấp hoặc bảo lãnh bằng giá trị quyền sử dụng đất, tài sản thuộc sở hữu của mình gắn liền với đất đó tại tổ chức tín dụng được phép hoạt động tại Việt Nam.” Có thể thấy việc bổ sung thêm những quyền của người sử dụng đất của Luật Đất đai sửa đổi 1998 đến Luật Đất đai sửa đổi 2001 cho thấy sự mở rộng rõ rệt về quyền của người sử dụng đất, tạo cho người sử dụng đất những thuận lợi trong các giao dịch, từ đó có thể tận dụng triệt để những quyền lợi từ đất, phù hợp hơn với nền kinh tế đang phát triển theo hướng kinh tế thị trường của nước ta lúc bấy giờ.

    5. Luật Đất đai năm 2003 

    Quyền lựa chọn hình thức giao đất, thuê đất là một quyền mới được bổ sung trong Luật Đất đai 2003 so với Luật Đất đai 2001, thể hiện sự tôn trọng của nhà nước đối với quyền tự do lựa chọn hình thức sử dụng đất cho phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh thực tế của người sử dụng. Đây là một minh chứng cho việc pháp Luật Đất đai luôn quan tâm và bảo hộ quyền, lợi ích hợp pháp cho người sử dụng đất, tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình sử dụng đất. Hơn nữa, quy định này ra đời còn phúc đáp các đòi hỏi của việc sử dụng đất trong điều kiện kinh tế thị trường. 

    6. Luật Đất đai năm 2013

    Luật Đất đai hiện hành là Luật Đất đai năm 2013 được hoàn thiện theo hướng quy định cụ thể các quyền, nghĩa vụ của từng đối tượng sử dụng đất (cơ quan, tổ chức nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức sự nghiệp công lập, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, hộ gia đình, cá nhân, …) phù hợp với các hình thức giao đất, thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất và quy định các điều kiện khi người sử dụng đất thực hiện các quyền của người sử dụng đất. Sau khi đưa ra các quyền lợi chung của người sử dụng đất, là sự kế thừa và phát triển của các đạo Luật Đất đai cũ, pháp Luật Đất đai năm 2013 đặc biệt quan tâm, cụ thể hóa đồng thời mở rộng các quyền của người sử dụng đất trong vấn đề chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho, thế chấp, góp vốn quyền sử dụng đất.

    Luật Đất đai năm 2013 cũng không giới hạn mục đích thế chấp quyền sử dụng đất chỉ để vay vốn sản xuất kinh doanh như Luật Đất đai năm 2003: Theo điểm g Khoản 01 Điều 179 Luật Đất đai năm 2013: “Thế chấp quyền sử dụng đất tại tổ chức tín dụng được phép hoạt động tại Việt Nam, tại tổ chức kinh tế khác hoặc cá nhân theo quy định của pháp luật”. Bên cạnh đó, Luật Đất đai năm 2013 bổ sung quy định về quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất đối với trường hợp được miễn, giảm tiền sử dụng đất, tiền thuê đất; quyền của tổ chức kinh tế nhập góp vốn bằng giá trị quyền sử dụng đất; quyền tự đầu tư trên đất của hộ gia đình, cá nhân. Pháp luật nước ta còn dành ra một điều luật 172 về Quyền lựa chọn hình thức trả tiền thuê đất v.v…. Ngoài ra, về điều kiện thực hiện các quyền của người sử dụng đất cũng được bổ sung để làm rõ ràng hơn việc thực thi quyền của người sử dụng đất trong thực tế. 

    II. Đánh giá về việc tổ chức thực thi quyền của người sử dụng đất trên thực tế thời gian qua.

    Như vậy, với các lập luận như trên, có thể nhận thấy rằng, các quyền cho người sử dụng đất ngày càng được quan tâm mở rộng theo từng giai đoạn phát triển của pháp luật đất đai. Hiện nay, theo Điều 5 của Luật Đất đai 2013, thì “Người sử dụng đất” được quy định bao gồm các đối tượng cụ thể như sau: 

    “Người sử dụng đất được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất, nhận chuyển quyền sử dụng đất theo quy định của Luật này, bao gồm:

    1. Tổ chức trong nước gồm cơ quan nhà nước, đơn vị vũ trang nhân dân, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức kinh tế, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, tổ chức sự nghiệp công lập và tổ chức khác theo quy định của pháp luật về dân sự (sau đây gọi chung là tổ chức);

    2. Hộ gia đình, cá nhân trong nước (sau đây gọi chung là hộ gia đình, cá nhân);

    3. Cộng đồng dân cư gồm cộng đồng người Việt Nam sinh sống trên cùng địa bàn thôn, làng, ấp, bản, buôn, phum, sóc, tổ dân phố và điểm dân cư tương tự có cùng phong tục, tập quán hoặc có chung dòng họ;

    4. Cơ sở tôn giáo gồm chùa, nhà thờ, nhà nguyện, thánh thất, thánh đường, niệm phật đường, tu viện, trường đào tạo riêng của tôn giáo, trụ sở của tổ chức tôn giáo và cơ sở khác của tôn giáo;

    5. Tổ chức nước ngoài có chức năng ngoại giao gồm cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan lãnh sự, cơ quan đại diện khác của nước ngoài có chức năng ngoại giao được Chính phủ Việt Nam thừa nhận; cơ quan đại diện của tổ chức thuộc Liên hợp quốc, cơ quan hoặc tổ chức liên chính phủ, cơ quan đại diện của tổ chức liên chính phủ;

    6. Người Việt Nam định cư ở nước ngoài theo quy định của pháp luật về quốc tịch;

    7. Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài gồm doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài, doanh nghiệp liên doanh, doanh nghiệp Việt Nam mà nhà đầu tư nước ngoài mua cổ phần, sáp nhập, mua lại theo quy định của pháp luật về đầu tư”.

    Trên cơ sở quy định rõ những đối tượng nào được quyền sử dụng đất ở Việt Nam, Luật Đất đai 2013 đã ghi nhận các quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất tại Chương 11 (từ Điều 166 đến Điều 194). Trên thực tế, từ khi có hiệu lực đến nay, việc tổ chức thực thi quyền của người sử dụng đất đã có nhiều kết quả tích cực, và tất nhiên, cũng có nhiều điểm bất cập, hạn chế trong quy định của pháp luật cũng như trong tổ chức thực hiện. Dưới đây là một số đánh giá cơ bản về việc tổ chức thực thi quyền của người sử dụng đất trên thực tế thời gian qua: 

    Một là, việc đảm bảo thực hiện các quyền chung của người sử dụng đất được quy định tại Điều 166 của Luật Đất đai 2013 ngày càng phát huy hiệu quả. Điều này được thể hiện trong các quy định của pháp luật cũng như trong tổ chức thực hiện trên thực tiễn. Cụ thể là, trong việc đảm bảo các quyền quan trọng của người sử dụng đất như: cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất (từ đây gọi tắt là GCN); hay việc bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất; việc giải quyết khiếu kiện, tranh chấp về đất đai và bảo hộ người sử dụng đất hợp pháp khi quyền và lợi ích hợp pháp của họ bị xâm phạm. Những quy định của pháp luật trong những lĩnh vực này đã rõ ràng hơn, đầy đủ và chặt chẽ hơn, từ đó, giúp pháp luật được thực hiện một cách hoàn chỉnh và thống nhất, giảm thiểu tối đa tình trạng các cơ quan nhà nước lợi dụng kẽ hở của pháp luật để tùy tiện thu hồi đất của người dân, hay sách nhiễu, cản trở việc cấp GCN cho người sử dụng đất. 

    Tuy nhiên, thực tế tổ chức thực hiện Luật Đất đai 2013, vẫn xuất hiện nhiều điểm bất cập, mà trong đó nguyên nhân chủ yếu là trong việc tổ chức thực hiện các quy định pháp luật của các cơ quan có thẩm quyền. Cụ thể là: tình trạng sai phạm trong thu hồi đất vẫn rất phổ biến ở nhiều vùng nông thôn với một số dạng sai phạm phổ biến như: thu hồi sai thẩm quyền, không thông báo cho người có đất bị thu hồi, ... hoặc nếu không có sai phạm trong thu hồi đất, thì cũng có tình trạng các cơ quan nhà nước cùng chủ đầu tư dự án đưa ra phương án bồi thường, hỗ trợ tái định cư bất hợp lý, hoặc còn mang tính hình thức. Việc cấp GCN còn có tình trạng gây khó khăn cho người sử dụng đất. Ngoài ra, tình trạng khiếu kiện, tranh chấp đất đai vẫn chiếm một tỉ trọng lớn trong số các vụ khiếu kiện, tranh chấp do Tòa án và UBND các cấp giải quyết. Ở một số nơi, nhất là những vùng ven các đô thị lớn có đông dân cư sinh sống, tình trạng lấn, chiếm đất hoặc xây dựng không phép trên đất thuộc quyền sử dụng của người khác vẫn phổ biến, nhưng cơ quan nhà nước lại chưa có biện pháp hiệu quả để xử lý tình trạng này. Những thực trạng nói trên đã ảnh hưởng lớn đến việc thực hiện quyền của người sử dụng đất, làm cho họ khó có thể bảo đảm tốt nhất các quyền của mình, mặc dù, pháp luật quy định cho họ có những quyền đó. 

    Hai là, việc hoàn thiện các quy định về quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho, thế chấp, góp vốn quyền sử dụng đất cũng như nhận quyền sử dụng đất; cùng với việc hoàn thiện hơn nữa các quy định của pháp luật về nhà ở, kinh doanh bất động sản và việc tổ chức thực hiện các quy định của pháp luật trong lĩnh vực này một cách chặt chẽ và hiệu quả trong khoảng thời gian gần đây đã tạo điều kiện lớn cho sự hình thành và phát triển mạnh mẽ của thị trường bất động sản trong nước, đáp ứng được yêu cầu của người dân và doanh nghiệp khi có nhu cầu về đất nông nghiệp, đất ở, đất sản xuất kinh doanh. Các giao dịch chuyển nhượng, thuê quyền sử dụng đất, giao dịch thế chấp bằng quyền sử dụng đất cũng ngày càng tăng lên. Ngày càng nhiều hình thức bất động sản mới ra đời, đáp ứng tối đa nhu cầu ngày càng đa dạng của người sử dụng đất. 

    Mặc dù đã được quy định chặt chẽ hơn so với các văn bản pháp Luật Đất đai trước đây, nhưng Luật Đất đai 2013 vẫn có một số bất cập trong việc ghi nhận những quyền nói trên của người sử dụng đất. Điển hình như: Khoản 3 Điều 191 Luật Đất đai năm 2013 quy định “Hộ gia đình, cá nhân không trực tiếp sản xuất nông nghiệp không được nhận chuyển nhượng, nhận tặng cho quyền sử dụng đất trồng lúa” mâu thuẫn với quy định của Hiến pháp 2013 - văn bản có hiệu lực pháp lý cao nhất trong hệ thống pháp luật quốc gia. Cụ thể là, Khoản 2 Điều 32 Hiến pháp năm 2013 quy định: “…quyền thừa kế được pháp luật bảo hộ”. Nghĩa là Hiến pháp văn bản có giá trị pháp lý cao nhất, không quy định cấm hộ gia đình, cá nhân không trực tiếp làm nông nghiệp thì không được nhận tặng cho quyền sử dụng đất trồng lúa. 

    Ba là, các quy định của pháp luật về quyền của người sử dụng đất được tách bạch, rõ ràng thành từng nhóm đối tượng cụ thể; trong đó mỗi nhóm đối tượng người sử dụng đất lại có những quyền và lợi ích hợp pháp riêng được luật định phù hợp với mục đích sử dụng đất của họ. Những quy định này đã tạo điều kiện để người sử dụng đất có thể khai thác tối đa nguồn tài nguyên đất đai vào các mục đích riêng, phù hợp với quy định của pháp luật lại vừa phù hợp với mong muốn của họ. Nhờ đó, thể hiện một bước tiến của Luật Đất đai Việt Nam, theo hướng chuyển dần từ việc quy định theo hướng ưu tiên cho việc quản lý hành chính về đất đai của Nhà nước sang quy định theo hướng lấy người sử dụng đất làm trung tâm, nhưng vẫn đảm bảo chế độ sở hữu toàn dân về đất đai do Nhà nước làm đại diện chủ sở hữu. 

    Tuy nhiên, việc tổ chức thực hiện vẫn còn nhiều đối tượng gặp khó khăn trong việc sử dụng đất đai ở Việt Nam, nếu chiếu theo quy định pháp luật hiện hành. Điển hình như: đối với nhóm người Việt định cư ở nước ngoài, các quy định về quyền và nghĩa vụ của họ khi thuê đất trả tiền thuê đất hằng năm còn hạn chế, việc xác định thời hạn sử dụng đất cho người nước ngoài, doanh nghiệp nước ngoài đầu tư vào Việt Nam còn chưa thực sự phù hợp với thực tiễn của từng dự án đầu tư do họ thực hiện, …. Những quy định này đã hạn chế một phần những quyền và lợi ích chính đáng của những người sử dụng đất, và đối với những nhà đầu tư nước ngoài, những hạn chế trong các quy định về đất đai có thể là một hạn chế lớn trong chính sách thu hút đầu tư, phát triển kinh tế của Việt Nam trong bối cảnh hiện nay. 

    III. Ý kiến đóng góp hoàn thiện vấn đề tổ chức thực thi quyền của người sử dụng đất trên thực tế

    Thứ nhất, cần tiến tới việc quy định cho người Việt Nam định cư ở nước ngoài được hưởng những quyền sử dụng đất giống như cá nhân, tổ chức trong nước, bởi lẽ họ là một bộ phận không thể tách rời của cộng đồng người Việt Nam. Điều này cũng thúc đẩy tiềm lực kinh tế và tiềm lực trí tuệ của cộng đồng người Việt Nam định cư ở nước ngoài, tạo thêm lòng tin và động lực cho việc đầu tư của họ về Việt Nam. 

    Thứ hai, thời hạn thuê đất pháp luật quy định cho phép là từ 50-70 năm; trong khi thực tế có nhiều loại dự án đầu tư cần nhiều thời gian hơn để tiếp tục sản xuất kinh doanh sinh lời. Do đó, cần thiết phải quy định thêm về thời hạn sử dụng đất đối với các dự án này để tạo điều kiện cho các nhà đầu tư khi thực hiện dự án đầu tư.

    Thứ ba, cần đơn giản hóa, minh bạch hóa thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để người sử dụng đất có thể tiếp cận dễ dàng hơn.

    Thứ tư, các cấp có thẩm quyền cần nỗ lực thanh tra, kiểm tra, phát hiện, thu hồi các diện tích do nhà nước giao, cho thuê mà chủ dự án không sử dụng, sử dụng không đúng mục đích, sử dụng không có hiệu quả hoặc chưa khai thác hết tiềm năng của đất. Khi kiểm tra, phát hiện phải kiên quyết xử lý, thu hồi, tránh tình trạng nhân nhượng cho các chủ đầu tư, lo ngại ảnh hưởng tới thu hút vốn đầu tư. Bên cạnh đó việc thu hồi phải trong quy hoạch, kế hoạch của địa phương, không được thu hồi tùy tiện, ảnh hưởng tới quyền và lợi ích của người sử dụng đất.

    Thứ năm, cần sửa đổi, thay thế các quy định về việc nhà nước giao đất, cho thuê đất cho tổ chức kinh tế theo cơ chế hành chính xin – cho bằng các quy định nhà nước đấu giá, đấu thầu quyền sử dụng đất. Từ đó góp phần thúc đẩy thị trường sơ cấp về quyền sử dụng đất và tạo cơ hội hình đẳng cho các tổ chức kinh tế thuộc mọi thành phần kinh tế tiếp cận sử dụng đất đai. Bên cạnh đó, nhà nước cần tiếp tục rà soát, sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện quy định về trình tự, thủ tục đấu giá, đấu thầu quyền sử dụng đất theo hướng đơn giản, minh bạch, công khai, ngăn ngừa và xử lý nghiêm những hành vi cấu kết, thông đồng, móc ngoặc làm sai lệch, méo mó bản chất của hoạt động đấu giá, đấu thầu quyền sử dụng đất, góp phần nâng cao tính cạnh tranh lành mạnh, công bằng của thị trường bất động sản.

    Thứ sáu, cần bổ sung các quy định về phát triển thị trường thứ cấp về quyền sử dụng đất theo hướng để các tổ chức kinh tế có quyền sử dụng đất hợp pháp được tự do chuyển nhượng quyền sử dụng đất, cho phép các tổ chức kinh tế không phân biệt thành phần kinh tế được tự do nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất của tổ chức, hộ gia đình, cá nhân đáp ứng nhu cầu hoạt động sản xuất, kinh doanh.

    KẾT LUẬN

    Việc mở rộng quyền cho người sử dụng đất đã mang lại những kết quả to lớn giúp cho việc sử dụng đất đai ngày càng hiệu quả. Làm cho người sử dụng đất gắn bó hơn với đất đai, yên tâm đầu tư, phát triển sản xuất, kinh doanh để tăng hiệu quả sử dụng đất, mặt khác tạo môi trường thu hút vốn đầu tư nước ngoài phục vụ mục tiêu phát triển kinh tế. Vấn đề đặt ra hiện nay là ngày càng càng mở rộng hơn nữa quyền năng hợp lý của người sử dụng đất, nâng cao hiệu quả quản lý Nhà nước đối với đất đai, đơn giản hóa thủ tục hành chính để người dân tiếp cận được với các quyền của mình một cách nhanh nhất, đơn giản nhất mà Nhà nước vẫn đảm bảo được các quyền đó thực hiện trong khuôn khổ của pháp luật.

    Trong quá trình hoàn thiện bài tập, do vẫn còn nhiều hạn chế về kiến thức nên không tránh khỏi những khiếm khuyết, kính mong nhận được sự nhận xét và đóng góp ý kiến từ phía các thầy cô để bài làm của nhóm chúng em được hoàn thiện hơn.

    Chúng em xin chân thành cảm ơn!

    DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

    1. Giáo trình Luật Đất đai, Trường Đại học luật Hà Nội, NXB Công an nhân dân, 2016.

    2. Nguyễn Ngọc Trâm, TS. Nguyễn Thị Dung hướng dẫn, Pháp luật về quyền và nghĩa vụ của người Việt Nam định cư ở nước ngoài sử dụng đất ở Việt Nam, Luận văn thạc sĩ luật học, 2016

    3. Nguyễn Ngọc Minh, PGS.TS. Hoàng Thế Liên, PGS.TS. Nguyễn Quang Tuyến hướng dẫn, Pháp luật về quyền và nghĩa vụ của tổ chức kinh tế trong sử dụng đất, Luận án tiến sĩ luật học, 2016

    4. Trần Vang Phú, Trần Thụy Quốc Thái, Hoàn thiện quy định pháp luật về quyền sử dụng đất ở, nhà ở của người Việt Nam định cư ở nước ngoài, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp số 4 (404)/Kỳ 2, tháng 2/2020, trang 38 – 42

    5. https://luatsudfc.vn/luat-dat-dai-nam-1987.html - Những điểm nổi bật của Luật Đất đainăm 1987.

    6. http://luathongbang.com.vn/quyen-va-nghia-vu-cua-nguoi-su-dung-dat-tu-nam-1993-den-nay__trashed/

    7. https://thuvienphapluat.vn/tintuc/vn/thoi-su-phap-luat/nha-dat/2678/sua-doi-luat-dat-dai-can-mot-tam-nhin-xa-hon-va-sach-hon

    Xem thêm: TỔNG HỢP BÀI TẬP NHÓM - BÀI TẬP LỚN - BÀI TẬP CÁ NHÂN - TIỂU LUẬN CÁC MÔN HLU

    Nếu bạn thấy những chia sẻ của mình hữu ích thì có thể donate ủng hộ mình 01 ly trà sữa nha: BIDV 4603463395

    Continue Reading

    Đề bài: 

    Giải thích rõ việc xác định chủ thể ban hành văn bản pháp luật, loại văn bản pháp luật được lựa chọn, căn cứ pháp lý để ban hành văn bản pháp luật và soạn thảo hoàn chỉnh dự thảo văn bản pháp luật để giải công việc: Phê chuẩn kết quả bầu bổ sung Chủ tịch UBND thành phố H, nhiệm kỳ 2016-2021 đối với ông Nguyễn Trọng T sinh ngày 25 tháng 4 năm 1974.



    MỞ ĐẦU

    Việc ban hành văn bản pháp luật để giải quyết các công việc thuộc chức năng nhiệm vụ quyền hạn của mỗi chủ thể có ý nghĩa rất quan trọng bởi nó tác động sâu sắc tới đời sống kinh tế, xã hội, đặc biệt là quyền và lợi ích hợp pháp của người dân. Để văn bản được ban hành một cách chính xác và hiệu quả thì văn bản được ban hành không những phải đảm bảo hợp lý, hợp pháp về mặt nội dung mà hình thức văn bản cũng phải đúng theo quy định của pháp luật. 

    Để cụ thể hơn về vấn đề này, sau đây em xin trình bày đề tài: “Giải thích rõ việc xác định chủ thể ban hành văn bản pháp luật, loại văn bản pháp luật được lựa chọn, căn cứ pháp lý để ban hành văn bản pháp luật và soạn thảo hoàn chỉnh dự thảo văn bản pháp luật để giải công việc: Phê chuẩn kết quả bầu bổ sung Chủ tịch UBND thành phố H, nhiệm kỳ 2016-2021 đối với ông Nguyễn Trọng T sinh ngày 25 tháng 4 năm 1974.” 

    Như ta đã biết, ở Việt Nam, chính quyền địa phương được chia làm 3 cấp: cấp tỉnh, cấp huyện và cấp xã. Trong đó, cấp tỉnh bao gồm tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; cấp huyện bao gồm huyện, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh. Như vậy, thành phố H ở đây có thể được hiểu là thành phố trực thuộc trung ương hoặc thành phố trực thuộc tỉnh. Tuy nhiên, do giới hạn của bài làm, em xin phép được chọn thành phố H là thành phố trực thuộc trung ương.

    NỘI DUNG

    I. Về chủ thể ban hành

    Văn bản pháp luật là hình thức thể hiện ý chí của Nhà nước, được ban hành theo hình thức, thủ tục do pháp luật quy định, luôn mang tính bắt buộc và được bảo đảm thực hiện bởi Nhà nước.

    Văn bản pháp luật phải được ban hành bởi các chủ thể có thẩm quyền. Thẩm quyền ban hành văn bản pháp luật là giới hạn quyền lực do pháp luật quy định cho chủ thể ban hành văn bản pháp luật để giải quyết những vấn đề thuộc chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn. Thẩm quyền ban hành văn bản pháp luật bao gồm thẩm quyền hình thức và thẩm quyền nội dung.

    Thẩm quyền hình thức được hiểu là các chủ thể ban hành văn bản pháp luật đúng tên gọi do pháp luật quy định. Mỗi cá nhân, cơ quan có thẩm quyền chỉ được ban hành một hoặc một số hình thức văn bản do pháp luật quy định.

    Thẩm quyền nội dung là giới hạn quyền lực của các chủ thể trong quá trình giải quyết công việc do pháp luật quy định. Chủ thể ban hành văn bản pháp luật giải quyết công việc phát sinh thuộc phạm vi chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn mà pháp luật quy định.

    Việc xác định đúng thẩm quyền giải quyết công việc phát sinh theo quy định của pháp luật hiện hành có ý nghĩa rất quan trọng vì nếu văn bản áp dụng pháp luật được ban hành trái thẩm quyền thì sẽ không có hiệu lực pháp luật và sẽ bị cấp có thẩm quyền hủy bỏ.

    Đối với công việc cụ thể là Phê chuẩn kết quả bầu bổ sung Chủ tịch UBND thành phố H, Khoản 3 điều 98 Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy định:

    “Thủ tướng Chính phủ có những nhiệm vụ và quyền hạn sau đây:

    3. Trình Quốc hội phê chuẩn đề nghị bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Phó Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng và Thành viên khác của Chính phủ; bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Thứ trưởng, chức vụ tương đương thuộc bộ, cơ quan ngang bộ; phê chuẩn việc bầu, miễn nhiệm và quyết định điều động, cách chức Chủ tịch, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương.”

    Bên cạnh đó, Khoản 7 điều 28 Luật Tổ chức chính phủ 2015 cũng quy định về thẩm quyền của Thủ tướng: 

    “Phê chuẩn việc bầu, miễn nhiệm và quyết định điều động, đình chỉ công tác, cách chức Chủ tịch, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh. Yêu cầu Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh đình chỉ công tác, cách chức Chủ tịch, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp dưới khi không hoàn thành nhiệm vụ được cấp có thẩm quyền giao hoặc vi phạm pháp luật.”

    Như vậy ta có thể thấy thẩm quyền phê chuẩn kết quả bầu bổ sung Chủ tịch UBND thành phố H thuộc về Thủ tướng Chính phủ.

    II. Về loại văn bản

    Khoản 2 điều 30 Luật tổ chức Chính phủ 2015 quy định thẩm quyền ban hành văn bản của Thủ tưởng chính phủ: “Thủ tướng Chính phủ thay mặt Chính phủ ký các văn bản của Chính phủ; ban hành quyết định, chỉ thị và hướng dẫn, kiểm tra việc thi hành các văn bản đó trong hệ thống các cơ quan hành chính nhà nước từ trung ương đến địa phương.”

    Như vậy, Thủ tướng chính phủ có thẩm quyền ban hành chỉ thị và quyết định.

    Mà theo thông tư số 33-BT ngày 10 tháng 12 năm 1992 của bộ trưởng, chủ nhiệm văn phòng chính phủ hướng dẫn về hình thức văn bản và việc ban hành văn bản của các cơ quan hành chính Nhà nước quy định: “Quyết định của Thủ tướng Chính phủ để … phê chuẩn việc bầu cử thành viên Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương….”

    Như vậy loại văn bản được dùng để phê chuẩn kết quả bầu bổ sung Chủ tịch UBND thành phố H là Quyết định của Thủ tướng Chính phủ.

    III. Về căn cứ pháp lý

    Căn cứ pháp lý được xem như một công cụ hữu hiệu xuyên suốt quá trình kiểm tra văn bản PL, là cơ sở để kiểm tra tính hợp hiến, hợp pháp, tính thống nhất của văn bản. Căn cứ pháp lý có ý nghĩa rất quan trọng trong quá trình soạn thảo, ban hành văn bản PL. 

    Để được chọn làm căn cứ pháp lý cho Quyết định, văn bản pháp luật được viện dẫn phải là văn bản Quy phạm pháp luật hoặc văn bản áp dụng pháp luật đang có hiệu lực pháp luật và có liên quan trực tiếp đến thẩm quyền và nội dung của dự thảo Quyết định.

    Do chủ thể có thẩm quyền ban hành văn bản là Thủ tướng Chính phủ nên Luật Tổ chức Chính phủ ngày 19 tháng 6 năm 2015 là một căn cứ pháp lý của Quyết định

    Do UBND thành phố H thuộc chính quyền địa phương cấp tỉnh nên Luật Tổ chức chính quyền địa phương ngày 19 tháng 6 năm 2015 cũng là một căn cứ pháp lý của Quyết định.

    Mặt khác, do công việc liên quan trực tiếp đến Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố H nên một căn cứ pháp lý khác của Quyết định là Nghị định số 08/2016/NĐ-CP ngày 25 tháng 01 năm 2016 của Chính phủ quy định số lượng Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân và quy trình, thủ tục bầu, từ chức, miễn nhiệm, bãi nhiệm, điều động, cách chức thành viên Ủy ban nhân dân;

    IV. Soạn thảo văn bản

    THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ

    CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

    Độc lập – Tự do – Hạnh phúc


    Số: … /QĐ-TTg

    Hà Nội, ngày … tháng … năm ...


    QUYẾT ĐỊNH

    Phê chuẩn kết quả bầu bổ sung chức vụ Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố H nhiệm kỳ 2016 – 2021

    THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ

    Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 19 tháng 6 năm 2015;

    Căn cứ Luật Tổ chức chính quyền địa phương ngày 19 tháng 6 năm 2015; 

    Căn cứ Nghị định số 08/2016/NĐ-CP ngày 25 tháng 01 năm 2016 của Chính phủ quy định số lượng Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân và quy trình, thủ tục bầu, từ chức, miễn nhiệm, bãi nhiệm, điều động, cách chức thành viên Ủy ban nhân dân;

    Xét đề nghị của Thường trực Hội đồng nhân dân Thành phố H tại Tờ trình số …/TTr-HĐND ngày … tháng … năm … và đề nghị của Bộ trưởng Bộ Nội vụ tại Tờ trình số …/TTr-BNV ngày … tháng … năm …,

    QUYẾT ĐỊNH:

    Điều 1. Phê chuẩn kết quả bầu bổ sung chức vụ Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố H nhiệm kỳ 2016 - 2021 đối với ông Nguyễn Trọng T, sinh ngày 25 tháng 4 năm 1974.

    Điều 2. Bộ trưởng Bộ Nội vụ, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân thành phố H và ông Nguyễn Trọng T chịu trách nhiệm thi hành Quyết định này.

    Điều 3. Quyết định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày ký ban hành./.

    Nơi nhận:

    - Như Điều 2;

    - Thủ tướng, các Phó Thủ tướng CP;

    - Ban Tổ chức Trung ương;

    - VPCP: BTCN, các PCN, Trợ lý TTgCP, VPBCSĐCP, TCCV, TGĐ Cổng TTĐT;

    - Lưu: VT, QHĐP

    THỦ TƯỚNG

     

     

     

     

     

    KẾT LUẬN

    Soạn thảo và ban hành văn bản pháp luật diễn ra thường xuyên trong hoạt động quản lí của các cơ quan nhà nước từ trung ương đến địa phương, nó có ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả hoạt động quản lí của các cơ quan nhà nước. Việc lựa chọn ra những văn bản pháp luật phù hợp với nội dung công việc, đúng thẩm quyền, hình thức, có căn cứ pháp lí rõ ràng sẽ giúp cho hoạt động quản lí nhà nước diễn ra nhanh chóng hơn, có hiệu quả hơn, góp phần xây dựng một xã hội văn minh, một nhà nước vững mạnh của dân, do dân, vì dân.

    DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

    * Văn bản pháp luật:

    1. Hiến pháp nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam 2013

    2. Luật tổ chức chính phủ 2015

    3. Luật tổ chức chính quyền địa phương 2015

    4. Nghị định số 08/2016/NĐ-CP ngày 25 tháng 01 năm 2016 của Chính phủ quy định số lượng Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân và quy trình, thủ tục bầu, từ chức, miễn nhiệm, bãi nhiệm, điều động, cách chức thành viên Ủy ban nhân dân;

    5. Nghị định 30/2020/NĐ-CP ngày 05 tháng 3 năm 2020 của Chính phủ quy định về công tác văn thư

    6. Thông tư số 33-BT ngày 10 tháng 12 năm 1992 của bộ trưởng, chủ nhiệm văn phòng chính phủ hướng dẫn về hình thức văn bản và việc ban hành văn bản của các cơ quan hành chính Nhà nước

    * Giáo trình:

    7. Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình xây dựng văn bản pháp luật, NXB Tư pháp

    Xem thêm: TỔNG HỢP BÀI TẬP NHÓM - BÀI TẬP LỚN - BÀI TẬP CÁ NHÂN - TIỂU LUẬN CÁC MÔN HLU

    Nếu bạn thấy những chia sẻ của mình hữu ích thì có thể donate ủng hộ mình 01 ly trà sữa nha: BIDV 4603463395

    Continue Reading
    Newer
    Stories
    Older
    Stories

    About me

    REY A law practitioner

    Một người trẻ đam mê và đang trên con đường theo đuổi ngành Luật. Tốt nghiệp Cử nhân Luật tại HLU và đang học Luật sư & Thạc sĩ Luật. Read More

    Donate me

    Nếu bạn thấy những chia sẻ của mình hữu ích thì có thể donate ủng hộ mình 01 ly trà sữa nha:
    BIDV

    Follow me on Facebook

    Follow me on Youtube

    Labels

    CHUYỆN ĐI LÀM (3) ĐỀ THI HẾT MÔN (14) HỌC LUẬT Ở HLU (6) HỌC LUẬT SƯ (6) LUẬT HÀNH CHÍNH (47) LÝ LUẬN CHUNG (111) TIỂU LUẬN (50)

    Cảm ơn đã ghé thăm

    recent posts

    Popular Posts

    • Phân tích đặc trưng cơ bản của nhà nước. Trên cơ sở đó, làm sáng tỏ biểu hiện một đặc trưng của nhà nước Việt Nam hiện nay.
    • 80 CÂU VẤN ĐÁP LÝ LUẬN CHUNG VỀ NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT (có đáp án)

    Blog Archive

    • tháng 8 2025 (1)
    • tháng 6 2024 (2)
    • tháng 3 2024 (2)
    • tháng 2 2024 (1)
    • tháng 1 2024 (8)
    • tháng 10 2023 (30)
    • tháng 9 2023 (115)
    • tháng 8 2023 (73)
    facebook youtube

    Created with by BeautyTemplates

    Back to top